1.1. HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI ĐA PHƯƠNG: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT

1.1.1. Thương mại quốc tế và hội nhập toàn cầu

Trong suốt các thế kỷ 16, 17 và 18, lý thuyết trọng thương có vai trò thống trị trong việc giải thích về thương mại quốc tế. Thế kỷ 19 với sự ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, nhất là lý thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo, thương mại thế giới đã được dẫn dắt theo một chiều hướng khác: chuyên môn hóa và trao đổi, điều đó sẽ mang lại lợi ích cho các quốc gia tham gia thương mại quốc tế và cho nền kinh tế thế giới.

Hệ thống thương mại đa phương đã được thiết lập cùng với việc ký kết Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại vào năm 1947 (GATT 1947). Các lý thuyết thương mại quốc tế đã dẫn dắt và cổ vũ cho xu hướng tự do hóa thương mại trong hệ thống thương mại đa phương. Kể từ năm 1948 đến nay, thương mại quốc tế đã có những bước phát triển nhảy vọt. Năm 1948, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của thế giới đạt 58 tỷ USD và tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 62 tỷ USD. Các con số tương ứng về tổng kim ngạch xuất khẩu và tổng kim ngạch nhập khẩu của năm 1980 là 2.034 tỷ USD và 2.075 tỷ USD, năm 1990 là 3.449 tỷ USD và 3.550 tỷ USD, năm 2000 là 6.452 tỷ USD và 6.724 tỷ USD, và năm 2005 là 10.431 tỷ USD và 10.783 tỷ USD1.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyếngọi:1900 6162

 

Những thập kỷ gần đây đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của toàn cầu hóa. Xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra do nhu cầu hợp tác ngày càng gia tăng giữa các quốc gia trên thế giới. Toàn cầu hóa nói chung đã thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế. Ngược lại trên thực tế thương mại quốc tế, đặc biệt với sự xuất hiện của hệ thống thương mại đa phương, đã có đóng góp rất quan trọng trong việc đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hóa. Theo tác giả Bordo, Taylor và Williamson 2, đứng trên giác độ sự vận động của các luồng thương mại, vốn và di cư, trong lịch sử cận đại đã có bốn làn sóng toàn cầu hóa với những đặc trưng khác nhau. Làn sóng thứ nhất diễn ra từ năm 1870 cho đến khi bắt đầu chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Làn sóng thứ hai diễn ra trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. Làn sóng thứ ba diễn ra từ năm 1945 cho đến khoảng năm 1980. Làn sóng thứ tư từ năm 1980 cho đến nay.

Đặc trưng của làn sóng toàn cầu hóa thứ nhất là việc giảm chi phí vận tải nhờ sự phát triển của hệ thống đường sắt và vận tải biển và việc giảm các rào cản thương mại. Nhờ đó thương mại quốc tế được mở rộng mạnh mẽ thông qua việc trao đổi hàng hóa ở khoảng cách xa hơn và xuyên lục địa. Thời kỳ này còn chứng kiến sự di chuyển vốn quốc tế và những làn sóng di cư từ châu Âu sang châu Mỹ và châu Úc.

Thời kỳ của làn sóng toàn cầu hóa thứ hai là thời kỳ của những rối loạn và khủng hoảng kinh tế. Chủ nghĩa bảo hộ đã làm suy giảm thương mại và di chuyển vốn quốc tế. Trong làn sóng toàn cầu hóa thứ ba tự do hóa thương mại được phục hồi dẫn đến sự tăng trưởng vượt bậc của thương mại và đầu tư quốc tế. Tuy nhiên trong khi thương mại giữa các nước phía Bắc (các nước công nghiệp phát triển) được tự do hóa một cách căn bản thì thương mại Bắc-Nam còn bị ngăn cản bởi những rào cản cả ở các nước đang phát triển và các nước công nghiệp, nhất là đối với các sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm công nghiệp nhẹ. Thương mại Bắc-Bắc chủ yếu là thương mại nội bộ ngành còn thương mại Nam- Bắc chủ yếu là thương mại của việc trao đổi khoáng sản và nông sản để đổi lấy các mặt hàng công nghiệp.

