Tội tẩy rửa tiền đã xuất hiện ở nước ta với nhiều hình thức, thủ đoạn phạm tội tinh vi, nguy hiểm, đe dọa gây bất ổn cho các quan hệ xã hội, cho nền kinh tế và an ninh quốc gia. Do đó, việc đấu tranh phòng chống tội tẩy rửa tiền đã được Quốc hội cụ thể hoá tội danh tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 1999. Để có một cái nhìn thống nhất, rõ ràng và chính xác hơn về tội phạm này, chúng tôi phân tích và bàn luận về cấu thành tội tẩy rửa tiền của pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước (điển hình là Cộng hòa Pháp)

 

1. Yếu tố khách quan tội tẩy rửa tiền

Khoản 1 Điều 251 (Tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có) Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam năm 1999 quy định: "Người nào thông qua các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác để hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có hoặc sử dụng tiền, tài sản đó vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm". Nghị định số 74/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/6/2005 về phòng, chống rửa tiền quy định: "Rửa tiền là hành vi của cá nhân, tổ chức tìm cách hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có thông qua các hoạt động cụ thể sau đây:

Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào một giao dịch liên quan đến tiền, tài sản do phạm tội mà có;

Thu nhận, chiếm giữ, chuyển dịch, chuyển đổi, chuyển nhượng, vận chuyển, sử dụng, vận chuyển qua biên giới tiền, tài sản do phạm tội mà có;

Đầu tư vào một dự án, một công trình, góp vốn vào một doanh nghiệp hoặc tìm cách khác che đậy, nguỵ trang hoặc cản trở việc xác minh nguồn gốc, bản chất thật sự hoặc vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do phạm tội mà có".

Theo chúng tôi, trên cơ sở quy định này, pháp luật Việt Nam đã đề cập đến hai loại hành vi: loại hành vi thứ nhất là hành vi hợp pháp hoá tiền và tài sản có nguồn gốc từ tội phạm và loại hành vi thứ hai là hành vi sử dụng tiền, tài sản đó để tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 19006162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi:  1900 6162

Hành vi hợp pháp hoá tiền và tài sản có nguồn gốc từ tội phạm

Pháp luật Việt Nam cho rằng "hành vi hợp pháp hoá" tiền và tài sản có nguồn gốc từ tội phạm là hành vi phạm tội của tội tẩy rửa tiền. Vậy, chúng ta cần hiểu nội hàm của cụm từ "hành vi hợp pháp hóa" như thế nào?

Để hiểu được nội hàm "hành vi hợp pháp hóa" trên, chúng ta cần tìm hiểu các công đoạn để tẩy rửa tiền. Các chuyên gia trong lĩnh vực đấu tranh chống tẩy rửa tiền đều đồng ý chia quá trình tẩy rửa tiền thành ba công đoạn lớn:

- Công đoạn đầu tiên là đưa tiền vào lưu chuyển trong hệ thống kinh tế, tài chính. Công đoạn này có thể được thực hiện thông qua các hoạt động kinh tế hàng ngày hay bằng cách chuyển tiền ra nước ngoài;

- Công đoạn hai là quá trình tích tụ và quay vòng các khoản tiền sau khi chúng đã thâm nhập vào hệ thống kinh tế - tài chính chung. Công đoạn này được tiến hành thông qua các thủ đoạn giao dịch sao cho tiền được quay vòng nhiều lần để xoá đi các dấu vết tội phạm, cắt đi mối liên hệ với tổ chức tội phạm là chủ sở hữu của chúng;

- Công đoạn cuối cùng của một vụ tẩy rửa tiền được gọi là công đoạn "hội nhập", là lúc mà bọn tội phạm bắt đầu sử dụng tiền, tài sản đã được quay vòng nhiều lần đó để đầu tư một cách hợp pháp vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Như vậy, tẩy rửa tiền được tiến hành thông qua nhiều công đoạn và một mình ai đó không thể tẩy rửa hết nguồn gốc bất chính của đồng tiền. Do đó, nội hàm của "hành vi hợp pháp hóa" sẽ mang tính thực tế hơn nếu ta hiểu được rằng hợp pháp hoá hay tẩy rửa tiền bao gồm tất cả các thao tác, hành vi tham gia, hỗ trợ vào quá trình hợp pháp hoá tiền.

