Phần thứ nhất

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

            I. KHÁI NIỆM, NGUỒN GỐC LÝ LỊCH TƯ PHÁP; PHÂN BIỆT LÝ LỊCH TƯ PHÁP VỚI TÀNG THƯ CĂN CƯỚC CAN PHẠM; Ý NGHĨA LÝ LỊCH TƯ PHÁP

            1. Khái niệm Lý lịch tư pháp, nguồn gốc lý lịch tư pháp

            Nói đến lý lịch bao giờ cũng gắn với một đối tượng cụ thể. Đối tượng được đề cập ở đây có thể là những cá nhân hoặc có thể là một tổ chức. Khái niệm lý lịch thường được hiểu là ghi chép lại (thường dưới dạng một hồ sơ) những sự kiện chủ yếu trong quá khứ và hiện tại của một đối tượng.

            Vậy hiểu thế nào là “lý lịch tư pháp”, phải chăng lý lịch tư pháp là sự ghi chép những thông tin liên quan đến đối tượng mà những thông tin đó có ý nghĩa về mặt tư pháp. Vấn đề đặt ra là hiểu thế nào là những thông tin có ý nghĩa về mặt tư pháp. Điều này lại tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau và thiết chế tư pháp đặc thù của  từng quốc gia mà có những khái niệm về lý lịch tư pháp cho phù hợp.

            Thuật ngữ “lý lịch tư pháp” được sử dụng khác nhau theo cách gọi của mỗi nước. Ví dụ trong tiếng Anh có "Criminal records", trong tiếng Pháp có từ “casier judiciaire”. Nhưng có thể nói rằng trong các thuật ngữ khác nhau theo cách gọi của mỗi nước đều hàm chứa những nội dung tương tự là ghi nhận thông tin về các chế tài, hình phạt mà cơ quan có thẩm quyền của nhà nước đã tuyên đối với một cá nhân mà nội dung chủ yếu là những thông tin liên quan đến bản án hình sự.

Trong tiếng Pháp từ “casier” có nghĩa là cái tủ hoặc cái giá nhiều ngăn, diễn tả nội dung công việc của lý lịch tư pháp là việc sắp xếp, phân bổ ra nhiều ngăn khác nhau. Thuật ngữ thứ hai “judiciaire” có nghĩa là tư pháp. Như vậy, theo cách gọi của tiếng Pháp từ “casier judiciaire” được hiểu là những ngăn tủ có chứa đựng những hồ sơ về tư pháp. Nói một cách khác, lý lịch tư pháp là “bộ nhớ” lưu giữ các thông tin về bản án hình sự, thông tin về thương mại, hành chính…

Lý lịch tư pháp theo quy định của pháp luật Bỉ được hiểu là một hệ thống xử lý tự động, có nhiệm vụ đảm bảo việc đăng ký, lưu trữ và thay đổi các dữ liệu liên quan đến các bản án, quyết định trong lĩnh vực hình sự và quốc phòng.

Khác với khái niệm lý lịch tư pháp của Pháp và Bỉ, theo quy định của Luật về đăng ký Trung ương (Bundeszentralregistergesets BZRG ngày 18/3/1971) của Cộng hoà liên bang Đức, lý lịch tư pháp được hiểu là việc đăng ký, lưu trữ, xử lý các thông tin về bản án hình sự của toà án, thông tin liên quan đến quyết định của cơ quan hành chính và toà án về vi phạm trong công nghiệp và thương mại; các quyết định của cơ quan công tố hình sự về việc truy tố đang thực hiện đối với một người nào đó.

            Ở Việt Nam, trước khi có Luật Lý lịch tư pháp, khái niệm “lý lịch tư pháp” được hiểu một cách chung nhất là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Toà án và tình trạng thi hành bản án đó. Tại điểm 1 phần I Thông tư liên tịch Bộ Tư pháp - Bộ Công an số 07/1999/TTLT-BTP-BCA ngày 08 tháng 02 năm 1999 quy định việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp quy định “Phiếu lý lịch tư pháp là loại Phiếu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại điểm 5 mục I của Thông tư liên tịch này, cấp cho người có yêu cầu nhằm xác nhận người đó có hoặc không có tiền án”.     

            Ngày 17 tháng 6 năm 2009, Luật Lý lịch tư pháp đã được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ năm thông qua. Theo quy định của Luật, Lý lịch tư pháp là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. Như vậy, khái niệm lý lịch tư pháp không chỉ bao gồm các thông tin liên quan đến bản án hình sự mà còn bao gồm các thông tin liên quan đến các quyết định của Toà án về cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã theo theo quy định của Luật Phá sản.