Ở làn sóng toàn cầu hóa thứ tư, các rào cản thương mại Nam-Bắc được dỡ bỏ một cách đáng kể và các nước đang phát triển tham gia mạnh mẽ vào thương mại quốc tế. Đặc trưng nữa của giai đoạn này là thương mại của thế giới tăng trưởng nhanh hơn GDP của thế giới. Cơ cấu thương mại cũng có sự thay đổi một cách căn bản. Rất nhiều nước đang phát triển đã thoát khỏi tình trạng xuất khẩu nông sản và khoáng sản để đổi lấy hàng công nghiệp. Bởi vậy tỷ trọng hàng công nghiệp chế tạo trong hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển đã tăng lên một cách đáng kể. Trong giai đoạn này đầu tư nước ngoài cũng có những tăng trưởng vượt bậc. Tuy nhiên thành quả toàn cầu hóa không phải được chia đều cho các nước đang phát triển. Nhiều nước đang phát triển và kém phát triển chưa tham gia mạnh mẽ và có hiệu quả vào quá trình toàn cầu hóa, do vậy chưa được hưởng lợi nhiều từ toàn cầu hóa. Một số nghiên cứu cho rằng toàn cầu hóa hiện nay đang có dấu hiệu chững lại.3

Như vậy toàn cầu hóa bên cạnh việc mang lại những lợi ích và cơ hội phát triển mới cho các quốc gia còn làm nảy sinh những khó khăn và thách thức cho các nước, đặc biệt là các nước nghèo. Những khó khăn và thách thức nổi bật đó là làm thế nào để phát triển năng lực sản xuất một cách bền vững, cần đa dạng hóa sản xuất như thế nào để bù đắp lại sự suy giảm của hệ số thương mại, bằng cách nào để đáp ứng được nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng, làm thế nào để khai thác những tiến bộ khoa học và công nghệ để đẩy nhanh sự phát triển. Các tổ chức quốc tế cũng như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đang có những nỗ lực giúp các nước nghèo được hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hóa.

1.1.2. Thương mại và các hiệp định thương mại

Mục này sẽ phân tích các lý do về mặt kinh tế khiến một nước tham gia các hiệp định Thương mại quốc tế và trình bày một cách tổng quan về lịch sử của các hiệp định Thương mại quốc tế cũng như vai trò của chúng đối với thương mại quốc tế. Các hiệp định Thương mại quốc tế đã có lịch sử lâu đời, tuy nhiên với mục tiêu của cuốn sách, tác giả chỉ giới hạn sự xem xét của mình ở trình bày các hiệp định Thương mại được ký kết sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II. Đồng thời trong phạm vi của chương này, tác giả cũng không đi sâu trình bày các qui tắc của GATT và WTO liên quan đến các hiệp định Thương mại khu vực, bởi vì nhiệm vụ này sẽ được giải quyết ở các chương sau của cuốn sách.

Trên góc độ kinh tế, có hai lý do chính để một nước tham gia các hiệp định Thương mại quốc tế:

Thứ nhất, xét về mặt lịch sử, trước Chiến tranh Thế giới lần thứ II, các nước đua nhau bảo hộ thương mại và thực thi các chính sách mà kinh tế học quốc tế gọi là “chính sách lợi mình hại người” (beggar-thy- neighbor, các chính sách biến hàng xóm thành kẻ ăn mày). Các hiệp định Thương mại đa phương được ký kết sau chiến tranh có thể giúp các nước giảm thiểu được ảnh hưởng tiêu cực của các chính sách này, cũng có nghĩa là tăng lợi ích của các nước tham gia Hiệp định thương mại. Sự giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực và tăng lợi ích đó có được nhờ sự ràng buộc của việc thực thi các cam kết và các qui tắc trong GATT và WTO. Chẳng hạn như là việc thực thi các cam kết giảm thuế, đặt ra các ràng buộc về thuế quan, dỡ bỏ hạn ngạch, giảm thiểu các rào cản phi thuế quan, thực thi nguyên tắc không phân biệt đối xử, minh bạch và có thể dự đoán, ưu đãi hơn cho các nước đang và kém phát triển v.v…

Thứ hai, việc tham gia các hiệp định Thương mại sẽ thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế, làm cho thương mại trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế. Điều đó được minh chứng bởi các lý thuyết kinh tế học cũng như thực tiễn phát triển kinh tế của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Bên cạnh đó trên thực tế các Chính phủ thường gặp nhiều khó khăn khi đưa ra một quyết sách về thương mại liên quan đến khu vực tư nhân. Những quyết sách đó có thể ảnh hưởng tới quyền lợi của một nhóm lợi ích. Chẳng hạn quyết định giảm bo hộ bằng cách giảm thuế nhập khẩu và cho phép phía nước ngoài gia nhập thị trường nội địa tự do hơn. Những quyết định như vậy thường gặp phải sự chống đối mãnh liệt của các doanh nghiệp trong nước. Trong trường hợp này việc tham gia các hiệp định quốc tế sẽ giúp Chính phủ dễ dàng hơn trong việc đưa ra các quyết định, các chính sách về thương mại liên quan đến khu vực tư nhân. Đây cũng là một lý do quan trọng của việc gia nhập WTO của Việt Nam cũng như của nhiều nước khác.

