I. Một số vấn đề chung 

Riêng đối với chỉ tiêu về chất lượng, giải quyết, xét xử các loại vụ án (tỷ lệ án hủy 1,16%, tỷ lệ sửa 4,20% do lỗi chủ quan của Thẩm phán) đã góp phần tích cực trong việc duy trì và ngày càng nâng cao chất lượng xét xử của ngành TAND. Để phấn đấu đạt được chỉ tiêu này, các Thẩm phán đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, thận trọng, tỷ mỉ trong quá trình giải quyết, xét xử từng vụ án cụ thể nhằm đảm bảo đúng các quy định của pháp luật. Chất lượng xét xử là một tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực, trình độ, phẩm chất, bản lĩnh nghề nghiệp của từng Thẩm phán và mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị của các Tòa án.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hành chính qua điện thoại gọi:  1900 6162

Tuy nhiên, xung quanh vấn đề chỉ tiêu về chất lượng xét xử cũng còn nhiều bất cập khi chỉ đơn thuần xét về góc độ số học (tỷ lệ). Khi một vụ án bị sửa, hủy dù là lỗi chủ quan của Thẩm phán thì lỗi đó cũng có những mức độ khác nhau; mức độ nghiêm trọng của vụ án hoặc loại án bị sửa, hủy cũng khác nhau và hậu quả của việc sửa, hủy cũng khác nhau. Mặt khác, tỷ lệ về chất lượng sửa, hủy tính bằng % trong khi đó số vụ án của các Tòa án, của từng Thẩm phán đã giải quyết cũng khác nhau. Tòa án nào, cá nhân Thẩm phán nào xét xử nhiều mà bị sửa, hủy nhiều thì có thể tỷ lệ về chất lượng không vượt quá chỉ tiêu thi đua, ngược lại Tòa án hoặc Thẩm phán giải quyết, xét xử ít thì có thể chỉ bị sửa, hủy một vụ án cũng đã không đảm bảo chỉ tiêu về chất lượng. Hơn thế, các vụ án bị hủy, sửa thường là các vụ án phức tạp, án khó và các vụ án này lại thường được giao cho các đồng chí lãnh đạo đơn vị hoặc Thẩm phán có năng lực giải quyết nên khi bị sửa, hủy thì lãnh đạo đơn vị, ngoài việc chịu trách nhiệm chung về công tác xét xử của đơn vị, còn phải chịu trách nhiệm cá nhân về các vụ án khó, phức tạp mà mình trực tiếp giải quyết nhưng bị sửa, hủy. Lãnh đạo đơn vị (thường ít xét xử) hoặc Thẩm phán có năng lực khi được phân công giải quyết các vụ án khó, phức tạp mà bị sửa, hủy thì thường không đạt danh hiệu thi đua.

Hiện nay, tỷ lệ chất lượng xét xử áp dụng chung cho tất cả các Tòa án, các Thẩm phán mà không phân định rõ trách nhiệm của từng cấp Tòa án và Thẩm phán ở cấp Tòa án đó cũng không phù hợp. Càng là Tòa án cấp trên thì trách nhiệm càng phải cao hơn Tòa án cấp dưới; Thẩm phán Tòa án cấp trên giải quyết, xét xử phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm bản án, quyết định của Thẩm phán Tòa án cấp dưới càng phải đảm bảo đúng pháp luật hơn vì bản án, quyết định của Tòa án cấp trên có hiệu lực pháp luật ngay và là khuôn mẫu cho Thẩm phán Tòa án cấp dưới học tập.

Những vấn đề nêu trên là những bất cập trong việc xem xét, đánh giá về tỷ lệ chất lượng xét xử của từng Tòa án, từng Thẩm phán sau một năm công tác. Trên cơ sở này để bình xét thi đua của từng Tòa án, từng cá nhân Thẩm phán.

Hiện nay, Vụ TCCB đã căn cứ vào tỷ lệ án bị sửa, hủy làm tiêu chí quan trọng để xem xét, đánh giá Thẩm phán khi tái nhiệm. Theo chúng tôi, nếu chỉ căn cứ vào chỉ tiêu chất lượng, mang tính số học đơn thuần để không tái bổ nhiệm các Thẩm phán có tỷ lệ án bị hủy, sửa cao hơn chỉ tiêu thi đua là không thật phù hợp và không sát với thực tiễn xét xử của ngành TAND. Việc áp dụng đơn thuần các chỉ tiêu vê chất lượng giải quyết xét xử mà không tính đến những bất cập nêu trên và hậu quả là rất nhiều Thẩm phán đã hết nhiệm kỳ nhưng bị tạm thời chưa tái bổ nhiệm, bị "treo giò" trong một thời gian khá dài, làm cho tư tưởng Thẩm phán nặng nề và thậm chí không công bằng khi Thẩm phán năng lực bình thường hoặc yếu lại được tái bổ nhiệm, còn người có năng lực, luôn được lãnh đạo Tòa án lựa chọn để giao giải quyết các vụ án phức tạp, khó lại bị "treo giò". Các vướng mắc trên cần được lãnh đạo TANDTC xem xét giải quyết.