            Việc ghi nhớ án tích của người phạm tội không phải chỉ có trong luật hình của thế giới hiện đại và được lưu giữ bằng các phiếu của lý lịch tư pháp. Ngay từ thời trung cổ, luật hình của nhiều nước đã quy định việc ghi nhớ án tích bằng cách thích chữ vào mặt hoặc chặt các ngón tay, ngón chân hoặc cắt tai… của kẻ phạm tội, tùy theo từng loại tội. Hình thức thích chữ vào mặt thường được áp dụng đối với tội đại hình với hình phạt lưu đày. Còn hình thức chặt ngón tay, ngón chân thường được áp dụng đối với loại tội như tội trộm cắp. Hình phạt này vừa có ý nghĩa là hình phạt vừa có ý nghĩa là để ghi nhớ án tích của kẻ phạm tội.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900 6162

 

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - Ảnh minh họa

 

            Lý lịch tư pháp thành văn ra đời thay thế cho hình thức ghi nhớ hình phạt  như trên của thời trung cổ. Lý lịch tư pháp thành văn so với hình thức ghi nhớ hình phạt thời trung cổ có những ưu điểm sau đây:

            - Thứ nhất, Lý lịch tư pháp thành văn không làm đau đớn và nhục nhã cho thân thể của can phạm.

            - Thứ hai, trong lý lịch tư pháp thành văn có thể cho ta biết một cách đầy đủ, chi tiết một số thông tin về người phạm tội như: họ, tên, tuổi, nơi sinh, nơi cư trú, tội danh, hình phạt, toà án đã xét xử, thời gian thi hành hình phạt, người phạm tội đã có bao nhiêu tiền án… Những thông tin này là hết sức cần thiết không những đối với lĩnh vực tố tụng (bao gồm cả điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án) mà cả với quản lý hành chính Nhà nước và quản lý xã hội.

            Lý lịch tư pháp thành văn phổ biến nhất, đó là hình thức Sổ bộ ghi chép các bản án mà Toà án đã tuyên hàng năm. Căn cứ vào Sổ bộ của Toà án, người ta có thể truy tìm được án tích của một người nào đó. Tuy nhiên, hình thức sổ bộ vẫn còn những điểm hạn chế:

            - Thứ nhất, Sổ bộ là cuốn sổ chung trong đó ghi chép án tích của nhiều người chứ không phải của riêng mỗi người. Hơn nữa, sổ bộ lại thay đổi theo từng năm (thường mỗi năm lại thay sổ mới). Vì vậy, khi muốn tra cứu án tích một người nào đó ta phải lần tìm trong tất cả những quyển sổ bộ xem có án tích của người đó hay không. Điều này lại càng phức tạp, khó khăn hơn khi đương sự thay đổi chỗ ở dẫn tới thay đổi toà án có thẩm quyên xét xử. Tóm lại, trong trường hợp này, muốn không bỏ sót án tích của một người thì phải tra cứu, tổng hợp có khi đến hàng trăm quyển Sổ bộ.

            - Thứ hai, Sổ bộ thường chỉ ghi được những thông tin ban đầu (tức là những bản án và những quyết định ban đầu của Toà án) mà không có những thông tin bổ sung như: các quyết định về ân xá, xoá án tích, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án… Nói cách khác, những thông tin trong sổ bộ không phản ánh được diễn biến của can phạm trong quá trình thi hành bản án. Mặt khác, thông tin về tiền án không phải chỉ cần cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm mà các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội … cũng rất cần biết ở những mức độ khác nhau để hỗ trợ công tác nhân sự của cơ quan mình.

Khắc phục những nhược điểm nói trên của hình thức Sổ bộ, ngày nay theo quy định của pháp luật nhiều nước trên thế giới, việc cung cấp, cập nhật, xử lý  các thông tin lý lịch tư pháp được ghi trong Lý lịch tư pháp (điều này có nghĩa là sẽ có một Lý lịch tư pháp được lập riêng cho từng người phạm tội) và việc cung cấp các thông tin được ghi trong lý lịch tư pháp theo yêu cầu của cá nhân, một số cơ quan, tổ chức có quyền cung cấp thông tin lý lịch tư pháp được thể hiện thông qua hình thức Phiếu lý lịch tư pháp.

Như vậy, tuỳ theo điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau và thiết chế tư pháp đặc thù mà mỗi nước có khái niệm lý lịch tư pháp phù hợp. Khái niệm lý lịch tư pháp thể hiện phạm vi quản lý lý lịch tư pháp và chính phạm vi quản lý lý lịch tư pháp quyết định toàn bộ nội dung, quy mô, cơ chế quản lý lý lịch tư pháp.