Hợp tác thương mại truyền thống trước Chiến tranh Thế giới lần thứ II chủ yếu là hợp tác song phương giữa các quốc gia với nhau. Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II xuất hiện thêm các hình thức hợp tác mớilà hợp tác thương mại khu vực và hợp tác thương mại đa phương. Hợp tác thương mại khu vực và hợp tác thương mại song phương (một hình thức của hợp tác thương mại khu vực) có vai trò bổ sung và củng cố cho hợp tác thương mại đa phương. Nhờ đó hệ thống thương mại hoạt động có hiệu quả hơn và trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng và phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển của các hợp tác thương mại khu vực và hợp tác thương mại song phương cũng đặt ra những thách thức đối với hệ thống thương mại đa phương, như việc quản trị mối quan hệ giữa các hợp tác thương mại khác trong hệ thống thương mại đa phương, sự ưu tiên lựa chọn của các nước Thành viên đối với hợp tác song phương và hợp tác khu vực khi đàm phán trong hệ thống thương mại đa phương rơi vào bế tắc.

Các hình thức hợp tác thương mại khác nhau nêu trên được củng cố và phát triển nhờ các hiệp định thương mại. Một cách tổng quan, các hiệp định Thương mại được phân ra các hiệp định Thương mại đa phương và các hiệp định Thương mại ưu đãi hay các hiệp định Thương mại khu vực (gồm Hiệp định Thương mại của khu vực thương mại tự do, liên minh hải quan, liên minh kinh tế). Căn cứ để phân loại các hiệp định Thương mại này là nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN), hay nói đúng hơn là cách thức thực thi nguyên tắc MFN, của GATT và WTO. Hiệp định Thương mại đa phương dựa trên qui tắc chung của nguyên tắc tối huệ quốc, có nghĩa là khi một nước mở cửa thị trường cho một Thành viên thì phải mở cửa thị trường ngay lập tức và không điều kiện cho tất cả các Thành viên khác mà không yêu cầu phải có sự đàm phán của mọi đối tác thương mại. Tuy nhiên qui tắc tối huệ quốc cũng cho phép được duy trì các ngoại lệ ưu đãi hơn trong các hiệp định Thương mại khu vực (RTAs) mà các nước đã ký với nhau trước khi gia nhập GATT/WTO. Đối với các hiệp định Thương mại khu vực, việc thực thi nguyên tắc MFN đạt được thông qua đàm phán và thỏa thuận của mọi đối tác thương mại để đi đến một Hiệp định chung.

Các hiệp định Thương mại đa phương gắn liền với việc ra đời của GATT 1947. Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại được ký kết vào năm 1947 có thể coi là Hiệp định Thương mại đa phương đầu tiên. Việc kết thúc Vòng đàm phán Uruguay vào năm 1994 dẫn đến sự ra đời của WTO đã đánh dấu một bước phát triển về chất của hệ thống Hiệp định Thương mại đa phương. Trong khuôn khổ của WTO, một loạt các hiệp định đa phương và các hiệp định nhiều bên đã được ký kết và có hiệu lực trên thực tế. Các hiệp định này đã tạo cơ sở pháp lý cũng như thể chế hoá và củng cố hệ thống thương mại đa phương.

Vai trò của các hiệp định Thương mại khu vực đối với thương mại khu vực thể hiện ở hai điểm: thứ nhất, nó khuyến khích tự do hoá thương mại; thứ hai, nó tạo cơ sở pháp lý cho việc ra đời các khối thương mại. Cơ sở pháp lý cho việc ra đời các khối thương mại còn được củng cố nhờ các qui tắc của GATT và WTO. Trong GATT (cũng như trong các hiệp định của WTO) có các điều khoản ngoại lệ về ưu đãi khi thực hiện nguyên tắc MFN. Điều XXIV của GATT còn đưa ra các điều kiện cho việc hình thành các liên minh hải quan và khu vực thương mại tự do.

Một trong các khối thương mại ra đời sớm nhất vào năm 1951 là Cộng đồng than thép châu Âu (ESCC), gồm sáu nước Đức, Hà Lan, Bỉ, Lucxembourg, Ý và Pháp. ESCC phát triển thành Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) vào năm 1958. Với việc ký kết Hiệp định Maastricht để thành lập Liên minh châu Âu (EU) vào năm 1992, EU đã ra đời thay thế EEC và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 1 tháng 11 năm 1993. Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) được ký kết vào năm 1992 dẫn đến sự ra đời của khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ gồm Canada, Mỹ và Mêhicô. Năm 1992 các nước ASEAN ký kết Hiệp định thành lập khu vực thương mại do ASEAN (AFTA). Hiệp định chính thức có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 1993. Đến nay khu vực thương mại tự do ASEAN, về cơ bản, đã hình thành với việc bảy nước ASEAN (Thái Lan, Xingapore, Indonesia, Malaysia, Brunây, Philippines và Việt Nam) đã hoàn thành chương trình cắt giảm thuế quan đối với hầu hết các hàng hóa trừ một số ít hàng hóa thuộc diện tạm thời chưa cắt giảm và loại trừ hoàn toàn. Các khối thương mại và kinh tế điển hình khác gồm: Cộng đồng Andex (ANCOM), Liên minh châu Phi (AU), Thị trường chung Trung Mỹ (CACM), Cộng đồng và thị trường chung Caribê (CARICOM), Cộng đồng kinh tế và tiền tệ Trung Mỹ (CEMAC), Thị trường chung Đông và Nam Phi (COMESA), Cộng đồng Đông Phi (EAC), Cộng đồng kinh tế của các quốc gia Trung Phi (ECCAS), Khu vực thương mại tự do các nước châu Mỹ (FTAA), Khu vực thương mại tự do Mỹ latinh (LAFTA), Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR),