Mặt khác, việc dừng lại, chậm xem xét bổ nhiệm Thẩm phán khi hết nhiệm kỳ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tỷ lệ giải quyết, xét xử chung của đơn vị và toàn ngành. Mỗi năm, Chánh án TAND tối cao bổ nhiệm lại gần 1000 Thẩm phán, mỗi Thẩm phán chậm bổ nhiệm thì mỗi năm đã có 2000 tháng Thẩm phán không xét xử. Tính trung bình mỗi Thẩm phán giải quyết xét xử 5 vụ án/ tháng thì mỗi năm đã có 10.000 vụ án chưa được giải quyết. Như vậy, lẽ ra tỷ lệ giải quyết xét xử cao hơn thì lại thấp đi, thậm chí có loại vụ án không đạt chỉ tiêu đề ra. Tình trạng chậm bổ nhiệm hoặc "treo giò" Thẩm phán vô hình chung làm cho số lượng Thẩm phán đã thiếu lại càng thiếu.

II. Một số đề xuất:

Để giải quyết những vướng mắc, bất cập nêu trên về áp dụng tỷ lệ các vụ án bị sửa, hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp sau:

1. Việc xác định do lỗi chủ quan hay lỗi khách quan khi vụ án bị sửa, hủy phải căn cứ vào bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật tại thời điểm xét thi đua hoặc đánh giá Thẩm phán. Trường hợp sau thời điểm đó lại có bản án, quyết định "giữ nguyên bản án, quyết định" đã bị hủy, sửa thì được xem xét lại.

- Những trường hợp có ý kiến khác nhau về xác định lỗi chủ quan hay khách quan, thì Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh xem xét, kết luận đối với các bản án, quyết định của ngành TAND tỉnh đó; Hội đồng Thẩm phán xem xét, kết luận đối với bản án, quyết định của các Tòa chuyên trách, Tòa phúc thẩm TANDTC.

2. Đánh giá tính nghiêm trọng của bản án, quyết định bị sửa, hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán cũng theo mức độ khác nhau. Thông thường thì các vụ án bị hủy có tính nghiêm trọng hơn các vụ án bị sửa, tuy nhiên cũng có những vụ án bị sửa toàn bộ lại nghiêm trọng hơn các vụ án bị hủy vì những lý do không nghiêm trọng. Mặt khác hậu quả của việc bị sửa, hủy cũng khác nhau. Do đó, để  đánh giá mức độ nghiêm trọng của vụ án bị sửa, hủy cần kết hợp giữa xác định lỗi của Thẩm phán, hậu quả vụ án bị sửa, hủy và loại vụ án bị sửa, hủy.

Ví dụ: - Trong các vụ án hình sự nếu bị hủy, đình chỉ, tuyên bố bị cáo không phạm tội (tức là đã xét xử oan) thì lỗi này rất nghiêm trọng; đã tuyên án tử hình, thi hành án rồi mới phát hiện bị cáo bị xét xử oan thì đặc biệt nghiêm trọng…

- Trong các vụ án dân sự nếu xét xử sai, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (làm cho họ bị mất hết tài sản, danh dự…) thì rất nghiêm trọng; làm cho họ phẫn uất dẫn đến tự tử, tự thiêu thì là đặc biệt nghiêm trọng. Do đó, theo chúng tôi thì:

- Nếu là mức độ sai rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì chỉ cần sai một vụ cũng đã không xét thi đua.

- Nếu là lỗi cố ý xét xử sai lệch hoặc ra bản án, quyết định trái pháp luật thì dù chỉ là một vụ án cũng không xét thi đua, thậm chí còn bị xử lý theo quy định của Pháp luật hình sự.

- Các trường hợp khác nếu sai ít nghiêm trọng, hậu quả không lớn thì vẫn được xét thi đua.

3. Phân định trách nhiệm của Thẩm phán Tòa án các cấp

Đề xuất: - Nếu Thẩm phán TANDTC xét xử sai hoặc trả lời khiếu nại sai thì phải chịu trách nhiệm cao hơn Thẩm phán cấp tỉnh.

