- Cắm cột mốc ở các đảo san hô thuộc quần đảo Hoàng Sa;

- Cắt viện trợ ODA cho Việt Nam (năm 2005: 100triệu USD, năm 2006: 200 triệu USD, năm 2007: 0 triệu USD);

- Đuổi dân Việt Nam ở cửa khẩu Lào Cai từ chợ Hà Khẩu về Việt Nam;

- Hạn chế khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam làm ảnh hưởng tới ngành du lịch Việt Nam.

Những dấu hiệu này cho thấy việc triển khai các dự án như đã cam kết đã phải đình trệ ở toàn tuyến nhưng chắc rằng thái độ này chỉ là tạm thời vì xu thế chung của WTO sẽ là áp lực buộc Trung Quốc phải thay đổi và phải thực hiện cam kết vì việc thực hiện dự án này là có lợi cho Trung Quốc trong việc tìm đường hội nhập ra biển Đông của của cả vùng phía tây nam Trung Quốc rộng lớn.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900 6162

 

Luật sư tư vấn pháp luật đầu tư nước ngoài

Luật sư tư vấn pháp luật đầu tư nước ngoài - Ảnh minh họa

2. Về nguy cơ khủng hoảng kinh tế - tài chính tại Việt Nam

Theo sự phân tích của nhiều chuyên gia thì hiện nay chưa xuất hiện nguy cơ khủng hoảng kinh tế - tài chính tại Việt Nam như Thái Lan năm 1997 vì lý do sau:

-       Thị trường chứng khoán Việt Nam đang rất nhỏ bé, mới có gần 100 doanh nghiệp lên sàn giao dịch nhưng doanh nghiệp lớn ở các tổng công ty nhà nước chưa lên sàn. Những doanh nghiệp lớn do nhà nước nắm giữ vấn hoàn toàn không chịu áp lực của thị trường chứng khoán. Nói như vậy không có nghĩa là nhà nước cứ nắm giữ mãi các doanh nghiệp nhà nước. Việc lên điểm ồ ạt của thị trường chủ yếu là do những nhà đầu tư nhỏ lẻ trên thị trường OTC chạy theo nhà đầu tư nước ngoài. Như vậy  có thể xảy ra việc đổ vỡ trên thị trường OTC, có thể một số nhà đầu tư nhỏ lẻ sẽ có thể thiệt hại nếu như không nếu như không nắm vững thông tin trên thị trường, thông tin thiếu minh bạch sẽ là nguy cơ cho các nhà đầu tư nhỏ.

-       Do đồng tiền Việt Nam chưa phải là đồng tiền tự do chuyển đổi nên nhà nước rất dễ đưa ra chính sách tiền tệ, chính sách ngoại hối cho phù hợp, tác động vào thị trường.

-       Tuy nhiên có một vấn đề cần lưu ý: do chính sách lãi suất VNĐ, lãi suất USD của Việt Nam đã tạo nên một cách kinh doanh tiền tệ mới. Nhà đầu tư nước ngoài đem USD vào Việt Nam đổi ra VNĐ kinh doanh ở Việt Nam sau lại đổi tiền VNĐ ra USD mang ra nước ngoài. Như vậy họ đã tạo ra lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất giữ đồng USD ở Việt Nam và đồng USD ở nước ngoài. Do đó việc xác định lại lãi suất USD trong nước cần nghiên cứu cụ thể.

-       Tỷ lệ lạm phát của VNĐ năm 2006 khoảng 7% do hàng hoá lên giá mặc dù GDP tăng 8,2%, nhưng thực chất tăng trưởng bao nhiêu cần được đánh giá lại.

-       Cần có một chiến lược lãi suất thật phù hợp cả VNĐ và USD để vừa thu hút được đầu tư nước ngoài vừa đảm bảo phát triển vững chắc.

 

3. Thực tế chưa xuất hiện đầu tư ào ạt vào Việt Nam

Các nhà đầu tư nước ngoài gặp khó khăn khi đầu tư vào Việt Nam nhất là việc mua cổ phần, mua phần vốn góp, mua dự án, mua doanh nghiệp tại Việt Nam, nguyên nhân cơ bản là việc thực thi luật đầu tư đang gặp trở ngại không nhỏ từ phía chính sách các văn bản hướng dẫn cụ thể

Trên thực tế nhà đầu tư nước ngoài vào đang bị phân biệt đối xử bởi luật đầu tư có quá nhiều điểm không rõ ràng.

 

4. Dự báo những bất cập hậu WTO của Việt Nam

a. Vấn đề cơ bản là công tác lập pháp chưa đủ độ minh bạch như những cam kết: việc không đáp ứng 4 yêu cầu cơ bản của WTO đang đặt ra cho Việt Nam những rủi ro về mặt pháp lý. Các loại giấy phép đối với doanh nghiệp cần phải bãi bỏ, trên 300 loại giấy phép đang gây cản trở cho doanh nghiệp

b. Thực thi pháp luật của công chức, vấn đề hành pháp, cải cách hành chính, coi việc của doanh nghiệp như việc nhà, chuyển từ nhà nước cai trị sang nhà nước phục vụ một cách thực thụ của toàn thể bộ máy công chức nhà nước là vô cùng khó khăn. Một nguyên nhân khắc phục đó là lương công chức. Chúng ta hội nhập WTO về giá nhưng chưa hội nhập về lương. Vấn đề này đúng là rào cản lớn cho cải cách hành chính

c. Vấn đề tư pháp - bộ máy toà án không phù hợp với cơ chế thị trường, phải nhanh chóng thay đổi hệ thống thẩm phán và thủ tục xét xử các vụ án kinh tế.

d. Môi trường sống sẽ bị các doanh nghiệp huỷ hoại nếu như nhà nước không có quy định chặt chẽ về môi trường. Đây là việc làm rất lớn của cả nhà nước Việt Nam. Đối với vấn đề hội nhập WTO cần quan tâm tới việc cơ cấu lại.

 

5. Về tốc độ tăng trưởng kinh tế: chắc rằng vẫn duy trì được tốc độ từ 8-9% vì tốc độ xuất phát của Việt Nam còn thấp.

6. Biện pháp:

a. Muốn đảm bảo tốc độ tăng trưởng cần phải cải cách doanh nghiệp nhà nước, đẩy mạnh tiến độ cổ phần hoá, thay đổi chính sách cổ phần hoá, kiểm soát lạm phát và các giải pháp quản lý ngoại hối và tiền tệ tránh khủng hoảng tài chính.

b.  Minh bạch hoá thị trường đất đai, thay đổi khái niệm đất đai thuộc sở hữu toàn dân đồng nghĩa với sở hữu nhà nước, phải hiểu đúng: sở hữu toàn dân = sở hữu nhà nước + sở hữu tập thể + sở hữu cá nhân. Có thừa nhận sở hữu cá nhân đối với đất đai thì mới giải quyết được hàng loạt vấn đề bức xúc hiện nay về đất đai; nên nhớ là 75% vụ tranh chấp hiện nay là liên quan đến đất đai.

Luật gia Cao Bá Khoát - GĐ Công ty Tư vấn Doanh nghiệp K & Cộng sự

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại.)

-----------------------------------------------------

THAM KHẢO VÀ DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;
2. Dịch vụ tư vấn cơ cấu lại doanh nghiệp;
3. Tư vấn thành lập doanh nghiệp tại Hà Nội;
4. Tư vấn xây dựng quy chế hoạt động cho doanh nghiệp;
5. Luật sư tư vấn vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại;
6. Luật sư tư vấn và giải quyết tranh chấp nội bộ doanh nghiệp.