Hiệp định Thương mại của các quốc đảo Thái Bình Dương (PICTA), và Cộng đồng hợp tác khu vực Nam Á (SAARC). Sự gia tăng ký kết các hiệp định Thương mại khu vực đã làm cho thương mại nội vùng trở nên rất quan trọng, chiếm tới 40% nhập khẩu của thế giới vào năm 2000 và 50% vào năm 20054.

Hiệp định Thương mại song phương là Hiệp định được ký kết giữa hai thực thể chính trị, bởi vậy chỉ có giá trị ràng buộc hai bên ký kết. Các quốc gia và các khối kinh tế – thương mại chủ chốt của thế giới hiện nay như Mỹ, EU, Nhật Bản, Singapore, v.v… đều có khuynh hướng coi trọng ký kết các hiệp định Thương mại song phương và Hiệp định Thương mại tự do song phương. Mỹ đã ký kết các hiệp định Thương mại tự do với nhiều nước như Israel, Jordanie, Morocco, Chilê, Singapore, Hàn Quốc, Úc.5 Đến nay EU đã ký các hiệp định Thương mại tự do với nhiều nước và vùng lãnh thổ như Đan Mạch, Thụy Sỹ, Mêhicô, Nam Phi, Israel v.v…6 Ở Đông Á, các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Hiệp định khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA). Để xúc tiến việc thi hành Hiệp định này, các nước ASEAN và Trung Quốc đã thống nhất thực hiện chương trình thu hoạch sớm (EHP). Khi khu vực thương mại tự do này trở thành hiện thực thì đây sẽ là khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới.

Việt Nam, theo Vụ Pháp chế, Bộ Thương mại, đến nay đã ký kết 74 Hiệp định Thương mại song phương với các nước và vùng lãnh thổ. Trong số các hiệp định đó, Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) là một trong các hiệp định có vai trò quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng thương mại của Việt Nam. Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết vào tháng 7 năm 2000 và có hiệu lực vào tháng 12 năm 2001. Với Hiệp định này, thuế suất đánh vào hàng hoá nhập khẩu từ Việt Nam trong biểu thuế của Hoa Kỳ đã chuyển từ cột

2 (không ưu đãi MFN) sang cột 1 ở mức ưu đãi chung (MFN), với mức giảm bình quân khoảng 40%. Bởi vậy BTA đã tạo ra sự nhảy vọt trong xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ, và Hoa Kỳ hiện nay là nước nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. Hiện nay Việt Nam đang xúc tiến đàm phán để ký kết Hiệp định Thương mại tự do với Nhật Bản.

1.1.3. Chức năng của hệ thống thương mại đa phương

Như đã nhắc tới ở phần trên, với việc ký kết Hiệp định GATT, hệ thống thương mại đa phương đã chính thức được khai sinh. Đây là hệ thống thương mại có phạm vi toàn cầu với sự tham gia của các nước và các nền kinh tế của các châu lục. Khác với thương mại khu vực và thương mại song phương, được điều chỉnh bởi các qui tắc được qui định trong các hiệp định Thương mại khu vực và song phương, hệ thống thương mại đa phương được điều chỉnh bởi các qui tắc được qui định trong GATT trước đây và trong các hiệp định của WTO ngày nay. Hệ thống thương mại đa phương có các chức năng cơ bản sau:

- Xóa bỏ sự phân biệt đối xử. Việc xóa bỏ sự phân biệt đối xử này được bảo đảm bằng qui tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT) được quy định trong Hiệp định GATT năm 1947 và trong các hiệp định của WTO. Không phân biệt đối xử đặc biệt có lợi cho các nước đang phát triển và kém phát triển, là những nước có vị thế yếu trên trường thương mại quốc tế.

- Ràng buộc các nước Thành viên trong một khuôn khổ chung bởi các qui tắc tự do hóa thương mại. Thực tế từ năm 1947 đến nay hệ thống thương mại đa phương đã vận hành theo xu hướng này thông qua việc các Thành viên của WTO thống nhất cắt giảm các rào cản thương mại và mở cửa thị trường.