            2. Phân biệt Lý lịch tư pháp với tàng thư căn cước can phạm

            Lý lịch tư pháp và căn cước can phạm là hai loại hồ sơ chủ yếu tạo thành hồ sơ hình sự của một cá nhân. Căn cước can phạm là một loại hồ sơ phục vụ cho công tác điều tra. Thông thường ở nhiều nước, hồ sơ này do cơ quan cảnh sát lập và quản lý. Khi có một người nào đó bị bắt, cơ quan cảnh sát tiến hành lập căn cước của người đó. Trong căn cước gồm có: họ, tên; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; nơi cư trú; họ, tên, của cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con; ni bị bắt; ngày, tháng, năm bị bắt; lý do bị bắt (những thông tin này khi lập trong căn cước gọi là danh bản). Đồng thời với việc lập danh bản, cảnh sát  tiến hành lấy điểm chỉ vân tay gồm 10 ngón tay của đương sự (việc điểm chỉ vân tay được gọi là chỉ bản). Những thông tin này được lưu tại cơ quan cảnh sát và lập thành hồ sơ căn cước can phạm của đối tượng.

Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp không thay thế cơ sở dữ liệu tàng thư căn cước can phạm của ngành Công an quản lý. Hai hệ thống này song song tồn tại nhưng sẽ không trùng lặp nhau, bổ sung cho nhau, không loại trừ nhau, thể hiện qua những khía cạnh cơ bản sau đây:

            Thứ nhất, về nội dung thông tin: Tàng thư căn cước can phạm được thu thập từ nhiều nguồn và lưu trữ các thông tin không chỉ là án tích mà cả những “tiền sự”, cũng như những thông tin khác được thu thập từ hoạt động nghiệp vụ. Trong khi đó, dữ liệu lý lịch tư pháp chỉ lưu trữ những thông tin về án tích và tình trạng thi hành án của người bị kết án. Ở một số nước, những án tích đã được xoá theo quy định của pháp luật hình sự thì đồng thời cũng được xử lý trong dữ liệu lý lịch tư pháp. Mặt khác, theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ năm thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2009, Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp còn lưu trữ những thông tin về việc cấm đảm nhiệm chức vụ; thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Toà án tuyên bố phá sản. Đây là những thông tin hoàn toàn mới, không có trong dữ liệu tàng thư căn cước can phạm.

Thứ hai, về mục đích sử dụng: Tàng thư căn cước can phạm có nhiệm vụ chủ yếu phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và các yêu cầu nghiệp vụ của cơ quan điều tra; dữ liệu lý lịch tư pháp cũng góp phần hỗ trợ cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, nhưng chủ yếu là cho các hoạt động mang tính dân sự theo nhu cầu của các cá nhân cần chứng minh về bản thân trước các cơ quan, tổ chức trong những trường hợp pháp luật quy định.

Thứ ba, về chế độ quản lý và khai thác thông tin: Tàng thư căn cước can phạm là cơ sở dữ liệu mật do ngành Công an quản lý; phạm vi khai thác thông tin chủ yếu phục vụ các cơ quan điều tra, truy tìm tội phạm, hoàn thiện hồ sơ vụ án và những người bị khởi tố, các cơ quan kiểm sát trong quá trình hoàn thiện hồ sơ truy tố và tòa án khi xét xử, đồng thời đáp ứng yêu cầu của cơ quan, tổ chức khác như phục vụ công tác nhân sự, bầu cử.. Trong khi đó, dữ liệu lý lịch tư pháp được dùng để tra cứu, cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho đối tượng chủ yếu là các cá nhân; trong khi đó các cơ quan tố tụng hình sự chỉ yêu cầu Phiếu lý lịch tư pháp trong những trường hợp cần thiết. Phiếu lý lịch tư pháp được cấp theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng chỉ có ý nghĩa là “hỗ trợ” hoạt động tố tụng, trong việc xác định bị can, bị cáo tái phạm hay không tái phạm.

Theo quy định của pháp luật một số nước, mỗi năm công dân có quyền yêu cầu cơ quan quản lý lý lịch tư pháp cho biết cơ quan này đang lưu trữ những thông tin gì về mình, trong trường hợp họ phát hiện có sai sót thì có quyền yêu cầu sửa đổi, hoặc có thể khiếu nại. Ví dụ, theo quy định của pháp luật Thụy Điển, mỗi năm một lần cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan quản lý lý lịch tư pháp cung cấp cho cá nhân biết những thông tin nào của cá nhân đang được lưu trữ trong hệ thống dữ liệu. Trường hợp cá nhân phát hiện những thông tin được lưu trữ sai thực tế, cá nhân có quyền khiếu nại, trình bày với cơ quan quản lý lý lịch tư pháp hoặc kiện ra Toà án yêu cầu cơ quan quản lý lý lịch tư pháp phải sửa đổi lại thông tin liên quan đến mình. Người thu thập thông tin sai ngoài việc bị áp dụng hình phạt (Đạo luật Dữ liệu cá nhân có điều khoản quy định về xử phạt trong trường hợp đưa thông tin về cá nhân sai và điều khoản áp dụng cho người phụ trách trong việc thu thập thông tin liên quan đến cá nhân - Mục 49) còn phải bồi thường thiệt hại “Người kiểm soát dữ liệu cá nhân sẽ bồi thường cho đối tượng dữ liệu cá nhân những thiệt hại và sự xâm phạm tính toàn vẹn cá nhân mà việc khai thác dữ liệu cá nhân gây ra do vi phạm Đạo luật này. Trách nhiệm chi trả bồi thường có thể, nếu xét thấy hợp lý, được điều chỉnh nếu người cung cấp dữ liệu cá nhân chứng minh được rằng lỗi đó không phải do họ gây ra” (Mục 48 Đạo luật Dữ liệu cá nhân).