Một nội dung nữa cần bàn là việc tẩy rửa tiền có thể được thực hiện thông qua những hành vi về bản chất là bất hợp pháp, như lập hoá đơn khống, hoá đơn giả, khai báo gian dối... Tuy nhiên, một số bọn tẩy rửa tiền lại thực hiện những hành vi tẩy rửa về bản chất hoàn toàn hợp pháp, các hành vi đó chỉ bất hợp pháp vì người thực hiện hành vi đó nhằm mục đích bất hợp pháp. Ví dụ trong lĩnh vực ngân hàng, các ngân hàng nói chung có nghĩa vụ phải ghi chép các sổ sách kế toán, giao và nhận tiền của khách hàng... Việc một ngân hàng nào đó ghi một khoản tiền vào tài khoản của khách hàng là hoàn toàn hợp pháp, nhưng hành vi đó sẽ trở nên bất hợp pháp nếu ngân hàng biết rằng tiền kia có nguồn gốc từ tội phạm mà vẫn nhận vào tài khoản.

Về tội tẩy rửa tiền, pháp luật của một số nước trên thế giới phân biệt giữa những hành vi về bản chất là bất hợp pháp và những hành vi về bản chất là hợp pháp. Ví dụ, pháp luật Pháp khép vào tội tẩy rửa tiền hai loại hành vi. Một mặt, pháp luật cho rằng tẩy rửa tiền là việc hỗ trợ cho người phạm tội tạo ra vẻ bề ngoài hợp pháp cho tiền và tài sản do phạm tội mà có. Như vậy, hành vi hỗ trợ này cũng bị trừng trị là hành vi tẩy rửa tiền. Loại hành vi thứ hai cũng là hành vi hỗ trợ cho những hoạt động đầu tư, chuyển đổi, chuyên chở... tiền và tài sản do phạm tội mà có. Loại hành vi này cũng bị khép vào tội tẩy rửa tiền.

Lưu ý thứ nhất, về yếu tố khách quan cấu thành tội tẩy rửa tiền, là hành vi của một người nhằm hợp pháp hoá tiền có nguồn gốc tội phạm. Vấn đề đặt ra là theo định nghĩa của Việt Nam, hành vi tẩy rửa tiền có phải chỉ bao gồm những hành vi chủ định hay cả những hành vi thụ động? Nói cách khác, một người biết rõ nguồn gốc tội phạm của một khoản tiền nào đó, hay biết được người khác đang tiến hành một hành vi tẩy rửa tiền mà không có hành động gì thì người đó có bị coi là phạm tội hay không?

Pháp luật Pháp quy định, hành vi không hành động đó là phạm tội, đặc biệt đối với những người có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động này. Ví dụ, một nhân viên hải quan cửa khẩu biết rằng chiếc xe kia có trở một va ly tiền của bọn buôn ma tuý. Thông thường nhân viên này có nghĩa vụ phải bắt giữ chiếc xe đó lại, khám xét và giữ tang vật. Nhưng, nếu không làm như vậy mà lại để cho xe tự nhiên đi qua thì nhân viên đó đã vi phạm pháp luật, coi như đã phạm tội tẩy rửa tiền. Như vậy, theo chúng tôi, pháp luật Việt Nam về tội tẩy rửa tiền cũng nên được hiểu hành vi không hành động có thể là phạm tội.

Lưu ý thứ hai, tẩy rửa tiền là các hành vi thông qua các hình thức nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác. Nhưng thực tế chúng ta có thể thấy phần lớn các hoạt động tẩy rửa tiền được thực hiện thông qua các giao dịch tài chính và các giao dịch mang tính kinh tế. Một lần nữa cho thấy quy định của Việt Nam có một phạm vi áp dụng rất rộng.

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy có những hành vi tẩy rửa tiền không phải là những giao dịch tài chính hay kinh tế. Ví dụ như vai trò của các chuyên gia pháp luật trong quá trình tẩy rửa tiền, hỗ trợ việc tẩy rửa tiền. Đó là những người tham gia tích cực vào quá trình tẩy rửa tiền mà không hề thực hiện một giao dịch tài chính, hoạt động kinh tế hay ngân hàng nào cả.

Về điểm này, pháp luật Việt Nam không quy định rõ như trong pháp luật của một số nước trên thế giới, chẳng hạn như "tẩy rửa tiền là các hành vi thông qua các hình thức a, b gì đó và bất kỳ hình thức nào khác ". Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng pháp luật Việt Nam cũng cho phép truy tố và trừng trị những người tham gia vào tẩy rửa tiền không phải dưới các hình thức giao dịch kinh tế, tài chính như trình bày ở trên mà thông qua cơ chế đồng phạm. Ví dụ trường hợp của luật sư, luật sư làm tư vấn cho bọn tội phạm. Như vậy, coi như luật sư đã là đồng phạm với bọn tẩy rửa tiền.