- Giải quyết các tranh chấp thương mại. Trước Chiến tranh Thế giới lần thứ II, chủ nghĩa bảo hộ hoành hành dẫn đến nguy cơ không thể giải quyết được một cách hiệu quả các tranh chấp thương mại. Hệ thống thương mại đa phương, do vậy, có chức năng kiểm soát các tranh chấp thương mại phát sinh trong hệ thống. Trên thực tế, việc thực thi các cam kết trong khuôn khổ của GATT và nhất là WTO đã xây dựng những cơ chế có hiệu quả để thực hiện chức năng này.

- Hỗ trợ phát triển. Hệ thống thương mại đa phương tạo ra những cơ chế phù hợp để mang lại lợi ích và các cơ hội phát triểncho các Thành viên, đặc biệt là các Thành viên đang phát triển và kém phát triển. Tham gia vào hệ thống thương mại đa phương, các Thành viên đang phát triển và kém phát triển sẽ có cơ hội được hưởng những đối xử bình đẳng và cả những quy định có tính đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang và kém phát triển. Điều đó sẽ tạo ra những động lực mới cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các nước này.

1.1.4. Lịch sử hình thành WTO

Trong lịch sử phát triển của mình, thương mại quốc tế đã trải qua những giai đoạn thăng trầm và bị chi phối nặng nề bởi chủ nghĩa bảo hộ. Thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919-1939), thương mại quốc tế bị đình trệ do các biện pháp bảo hộ được áp dụng một cách tràn lan. Thuế nhập khẩu cao là một đặc trưng nổi bật của thời kỳ này. Điển hình là Đạo luật thuế quan Smooth Hawley năm 1930 của Mỹ. Trước khi Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực, xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ cũng bị áp thuế suất theo đạo luật này. Các biện pháp phi thuế quan được áp dụng phổ biến đã tạo ra những rào cản ngăn cản thương mại tự do. Điều đó dẫn đến sự trả đũa và tình trạng không kiểm soát được việc áp dụng các công cụ bảo hộ của chính sách thương mại quốc tế. Hệ quả của nó là các cuộc chiến tranh thương mại và sự suy thoái của thương mại quốc tế ở thập niên 30 của thế kỷ XX.

Vào thời điểm sắp kết thúc Chiến tranh Thế giới lần thứ II, các quốc gia chủ chốt trên thế giới đã có những nỗ lực nhằm thiết lập những định chế đa phương để giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu như duy trì hòa bình thế giới và giải trừ quân bị, hỗ trợ công cuộc tái thiết và phát triển, thúc đẩy thương mại quốc tế. Những nỗ lực đó đã dẫn đến sự ra đời của một loạt các tổ chức quốc tế còn hoạt động đến ngày nay như Liên hiệp quốc, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB).

Về vấn đề thương mại quốc tế, xu hướng đẩy mạnh tự do hóa thương mại đã nổi lên mạnh mẽ ngay khi chiến tranh vừa kết thúc. Vào tháng 12/1945, đã có 15 nước bắt đầu bàn thảo về giảm thuế quan và đặt ràng buộc thuế quan (binding). Tiếp theo đã có hơn 50 nước tham gia đàm phán về việc thành lập một tổ chức, gọi là Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO). ITO dự kiến hoạt động với tư cách là một cơ quan chuyên môn của Liên hiệp quốc. Bản Hiến chương về việc thành lập ITO, Hiến chương Havana, đã được soạn thảo tại Hội nghị Havana (Cuba) khai mạc vào ngày 21/11/1947, và hoàn tất cũng tại Havana vào tháng 03/1948. Tuy nhiên Hiến chương Havana đã không được nhiều nước, trong đó có Hoa Kỳ, thông qua. Do vậy ITO đã không thể hình thành với tư cách là một tổ chức thương mại quốc tế.