            3. Ý nghĩa của Lý lịch tư pháp

Lý lịch tư pháp có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống dân sự của công dân, cũng như trong quản lý nhân sự và hỗ trợ hoạt động tố tụng hình sự, cụ thể như sau:

- Thứ nhất, đáp ứng yêu cầu của cá nhân cần chứng minh bản thân có hay không có án tích, có bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản…. Các thông tin lý lịch tư pháp về cá nhân được cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cung cấp dưới hình thức Phiếu lý lịch tư pháp. Phiếu lý lịch tư pháp giúp cá nhân chứng minh về tình trạng tiền án…theo yêu cầu của các cơ quan hữu quan. Bởi vậy, việc giải quyết cấp Phiếu lý lịch tư pháp có ý nghĩa là một hoạt động phục vụ của Nhà nước nhằm giúp công dân thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

- Thứ hai, Lý lịch tư pháp là nguồn cung cấp những thông tin chính thức về quá khứ nhân thân của bị can, bị cáo để cơ quan điều tra, truy tố, xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với họ trong khi giải quyết những vụ việc cụ thể. Xét theo góc độ này thì những thông tin mà cơ quan lý lịch tư pháp cung cấp cho các cơ quan tiến hành tố tụng có giá trị trong việc xem xét, xác định bị can, bị cáo tái phạm hay không tái phạm.

Ở các nước có hệ thống quản lý lý lịch tư pháp, khi Viện công tố chuẩn bị truy tố một bị can nào đó thường phải gửi một phiếu yêu cầu đến cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp nhằm xác nhận về tình trạng tiền án của bị can và trong hồ sơ truy tố có kèm theo cả Phiếu lý lịch tư pháp để làm căn cứ xác định bị can tái phạm hay không tái phạm.

- Thứ ba, Lý lịch tư pháp ghi nhận việc xoá án tích của người bị kết án.

Thực hiện chính sách tái hoà nhập cộng đồng của người phạm tội sau khi đã chấp hành xong bản án, theo đó, những người phạm tội sau khi đã chấp hành xong bản án được xã hội tạo điều kiện để tái hoà nhập cộng đồng trên cơ sở tôn trọng quyền con người. Pháp luật của nhiều nước và ở nước ta đều  có quy định về vấn đề xoá án tích sau khi người phạm tội đã chấp hành xong hình phạt và đã qua thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Lý lịch tư pháp được xem như một yếu tố đảm bảo không có sự phân biệt đối xử đối với người phạm tội sau khi đã chấp hành xong bản án, điều này được thể hiện ở chỗ người đã từng bị kết án khi đủ điều kiện đương nhiên được xoá án tích hoặc đã được toà án quyết định xoá án tích, thì được coi như chưa bị kết án. Do vậy, những người này khi có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, cơ quan quản lý lý lịch tư pháp sẽ cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người đó và trong nội dung của Phiếu lý lịch tư pháp sẽ ghi là “không có án tích”. Phiếu lý lịch tư pháp trong đó ghi “không có án tích” sẽ tạo điều kiện cho người bị kết án tái hoà nhập cộng đồng, bớt mặc cảm và không bị cộng đồng phân biệt đối xử. Thực tế cho thấy người đã được xoá án tích khi tham gia vào một số quan hệ xã hội có yêu cầu phải có Phiếu lý lịch tư pháp, Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận với nội dung “không có án tích”, người được xoá án tích mới “thực sự” được coi như chưa bị kết án và hoà nhập cộng đồng một cách dễ dàng hơn.

- Thứ tư, Lý lịch tư pháp là một trong những nguồn thông tin để các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị… xem xét, đánh giá tư cách đạo đức của cá nhân (chứng minh cá nhân có hay không có tiền án). Vì vậy, pháp luật nhiều nước trên thế giới và Việt Nam trong những năm gần đây có quy định về việc phải có Phiếu lý lịch tư pháp khi tham gia một số quan hệ pháp luật nhất định như khi xem xét việc xuất cảnh, nhập cảnh, cho nhập, thôi, trở lại quốc tịch, nuôi con nuôi; cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, kiểm toán, y dược tư nhân; tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, du học....