Hành vi sử dụng tiền, tài sản đó để tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác

Như vậy, khi xét xử thẩm phán có thể tự do lựa chọn để trừng trị theo hai loại hành vi: "hành vi hợp pháp hóa" và "hành vi sử dụng". Ví dụ trường hợp một người sử dụng tiền có nguồn gốc từ buôn bán ma tuý để mở một quán giải khát, chúng ta có thể nói rằng người này đang thực hiện hành vi hợp pháp hoá tiền, đồng thời cũng có thể cho rằng anh ta đang sử dụng tiền có nguồn gốc tội phạm vào hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, phần thứ hai của quy định tại Điều 251 BLHS 1999 này cho phép trừng trị những người không tham gia vào quá trình tẩy rửa tiền nhưng sau này lại được hưởng khoản tiền đã được tẩy rửa.

Nhận xét tiếp theo của chúng tôi trong phần xác định các yếu tố khách quan cấu thành tội phạm là pháp luật Việt Nam nói đến cả tiền và tài sản. Để nói một cách chung hơn, trong pháp luật một số nước có quy định về các "sản phẩm" của tội phạm vì trong quá trình tiến hành tẩy rửa tiền, tiền được chuyển đổi hình thức liên tục: từ tiền mặt sang thành séc, thành tiền bút toán, ngân phiếu... để cuối cùng có thể trở thành một biệt thự đẹp đẽ, nếu cuối cùng người phạm tội quyết định bỏ tiền đầu tư mua bất động sản.

Chính vì lý do đó, pháp luật của nhiều nước đã dự liệu điều này và quy định cả về các "sản phẩm trực tiếp" cũng như các "sản phẩm gián tiếp" của tội phạm (gián tiếp nghĩa là các khoản tiền, tài sản đã được chuyển hoá thành sản phẩm khác). Nếu không quy định như vậy, chúng ta sẽ không thể truy tố tội phạm khi quá trình tẩy rửa tiền đã được tiến hành đến công đoạn thứ hai hay thứ ba. Công ước của Hội đồng châu Âu được thông qua năm 1990 tại Strasbourg đã  định nghĩa, sản phẩm của tội phạm bao gồm tất cả những lợi ích kinh tế có được từ tội phạm đó.

2. Yếu tố chủ quan tội tẩy rửa tiền

Thực tế tiến hành điều tra một vụ tẩy rửa tiền, khi đã lần ra đầu mối cả đường dây tẩy rửa tiền để tìm ra được cả những người nằm ở khá xa trong chu trình tẩy rửa, khi điều tra viên đến hỏi thì mọi người đều có lời bao biện như nhau: "tôi không biết rằng, tiền này có nguồn gốc từ tội phạm!". Vậy, câu hỏi đặt ra là mức độ biết đến đâu thì được coi là có lỗi? Về vấn đề này, có lẽ chúng ta sẽ nghiên cứu các quy định trong pháp luật Pháp và của một số nước khác. Pháp luật Pháp đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng giảm nhẹ trách nhiệm phải chứng minh lỗi của người phạm tội. Xuất phát điểm của Pháp có khác với Việt Nam, ở chỗ mới đầu pháp luật chỉ quy định tội tẩy rửa tiền là việc hợp pháp hoá các khoản tiền có nguồn gốc từ buôn bán ma tuý. Mãi đến năm 1996, pháp luật Pháp mới quy định một loại tội mới, đó là tội tẩy rửa tiền có nguồn gốc từ tội phạm nói chung. Tuy nhiên, ngay cả khi đã có quy định mới này, các cơ quan điều tra vẫn gặp rất nhiều khó khăn vì phải chứng minh yếu tố lỗi của người phạm tội, chứng minh can phạm biết rõ tiền có nguồn gốc từ một tội phạm cụ thể nào đó mới kết tội tẩy rửa tiền được. Điều này có thể nói hầu như không thể chứng minh được, nhất là đối với những kẻ tẩy rửa tiền nằm ở những công đoạn cuối, hay những kẻ chuyên tẩy rửa các loại tiền do phạm tội mà có thì không thể biết các chi tiết của tội phạm.