Bên cạnh việc đàm phán thành lập ITO, 23 nước đã tiến hành đàm phán về thương mại quốc tế và vào ngày 30 tháng 10 năm 1947, đã đi đến ký kết Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). GATT bao gồm một bộ các qui tắc về thương mại và thỏa thuận cắt giảm đối với 45.000 dòng thuế. 23 nước ký kết GATT được gọi là các bên ký kết (CONTRACTING PARTIES). GATT chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/1948 với việc 8 trong số 23 Bên ký kết, trong Nghị định thư về việc thực hiện tạm thời Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (Protocol of Provisional Application of the General Agreement on Tariffs and Trade), đã đồng ý tạm thời thực hiện GATT. Các bên ký kết khác sau đó cũng đã sớm cam kết thực hiện GATT. Với lý do đó GATT vẫn được coi là một Hiệp định tạm thời, nhưng thực tế đã tồn tại gần nửa thế kỷ (từ năm 1948 đến khi WTO ra đời vào năm 1995), về thương mại và thuế quan trong khi chờ đợi một tổ chức quốc tế về thương mại thay thế nó. Tuy không phải là một tổ chức quốc tế về thương mại nhưng GATT là một Hiệp định được soạn thảo và dự định sẽ vận hành trong khuôn khổ của ITO, nếu ITO ra đời và đi vào hoạt động. Mặc dù cuối cùng không đạt tới dự kiến ban đầu đó, nhưng việc ký kết GATT đã dẫn đến sự ra đời của hệ thống thương mại đa phương và đồng thời tạo ra các qui tắc cho hệ thống thương mại đó. Các qui tắc đó tiếp tục được hoàn thiện và phát triển qua tám vòng đàm phán của GATT.

Suốt 47 năm tồn tại của mình, GATT đã có vai trò quản trị hệ thống thương mại đa phương và có những đóng góp to lớn cho sự tăng trưởng vượt bậc của thương mại quốc tế. Vai trò quản trị thương mại toàn cầu của GATT được thực hiện thông qua hai chức năng cơ bản. Thứ nhất, với tính chất là một đạo luật quốc tế, GATT qui định các nghĩa vụ chung buộc các bên ký kết phải tính đến trong quá trình hoạch định chính sách thương mại của mình. Ngoài ra, với việc thực thi các nghĩa vụ và qui tắc được qui định trong GATT cũng như trong các văn kiện sau này đạt được thông qua các vòng đàm phán, các bên ký kết trên thực tế đã chịu sự điều phối chung của GATT. Thứ hai, GATT đã tạo ra một diễn đàn cho các cuộc đàm phán thương mại đa phương.

Tổng cộng GATT có tám vòng đàm phán. Thời gian và nội dung cơ bản của các vòng đàm phán đó được trình bày ở Bảng 1.1 dưới đây:

Bảng 1.1. Các vòng đàm phán thương mại của GATT

Năm

Địa điểm/tên

Nội dung

Số nước tham gia

1947

Geneva

Thuế quan

23

1949

Annnecy

Thuế quan

13

1951

Torquay

Thuế quan

38

1956

Geneva

Thuế quan

26

1960-1961

Geneva

(Vòng Dillon)

Thuế quan

26

1964-1967

Geneva

(Vòng Kennedy)

Thuế quan và các biện pháp chống bán phá giá

62

1973-1979

Geneva

(Vòng Tokyo)

Thuế quan, các biện pháp phi thuế quan, các hiệp định khung

102

1986-1994

Geneva

(Vòng Uruguay)

Thuế quan, các biện pháp phi thuế quan, các qui tắc, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, nông nghiệp, thành lập WTO v.v…

123

Nguồn: http://www.wto.org/english/thewto_e/whatis_e/tife_/fact4 _e.htm

Như vậy, các nội dung đàm phán của GATT đã được mở rộng từ vòng đàm phán thứ nhất tới vòng đàm phán thứ tám. Năm vòng đàm phán đầu chỉ chuyên về cắt giảm thuế quan. Đàm phán trong thời kỳ này

tiến hành theo cách thức song phương và song song, mỗi nước đàm phán song phương cùng một lúc với nhiều nước. Tuy nhiên, ngoài việc cắt giảm thuế quan, vào năm 1961 trong khuôn khổ của GATT đã đạt được Hiệp định ngắn hạn cho phép áp đặt hạn ngạch đối với xuất khẩu hàng dệt may. Hiệp định ngắn hạn này đến năm 1962 trở thành Hiệp định dài hạn và được áp dụng cho đến khi nó được thay thế bằng Hiệp định Đa sợi (MFA) vào năm 1974. Vòng đàm phán Kennedy đã đạt tới việc cắt giảm đến 50% thuế quan của các ngành công nghiệp chủ yếu, chỉ trừ một số ngành đặc biệt. Về mức thuế, Vòng đàm phán này đã cắt giảm bình quân được 35%. Vòng đàm phán Kennedy đã đưa vào vấn đề chống bán phá giá và đã đạt được một Hiệp định chống bán phá giá của GATT. Vòng đàm phán Tokyo tiếp tục các nỗ lực cắt giảm thuế quan đã đưa vào một công thức cắt giảm thuế quan phức tạp hơn so với Vòng Kennedy, với ưu tiên cắt giảm thuế đỉnh. Kết quả là đã cắt giảm bình quân một phần ba mức thuế quan ở chín thị trường công nghiệp chủ chốt của thế giới, nhờ đó thuế suất bình quân đối với các sản phẩm công nghiệp giảm xuống chỉ còn 4,7%. Ngoài ra, sự cắt giảm thuế đỉnh còn làm giảm đáng kể sự khác biệt về mức thuế giữa các dòng thuế. Bên cạnh đó một loạt các hiệp định về các biện pháp phi thuế quan cũng đã đạt được trong Vòng đàm phán này.