            II. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP VIỆT NAM TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

            1. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về lý lịch tư pháp

            1.1. Lý lịch tư pháp thời kỳ Pháp thuộc và ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975

Thời kỳ Pháp thuộc, chế độ lý lịch tư pháp ở nước ta được tổ chức khá chặt chẽ và có hệ thống nhằm phục vụ cho bộ máy tư pháp của chế độ thực dân. Thời kỳ này, ở mỗi cấp Toà án đều có phòng lục sự với chức năng lập, lưu giữ và cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Lý lịch tư pháp được lập trên cơ sở các bản án đã có hiệu lực pháp luật, trong đó ghi các nội dung như: họ, tên; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; trú quán; tên của bố, mẹ, vợ, con; toà án đã xét xử vụ án; ngày, tháng,  năm xét xử; tội danh; hình phạt...

Một bản án sau khi được tuyên thì trích lục bản án đó được gửi cho Phòng lục sự, nơi Toà án đã tuyên bản án. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật (hết thời hạn kháng cáo), Chánh lục sự có trách nhiệm thông báo cho chính quyền địa phương nơi sinh và nơi cư trú của người phạm tội biết.

Một bản án phúc thẩm được tuyên thì Chánh lục sự Toà thượng thẩm có trách nhiệm thông báo cho Chánh lục sự nơi Toà án đã xử sơ thẩm vụ án đó để ghi án cuối cùng vào Lý lịch tư pháp. Lý lịch tư pháp thực sự có giá trị pháp lý để Tòa án xem xét xác định bị cáo tái phạm hay không tái phạm. Lý lịch tư pháp được cấp theo yêu cầu của ông biện lý, đương sự, cơ quan nhà nước khi cần thiết theo quy định của pháp luật.

Mô hình tổ chức và các nguyên tắc quản lý lý lịch tư pháp trên đây về sau này được tiếp tục áp dụng ở miền Nam Việt Nam dưới chế độ Việt Nam cộng hoà. Ngày 01/9/1951 Vua Bảo đại đã ban hành Dụ số 14 quy định chi tiết “về lý lịch tư pháp và phục quyền”, theo đó, đã thiết lập được tổ chức lý lịch tư pháp tương đối hoàn chỉnh từ Trung ương đến địa phương. Ở Trung ương có Phòng Văn quỹ lý lịch tư pháp đặt tại Bộ Tư pháp và ở địa phương có Văn quỹ lý lịch tư pháp hàng tỉnh đặt tại mỗi Toà sơ thẩm hoặc Toà hoà giải rộng quyền “Nay thiết lập một văn quỹ tư pháp lý lịch trung ương tại Bộ Tư pháp và một văn quỹ tư pháp lý lịch hàng tỉnh tại mỗi Toà sơ thẩm hoặc Toà hoà giải rộng quyền” (Điều thứ nhất).

Theo Dụ nói trên, có 3 loại Phiếu lý lịch tư pháp, đó là Phiếu số 1, Phiếu số 2 và Phiếu số 3. Phiếu số 1 được lập riêng cho từng người can án. Điều thứ tư, Dụ số 14 quy định, trong Phiếu số 1 phải lược biên như sau:

“1. Án xử đương tịch hay khiếm diện và án xử khuyết tịch không bị kháng án do các Toà án tuyên xử về trọng tội hay khinh tội;

2. Án xử miễn nghị đối với những vị thành niên 16 tuổi hoặc 18 tuổi vì phạm pháp không trí thức, dù gặp trường hợp vị thành niên được giao cho cha mẹ bảo quản cũng phải biên vào;

            3. Án xử vì vi phạm trong các phiên tòa của Tòa án hộ;

            4. Án do các Tòa án quân sự và hải sự tuyên xử;

            5. Quyết nghị trừng giới của nhà chức trách tư pháp hay của một nhà chức trách hành chính trong trường hợp quyết nghị ấy tước mất một phần quyền của bị can.

            6. Án văn tuyên cáo sự vỡ nợ hay sự tài phán thanh toán;

            7. Nghị định trục xuất đối với ngoại kiều;

            8. Án xử cấm cư trú.

Ngoài những nội dung nêu trên, trong Phiếu số 1 cũng phải ghi chú luôn cả những quyền án, ân giảm, hoán giảm hoặc giảm tội, những quy định hoãn thi hành tội sơ phạm, những nghị định phóng thích có điều kiện hoặc thu hồi sự phóng thích ấy, những sự phục quyền và các án văn về tội phát lưu, những quyết định thu hồi và đình chỉ các nghị định về sự trục xuất, về sự trả tiền phạt và về sự tái phạm trong trường hợp gặp một người đã có Phiếu số 1 trước rồi (Điều thứ năm).

Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày phán quyết đương tịch thành nhất định, viên chánh lục sự tại toà án phải lập phiếu số 1 về những bản án xử phạt về khinh tội hay trọng tội do toà án hình hoặc hộ tuyên xử, hay về những án văn tuy cáo sự vỡ nợ hoặc sự tài phán thanh toán. Đối với các phán quyết khuyết tịch của các toà tiểu hình, thời hạn ấy kể từ ngày hết hạn kháng cáo hay thượng cáo. Các quyết nghị trừng giới hành chính và các nghị định trục xuất, nhà chức trách hành chính nào đã ra quyết nghị hoặc nghị định ấy phải thông tri trong thời gian ngắn nhất cho Bộ Tư pháp (Văn quỹ tư pháp lý lịch trung ương) biết để văn quỹ này lập phiếu số 1; và nếu cần một phó bản phiếu ấy sẽ gửi đến văn quỹ tư pháp lý lịch nơi chính quán (Điều thứ 6).

Phiếu số 1 không phải được lưu trữ mãi mãi, mà theo chỉ thị của Tổng trưởng Bộ Tư pháp sẽ loại bỏ từng thời kỳ các phiếu số 1 của những người đã chết hoặc ngoài 70 tuổi. Mặt khác, những phiếu số 1 mà sự xử phạt đã được giải trừ vì đại xá hay được canh cải theo một quyết nghị cho sửa đổi tư pháp lý lịch, cũng được lấy ra khỏi văn quỹ tư pháp lý lịch (Điều thứ 9).

Phiếu số 2 là phiếu được lập cho cá nhân đã có Phiếu số 1 trước đó. Phiếu số 2 sẽ cấp cho các thẩm phán ở phòng công tố và phòng dự thẩm, cho giám đốc cảnh sát, cho các chánh án các toà thương mại để đính vào hồ sơ vỡ nợ và sự thanh toán tài phán, cho các nhà chức trách quân sự và hải sự và lính tráng triệu tập vào hàng ngũ, gia nhập vào hải quân, cũng như về các thanh niên tình nguyện đầu binh, cung cấp cho các hội từ thiện được thừa nhận là công ích hay được đặc biệt cho phép vì mục đích ấy, về những người do hội ấy giúp đỡ. Phiếu số 2 cũng được cấp phát cho các công sở quốc gia mỗi khi tiếp nhận được đơn xin việc làm công hay mỗi khi tiếp những đề nghị thăng thưởng ân tứ, hay trong các vụ đấu thầu công tác và hợp đồng, hay dùng để truy tố ai về phương diện kỷ luật, hay để cho mở một trường tư thục nào. Nếu trong Văn quỹ tư pháp lý lịch không có phiếu số 1 nào thì trong phiếu số 2 phải ghi là “không” (Điều thứ 10).

Phiếu lý lịch tư pháp số 3 là phiếu được cấp cho cá nhân. Phiếu số 3 là bản trích lục của Phiếu số 1, trong đó có loại trừ một số nội dung sau đây:

1. Những bản án miễn nghị cho một vị thành niên phạm pháp vì không tri thức và truyền giao cho cha mẹ bảo lãnh hoặc giao cho Sở trừng giới nào nhận quản trong một thời hạn đã định;

            2. Những hình phạt nào đã bị xóa bỏ bởi sự phục quyền;

            3. Những án phạt tù treo có hay không có phạt bạc mà đã quá 5 năm kể từ ngày tuyên án, can phạm không bị xử phạt về một tội tiểu hình hay đại hình nào khác;

            4. Những sự tuyên cáo vỡ nợ mà kẻ vỡ nợ được tòa xét là có thể dung thứ hay được các chủ nợ thỏa thuận ký kết hiệp hài khế ước và những sự tuyên cáo thanh toán tài phán.

            Nếu vừa can các khoản nói trên đây lại vừa can các án khác nữa thì chỉ các án sau này mới được biên trong phiếu số 3.

            Điều thứ 16 quy định, một số án phạt quá kỳ hạn sau đây cũng không ghi vào phiếu lý lịch tư pháp số 3:

            1.  2 năm sau khi mãn hạn câu giam, nếu chỉ bị có một tội phạt giam 6 ngày hay là một tội phạt giam dưới 6 ngày ấy và thêm phạt bạc không quá 100$;

            2 năm sau khi án thành nhất định, nếu chỉ bị có một tội phạt bạc không quá 200$; 2 năm sau khi có án phán định đối với những vụ tuyên cáo vỡ nợ;

            2. 5 năm sau khi mãn hạn câu giam, nếu chỉ bị có một tội phạt giam 6 tháng hoặc ít hơn, hay là một tội phạt giam 6 tháng hoặc ít hơn ấy và thêm phạt bạc;

            5 năm sau khi án thành nhất định, nếu bị phạt bạc trên 200$

            3. 10 năm sau khi mãn hạn câu giam, nếu chỉ bị có một tội phạt giam 2 năm hoặc ít hơn, hay là bị nhiều tội phạt giam, mà tính dồn lại không quá 1 năm, hay bị nhiều tội phạt giam ấy và thêm phạt bạc. Trong trường hợp lũy phạm về tội câu giam và về tội phạt bạc thời hạn 10 năm trên sẽ kể từ ngày mà hình phạt câu giam đã chịu xong và ngày hình phạt bạc trở nên nhất định.