- Nếu Thẩm phán TAND cấp tỉnh xét xử sai thì phải chịu trách nhiệm cao hơn Thẩm phán TAND cấp huyện.

- Thẩm phán làm công tác giám đốc thẩm chịu trách nhiệm cao hơn Thẩm phán xét xử sơ thẩm, phúc thẩm.

4. Về tỷ lệ án sửa, hủy.

Tỷ lệ % số vụ án bị sửa, hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán hiện đang áp dụng cũng có những bất cập như đã nêu ở trên. Để giải quyết những bất cập này, chúng tôi đề xuất tính theo số vụ án bị sửa, hủy trên tổng số vụ án mà Thẩm phán hoặc Tòa án đó đã giải quyết. Cụ thể là:

4.1. Về án hủy.

Đối với Thẩm phán TANDTC

- Nếu Thẩm phán TANDTC xét xử phúc thẩm thì bị hủy 01 vụ ở mức độ rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

- Nếu Thẩm phán TANDTC xét xử từ 50 vụ/năm trở xuống mà bị ủy 02 vụ do lỗi chủ quan không nghiêm trọng thì vẫn được xét thi đua. Nếu xét xử từ trên 50 vụ trở lên mà bị hủy 03 vụ do lỗi chủ quan nhưng không nghiêm trọng thì vẫn được xét thi đua.

- Nếu Thẩm phán TANDTC xét xử giám đốc thẩm bị hủy 01 vụ ở mức độ rất nghiêm trọng trở lên hoặc 02 vụ ở mức độ không nghiêm trọng thì cũng không được xét thi đua.

- Thẩm phán TANDTC là thành viên Hội đồng xét xử cũng không được xét thi đua nếu bản án, quyết định đó bị hủy vì có sai lầm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

Đối với Thẩm phán TAND cấp tỉnh

- Thẩm phán TAND cấp tỉnh xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm nếu bị hủy 01 vụ ở mức độ rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

- Thẩm phán TAND cấp tỉnh xét xử từ 50 vụ án/năm trở xuống nếu bị hủy 02 vụ ở mức độ không nghiêm trọng thì vẫn được xét thi đua, nếu xét xử từ 50 vụ trở lên, bị hủy 03 vụ ở mức độ không nghiêm trọng thì vẫn được xét xử thi đua.

- Thẩm phán tham gia xét xử giám đốc thẩm nếu bị hủy 01 vụ án ở mức rất nghiêm trọng trở lên hoặc 02 vụ ở mức không nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

Đối với Thẩm phán TAND cấp huyện:

- Thẩm phán TAND cấp huyện bị hủy 01 vụ ở mức độ rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

- Thẩm phán TAND cấp huyện xét xử từ 50 vụ/năm trở xuống nếu bị hủy 03 vụ ở mức độ không nghiêm trọng thì vẫn được xét thi đua; nếu xét xử từ 50 vụ/năm trở lên nếu bị hủy 04 vụ ở mức không nghiêm trọng thì vẫn được xét thi đua.

4.2. Về án sửa.

Đối với Thẩm phán TAND cấp tỉnh:

- Nếu xét xử từ 50 vụ/năm trở xuống bị sửa 02 vụ do ở mức độ rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được xét thi đua;

- Nếu xét xử từ 50 vụ/năm trở lên bị sửa 03 vụ ở mức độ rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

- Nếu xét xử từ 50 vụ/năm trở xuống bị sửa 03 vụ ở mức không nghiêm trọng hoặc xét xử từ trên 50 vụ/năm trở lên bị sửa 05 vụ ở mức không nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

Đối với Thẩm phán TAND cấp huyện

- Nếu xét xử từ 50 vụ/năm trở xuống mà bị sửa 03 vụ ở mức rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được xét thi đua; nếu xét xử từ trên 50 vụ/năm trở lên mà bị sửa 04 vụ ở mức rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

- Nếu xét xử từ 50 vụ/năm trở xuống bị sửa 04 vụ ở mức không nghiêm trọng hoặc xét xử từ 50 vụ/năm trở lên bị sửa 06 vụ ở mức không nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

Đối với Thẩm phán TAND các cấp nếu cố tình ra bản án, quyết định trái pháp luật thì dù bản án, quyết định đó bị sửa hay bi hủy ở mức độ nào cũng không được xét thi đua.

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi và rất mong được các bạn đồng nghiệp trao đổi.

Nguyễn Quang Lộc - Thẩm phán TANDTC

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)