Vòng đàm phán Uruguay kéo dài suốt tám năm và được coi là Vòng đàm phán thương mại lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Quá trình đàm phán diễn ra không hề suôn sẻ, nhiều khi tưởng chừng đổ vỡ, nhưng cuối cùng đã đi đến thành công. Chương trình nghị sự lúc đầu của Vòng đàm phán này gồm 15 vấn đề được đưa ra đàm phán gồm: thuế quan, các rào cản phi thuế quan, tài nguyên thiên nhiên, dệt may, nông nghiệp, sản phẩm nhiệt đới, các điều khoản của GATT, các văn kiện của Vòng đàm phán Tokyo, chống bán phá giá, trợ cấp, sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư, giải quyết tranh chấp, hệ thống GATT và dịch vụ. Trong quá trình đàm phán, nội dung đàm phán đã được mở rộng ra hầu như tất cả các vấn đề liên quan đến thương mại. Đàm phán đã đi đến ký kết một bộ văn kiện toàn diện về thương mại quốc tế, với nội dung thương mại được mở rộng sang cả lĩnh vực dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Vòng đàm phán này cũng đã đạt tới sự thành công về cải cách thể chế thông qua việc thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hiến chương của WTO, Hiệp định Marrakesh, đã được ký kết vào ngày 15/04/1994. WTO chính thức được khai sinh vào ngày 01/01/1995. WTO đặt trụ sở tại Geneva, Thụy Sĩ.

1.1.5. Lợi ích từ hợp tác thương mại toàn cầu đối với Việt Nam

Hợp tác thương mại toàn cầu bao gồm cả hợp tác thương mại song phương, hợp tác thương mại khu vực và hợp tác thương mại đa phương. Tuy có những khác biệt nhất định giữa các hình thức hợp tác này nhưng chúng có điểm chung là đều hướng tới tự do hoá thương mại. Có thể đánh giá lợi ích của hợp tác thương mại toàn cầu dựa trên quan điểm của kinh tế học quốc tế và dựa trên thực tế thương mại quốc tế. Lợi ích đó có thể được khái quát ở những điểm sau:

- Hưởng những đối xử ưu đãi mà các đối tác thương mại dành cho nhau, nhờ đó mở rộng thị trường cho việc xuất khẩu các sản phẩm sản xuất trong nước. Việc mở rộng thị trường thông qua thương mại quốc tế giúp các ngành có thể tăng hiệu suất theo qui mô, giảm chi phí sản xuất bình quân, nhờ đó tăng hiệu quả sản xuất và kinh doanh. Trong hợp tác thương mại khu vực ASEAN, việc thực hiện Chương trình Thuế quan Ưu đãi có Hiệu lực Chung (CEPT) đã dẫn tới tạo ra khu vực thương mại tự do ASEAN. Về lý thuyết, tham gia khu vực thương mại tự do có thể dẫn đến hiệu ứng tạo lập thương mại cho các nước thành viên, mở rộng thị trường trong khu vực. Việc ký kết Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ rõ ràng đã giúp mở rộng đáng kể thị trường xuất khẩu của Việt Nam như được nói tới ở phần trên. Trở thành Thành viên của WTO, Việt Nam được hưởng những đối xử ưu đãi của các Thành viên theo nguyên tắc tối huệ quốc. Dự kiến điều đó sẽ dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ của xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.

- Thương mại quốc tế giúp nền kinh tế Việt Nam chuyên môn hoá sản xuất sâu hơn, tận dụng được lợi thế so sánh. Nhờ hợp tác thương mại toàn cầu, Việt Nam đã, đang và sẽ khai thác có hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên, lao động và đất đai. Hiện nay, khu vực sản xuất hướng về xuất khẩu của Việt Nam đã tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao động. Nếu không có thương mại quốc tế, Việt Nam không thể đạt được sản lượng cao như hiện nay ở các ngành sản xuất lúa gạo, cà phê, cao su, may mặc, giày da v.v… Hợp tác thương mại, do vậy, giúp tăng thu nhập quốc dân cũng như thu nhập của người dân, góp phần xoá đói giảm nghèo, biến đổi bộ mặt của đất nước.