            4. 15 năm sau khi mãn hạn câu giam nếu chỉ bị có một tội phạt giam trên 2 năm, hay bị tội phạt giam trên 2 năm ấy và thêm phạt bạc nữa, miễn sao đừng trái với chương nói về sự tăng gia và khinh giảm hình phạt. Khi nào trong án có một ngân hình chính hoặc phụ với một hình phạt khác, sự ghi chú ngân hình ấy chỉ được chước miễn khi nào ngân hình đã nạp thanh hay đã tiêu diệt, trừ phi đương sự trưng chứng sự nghèo nàn của y. Sự ân xá tất cả hay một phần hình phạt được xem như đã thi hành tất cả hay một phần hình phạt ấy. Sự thi hành câu thúc thân thể được kể như đã nộp tiền phạt. Gặp trường hợp tiêu diệt thời hiệu một hình phạt câu giam, kỳ hạn nói trên tính kể từ ngày mà hình phạt được trước tiên. Ông Biện lý có nhiệm vụ chứng minh sự chưa thi hành một hình phạt.

            Dụ số 14 cũng quy định rõ về thời hạn, thủ tục để được phục quyền của can phạm. Điều thứ 19 quy định:

            “ Về mặt tư pháp, tất cả mọi can phạm bị xử phạt theo một hình phạt đại hình hay tiểu hình đều có thể xin phục quyền.

            Người can án theo một hình phạt đại hình thì kể từ khi tha về được 5 năm rồi mới được xin phục quyền.

            Hạn ấy rút xuống 3 năm đối với những người bị xử theo một hình phạt tiểu hình”.

            Dụ số 14 cũng quy định những chế tài đối với người mạo danh người khác để khai gian hộ tịch làm phát sinh một án phạt trong lý lịch tư pháp của người khác không phải là bị can. Điều thứ 30 quy định:

            “Kẻ nào tiếm hộ tịch của người khác làm phát sinh ra hoặc có thể phát sinh ra sự ghi chú một án phạt trong tư pháp lý lịch của người ấy sẽ bị phạt giam từ 6 tháng đến 5 năm, sự trừng phạt này không cản trở việc truy tố về tội giả mạo, nếu cần.

            Cũng bị trừng trị theo hình phạt trên kẻ nào khai gian hộ tịch của một bị can để cố ý gây ra sự ghi chú một án phạt trên phiếu tư pháp lý lịch của một người khác không phải là bị can”.

            Kẻ nào mạo danh hoặc mạo chức vụ, tư cách của người khác hoặc dùng phương pháp gian trá gì khác để xin bản thân phiếu (tức phiếu số 3) của người khác sẽ bị phạt giam từ 1 tháng đến 1 năm (Điều thứ 31). 

            1.2. Quản lý lý lịch tư pháp từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 đến năm 1955

            Ở nước ta, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, cùng với việc hình thành và phát triển bộ máy tư pháp, hệ thống pháp luật về lý lịch tư pháp cũng được hình thành và trải qua các bước phát triển khác nhau phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn cách mạng đặt ra trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước.

            Ngày 02/9/1945 Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, cùng với cuộc kháng chiến chống thực dân pháp, Nhà nước ta đã chú trọng đến việc xây dựng hệ thống pháp luật để nhằm quản lý, duy trì trật tự xã hội, bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng cũng như bảo vệ chính quyền nhân dân còn non trẻ. Ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 47 cho phép áp dụng tạm thời các luật lệ hiện hành của thực dân pháp nếu xét không trái với những mục tiêu cơ bản của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà “cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này…” (Điều thứ nhất). Tiếp theo sắc lệnh số 47 năm 1945, ngày 24/01/1946 Chủ tịch nước đã ký sắc lênh số 13 về việc tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Theo quy định tại sắc lệnh số 13, mỗi ban tư pháp xã có một thư ký giữ công việc lục sự: lưu giữ công văn, làm các giấy tờ, biên bản. Ở mỗi quận (phủ, huyện, châu) có một Toà án sơ cấp. Toà án sơ cấp gồm có một Thẩm phán, một Lục sự và một hay nhiều Thư ký giúp việc. Ở mỗi tỉnh và ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn - Chợ Lớn, có một toà án đệ nhị cấp. Toà án đệ nhị cấp gồm có một Chánh án, một Chánh Lục sự và những Thư ký giúp việc. Ở mỗi Kỳ có một Toà Thượng thẩm. Toà Thượng thẩm Bắc Kỳ đặt ở Hà Nội, Toà Thượng thẩm Trung kỳ đặt ở Thuận Hoá (Huế), Toà Thượng thẩm Nam kỳ đặt ở Sài Gòn. Mỗi Toà thượng thẩm gồm có một Chánh nhất, các Hội thẩm, một Chánh Lục sự, các Lục sự và thư ký….