Do vậy, cấu thành tội tẩy rửa tiền, Pháp vẫn giữ lại yếu tố lỗi nhưng đã giảm nghĩa vụ của các cơ quan điều tra trong việc chứng minh yếu tố lỗi của người phạm tội. Giờ đây, toà án chỉ cần chứng minh rằng bị cáo biết tiền mà mình sử dụng có nguồn gốc từ tội phạm nói chung, chứ không phải chứng minh cụ thể đó là tội nào.

Thông thường, để chứng minh một người biết rằng tiền có nguồn gốc tội phạm, toà chỉ việc chứng minh rằng người đó không thể không biết tiền đó là tiền bất chính. Để kết tội một người về tội tẩy rửa tiền, toà án phải thiết lập được tội phạm chính là tội gì (ví dụ như tội buôn lậu các chất ma tuý chẳng hạn), chứng minh người đó đã tiến hành hành vi nào để tẩy rửa tiền và cuối cùng chứng minh rằng, ngay cả khi không biết rằng tiền có nguồn gốc từ buôn bán ma tuý thì cũng phải biết rằng nó có nguồn gốc bất chính.

Một điều đương nhiên là những người bị tình nghi đã tiến hành tẩy rửa tiền không bao giờ tự thú nhận tội lỗi của mình. Do đó, để chứng minh lỗi cố ý của người bị tình nghi, thẩm phán dựa vào một loạt các yếu tố như sự suy đoán, nhân chứng, các tình tiết vụ việc như một hành vi bất bình thường, thái độ khả nghi của đối tượng hay trong trường hợp một người có khối tài sản lớn mà lại không chứng minh được nguồn gốc của những tài sản đó. Trên thực tế, có những trường hợp chỉ cần dựa vào một yếu tố duy nhất ta đã có đủ bằng chứng chứng minh được lỗi cố ý. Nhưng nói chung, các cơ quan điều tra phải thu thập rất nhiều yếu tố, rất nhiều bằng chứng để chứng minh lỗi của đối tượng. Theo quy định của pháp luật Pháp, nếu cơ quan điều tra chứng minh được rằng kẻ tẩy rửa tiền biết rõ tiền đó có nguồn gốc từ một tội phạm cụ thể nào đó, thì hắn có thể sẽ bị trừng trị nặng hơn, vì đây là một tình tiết tăng nặng. Ví dụ, một người bị kết tội tẩy rửa tiền nói chung có thể bị phạt tù 5 năm, một người bị kết tội buôn bán ma tuý "thông thường" bị phạt 10 năm tù giam. Nếu cơ quan điều tra chứng minh được rằng người phạm tội tẩy rửa tiền không những biết rằng tiền có nguồn gốc tội phạm mà còn biết rằng tiền đó có nguồn gốc chính xác từ buôn lậu ma tuý, thì người phạm tội tẩy rửa tiền kia có thể bị kết án 10 năm tù giam, tức là bằng hình phạt dành cho thủ phạm của tội phạm nguồn. Nguyên tắc này được áp dụng cho tất cả các tội có mức hình phạt tù giam từ 10 năm trở lên.

Để giải thích việc tăng nặng hình phạt này, các nhà lập pháp cho rằng đối với những loại tội phạm nguồn được coi là tội nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng, những người tẩy rửa tiền có nguồn gốc từ các loại tội phạm đó cũng phải bị trừng trị với mức tương đương như tội phạm nguồn khi kẻ phạm tội tẩy rửa tiền biết được tiền mà mình tẩy rửa có nguồn gốc từ những tội phạm đó.

Một điểm nữa cần xem xét là thời điểm khi người ta nhận biết được rằng tiền có nguồn gốc từ tội phạm. Ví dụ, một thương gia có quan hệ thương mại với một người thường thanh toán bằng tiền mặt. Mới đầu anh ta không biết rằng tiền đó là tiền "bẩn". Phải mất một thời gian sau anh ta mới tự đặt ra câu hỏi và cuối cùng cho rằng, tiền đó là tiền có nguồn gốc từ tội phạm. Do đó, có thể nói rằng có người sau khi thực hiện hành vi tham gia vào tẩy rửa tiền rồi mới nhận ra rằng tiền mà mình đang sử dụng, giao dịch đó là tiền bất chính.