- Hợp tác thương mại toàn cầu hướng tới thương mại tự do và nỗ lực giảm thiểu các rào cản thương mại. Điều đó sẽ cho phép các nền kinh tế Thành viên giảm chi phí sản xuất, giảm giá bán đối với bán thành phẩm và thành phẩm dùng cho sản xuất và dịch vụ, giảm giá hàng tiêu dùng, do vậy giảm được chi phí sinh hoạt. Nhờ thương mại quốc tế những người tiêu dùng cũng như các nhà sản xuất sẽ có thêm cơ hội lựa chọn hàng hóa, dịch vụ cho tiêu dùng cũng như các sản phẩm đầu vào và dịch vụ phục vụ cho sản xuất. Điều đó được minh chứng qua thực tiễn của Việt Nam trong suốt hai thập kỷ qua, mặc dù Việt Nam mới chỉ là Thành viên chính thức của WTO từ tháng 01/2007.

- Thương mại quốc tế là một động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Trong số các nhân tố góp phần vào tăng trưởng kinh tế như cầu tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu thì đối với Việt Nam cũng như Trung Quốc, xuất khẩu có vai trò cực kỳ quan trọng. Trong suốt những thập niên gần đây, tốc độ tăng xuất khẩu của Việt Nam luôn lớn hơn tốc độ tăng GDP. Đóng góp của thương mại đối với tăng trưởng kinh tế có được thông qua việc thương mại đã góp phần mở rộng qui mô sản xuất, ứng dụng công nghệ tiên tiến, tận dụng các nguồn lực của nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài v.v…

- Được đối xử bình đẳng hơn trong các tranh chấp thương mại quốc tế. Trong hợp tác thương mại đa phương, các hiệp định của WTO đã đưa ra nguyên tắc bình đẳng trong thương mại quốc tế và các qui tắc giải quyết tranh chấp. WTO còn lập ra các Cơ quan Giải quyết tranh chấp với những quy định ưu đãi dành cho các Thành viên đang phát triển. Nguyên tắc có đi có lại hay hai bên cùng có lợi và cả nguyên tắc đối xử tối huệ quốc cũng được lấy làm nền tảng của hợp tác thương mại song phương hay khu vực. Giải quyết tranh chấp trong loại hình hợp tác này tuy được dựa trên các điều luật quốc tế nhưng những điều luật đó đều phù hợp và phần lớn đều dựa trên các nguyên tắc và Hiệp định của WTO. Do vậy hợp tác thương mại toàn cầu sẽ cho phép Việt Nam hưởng sự đối xử bình đẳng trong giải quyết tranh chấp.

- Hợp tác thương mại toàn cầu giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế cả về mặt kinh tế lẫn chính trị. Trong hợp tác thương mại đa phương, với vị trí là Thành viên của WTO, Việt Nam có thể có tiếng nói của mình trong các diễn đàn cũng như các cuộc đàm phán thương mại đa phương để hoạch định chính sách thương mại quốc tế. Trong hợp tác thương mại khu vực, Việt Nam có điều kiện để khẳng định vai trò và bảo vệ các lợi ích của mình trong khu vực. Hợp tác song phương góp phần tạo ra mối quan hệ bình đẳng giữa Việt Nam với các nước khác trên thế giới.

- Thúc đẩy cải cách kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh. Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển nói: “Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới tạo ra nhiều cơ hội. Cơ hội lớn nhất là bằng cải cách hệ thống luật pháp và thể chế kinh tế, chúng ta đã tạo ra môi trường kinh doanh, đầu tư tốt hơn… khuyến khích mọi người dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh, giải phóng năng lực của chính họ”6. Khi tham gia hợp tác thương mại khu vực và song phương, đặc biệt khi là Thành viên của WTO, Việt Nam phải cải cách thể chế kinh tế cho phù hợp với các qui tắc chung cũng như các cam kết trong khối hoặc song phương. Nhờ đó môi trường kinh doanh trở nên minh bạch, có thể dự đoán và hấp dẫn hơn đối với các doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài. Với trách nhiệm thực thi các qui tắc của WTO và các cam kết với tổ chức này, Việt Nam sẽ không thể trì hoãn mà phải đẩy mạnh các cải cách một cách toàn diện. Tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp quốc doanh sẽ phải đẩy nhanh hơn, các thành phần kinh tế phải được đối xử một cách bình đẳng v.v… Những cải cách kinh tế sẽ kéo theo các cải cách và sự hoạt động có hiệu quả hơn của các cơ quan chính quyền các cấp. Thực hiện nguyên tắc minh bạch và không phân biệt đối xử của WTO sẽ góp phần chống tham nhũng một cách có hiệu quả.

- Tham gia hợp tác thương mại đa phương cũng như khu vực Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ kết quả đàm phán chung. Trong khuôn khổ WTO, nếu Vòng đàm phán Doha kết thúc thành công, Việt Nam sẽ thu được lợi ích từ các cam kết mở cửa thị trường, đặc biệt là từ việc giảm thuế và cắt giảm trợ cấp đối với hàng nông sản của các nước công nghiệp.

(phần 1)

MKLAW FIRM sưu tầm

(LUATMINHKHUE.VN: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)