Pháp luật một số nước quy định rằng người tẩy rửa tiền chỉ bị trừng trị nếu vào thời điểm thực hiện hành vi được coi là tẩy rửa tiền, anh ta biết được tiền có nguồn gốc từ tội phạm. Pháp luật Pháp lại có quan điểm khác, kể cả khi hành vi tẩy rửa tiền đã được thực hiện rồi sau đó mới biết nguồn gốc của tiền thì người tẩy rửa đó có thể vẫn bị trừng trị. Pháp luật của Bỉ còn trừng trị những người hoạt động chuyên môn về tội tẩy rửa tiền do mất cảnh giác. Các chuyên gia này có nghĩa vụ phải cảnh giác, xác minh nguồn gốc các khoản tiền mà mình giao dịch hay xử lý. Như vậy, kể cả trong trường hợp những người này vô ý tẩy rửa tiền đó thì họ cũng bị pháp luật trừng trị (lỗi vô ý).

Như vậy, ta có thể thấy những quy định khác nhau trong pháp luật của các nước trên thế giới. Đối với những nước trừng trị cả tội tẩy rửa tiền do vô ý thì chỉ cần chứng minh có tội tẩy rửa tiền là đã có thể trừng trị người mắc lỗi vô ý hay thiếu cảnh giác đó rồi. Trong khi đó, đối với những nước quy định tội tẩy rửa tiền phải có lỗi cố ý, lỗi vô ý chỉ là một tình tiết thực tế trong vụ việc không đủ để cấu thành tội tẩy rửa tiền. Chúng tôi cho rằng, các nhà lập pháp và hoạt động thực tiễn của Việt Nam cần chú ý đến nội dung này. Theo đề xuất của chúng tôi, yếu tố lỗi trong tội tẩy rửa tiền gồm cả cố ý và vô ý.

3. Tội tẩy rửa tiền và một số tội phạm khác có đặc điểm giống nhau

Tội tẩy rửa tiền có thể dễ bị nhầm lẫn với một số tội khác khi xác định tội danh. Ví dụ việc dùng hoá đơn, chứng từ giả để tẩy rửa tiền cũng có thể bị ghép vào tội sử dụng chứng từ giả mạo.

Ngoài ra, còn có một số hành vi khác có thể cấu thành hoặc là tội tẩy rửa tiền, hoặc là một tội danh khác, như hành vi lừa đảo, đồng phạm với hành vi lừa đảo. Đặc biệt, hành vi che giấu tội phạm rất gần với tội tẩy rửa tiền vì một người che giấu các khoản tiền có nguồn gốc từ tội phạm đồng thời có thể bị quy tội che giấu tội phạm hay tội tẩy rửa tiền.

Khi có sự do dự trong việc định tội danh giữa tẩy rửa tiền và tội khác, chúng tôi thấy có ba trường hợp mà chúng ta phải ưu tiên định tội là tội tẩy rửa tiền, vì những lý do sau đây:

Một là, tẩy rửa tiền là một quá trình rất phức tạp, phải trải qua nhiều công đoạn, nhiều hành vi khác nhau và có nhiều người cùng tham gia vào quá trình này. Do đó, chúng ta nên định tội danh cho tất cả những người tham gia vào quá trình đó tội tẩy rửa tiền, thay vì định cho mỗi người một tội khác nhau (người thứ nhất tội sử dụng giấy tờ giả mạo, người thứ hai đồng phạm với tội sử dụng giấy tờ giả mạo, người thứ ba tội che giấu tội phạm...), chúng ta nên định cho họ cùng một tội tẩy rửa tiền giống nhau vì tất cả có cùng mục đích phạm tội giống nhau;

Hai là, trong quá trình điều tra về tội tẩy rửa tiền, chúng ta thường phải cần đến sự hỗ trợ của các nước khác trong việc trấn áp tội phạm. Tội tẩy rửa tiền vốn đã được thừa nhận trên phạm vi toàn thế giới, đã có nhiều công ước quốc tế trực tiếp hay gián tiếp thừa nhận tội tẩy rửa tiền. Do vậy, tính thống nhất pháp lý và đường lối xử lý giữa các nước dễ được chấp nhận hơn.

Ba là, liên quan đến việc tổ chức bên trong mỗi quốc gia. Nếu chúng ta quy định tổng thể những hành vi đó là tội tẩy rửa tiền, chúng ta sẽ có nhiều thuận lợi trong việc huy động các lực lượng chuyên ngành tham gia điều tra và đấu tranh chống lại loại tội phạm này. /.

 Nguyễn Hà Thanh

NGUỒN ST

 

(MINH KHUE LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại.Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)