            Tuy nhiên, những năm sau cách mạng tháng tám vì nhiều những nguyên nhân khách quan và chủ quan nên công tác lý lịch tư pháp cũng không có điều kiện đầu tư và chú trọng nhiều.

            1.3. Quản lý lý lịch tư pháp từ năm 1955 đến năm 1993

             Ngày 02/11/1955 Bộ Tư pháp và Bộ Công an ban hành Thông tư số 1909/UHC về việc theo dõi tư pháp lý lịch và căn cước của bị can và những người bị tình nghi. Trong Thông tư này nói rõ việc theo dõi căn cước và tư pháp lý lịch bị can và những người bị tình nghi giúp cho Công an và Toà án hiểu biết  được quá khứ, lý lịch của bọn chúng, điều tra có kết quả các vụ phạm pháp hoặc có kế hoạch ngăn ngừa đề phòng chúng phá hoại trật tự an ninh xã hội hoặc trà trộn chui vào nội bộ ta.

            Đối với việc xét xử, nó giúp cho toà án tuyên án đúng mức, thi hành đúng chính sách trừng trị.

            Khi bị can đã xử tù, vì nắm vững căn cước, lý lịch của chúng, ta có thể có kế hoạch thích hợp với từng loại phạm nhân, nếu chúng trốn ta có thể truy tìm dễ dàng hơn.

            Về mặt tổ chức quản lý, Thông tư số 1909 đã xác định: cần phải thống nhất vào Ty Công an tỉnh và Phòng căn cước (Bộ Nội vụ nay là Bộ Công an) nhiệm vụ tập trung những căn cước và tư pháp lý lịch của những bị can và những người bị tình nghi.

            Ty Công an tỉnh và phòng căn cước Bộ Công an là những cơ quan có nhiệm vụ chính trong việc theo dõi và tập trung tài liệu về căn cước, tư pháp lý lịch của những bị can và những người bị tình nghi. Các toà án nhân dân tỉnh sẽ bàn giao cho Ty Công an tỉnh tất cả những tài liệu về tư pháp lý lịch (hoặc trích lục phiên toà cũ) của những bị can mà các toà án đã giữ được. Đồng thời Thông tư còn quy định sự phối hợp giữa Ủy ban nhân dân tỉnh, Ty công an và các toà án trong việc theo dõi tư pháp lý lịch, căn cước của những bị can và những người bị tình nghi.

            Như vậy, theo tinh thần thông tư 1909, các Toà án nhân dân đã chuyển giao các tài liệu về tư pháp lý lịch và trích lục phiên toà cũ của những bị can mà các Toà án đã tàng trữ được sang cho các Ty công an. Kể từ đó công tác lý lịch tư pháp và hồ sơ căn cước can phạm được tập trung vào một hệ thống cơ quan thuộc Bộ Công an. Trong hệ thống này, công tác quản lý lý lịch tư pháp chỉ là một phần trong công tác hồ sơ tàng thư và do đó không được quản lý theo những nguyên tắc riêng biệt của lý lịch tư pháp.

            1.4. Giai đoạn từ 1993 đến nay

            Ngày 04 tháng 6 năm 1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 38-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp, trong đó có đề cập đến chức năng, nhiệm vụ về thống nhất quản lý lý lịch tư pháp.  Điều 2 mục 4 về công tác tư pháp khác quy định: "Thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với tổ chức và hoạt động luật sư; công chứng, giám định, hộ tịch và các hoạt động tư pháp khác; trình Chính phủ quyết định (hoặc quyết định theo sự ủy quyền của Chính phủ) quy chế tổ chức và hoạt động của các tổ chức luật sư, công chứng, giám định, thống nhất quản lý các biểu mẫu, sổ sách về công chứng, hộ tịch, thống kê tư pháp, lý lịch tư pháp; quản lý các công việc về quốc tịch theo quy định của pháp luật". Thông tư liên bộ 12/TTLB ngày 26/7/1993 của Bộ Tư pháp và Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 38/1993/NĐ - CP đã đề cập đến công tác lý lịch tư pháp và coi đây là một trong các nhiệm vụ của Ngành Tư pháp. Điểm 5, phần I quy định: "Quản lý các hoạt động công chứng, giám định tư pháp theo quy định của Bộ Tư pháp; chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ và kiểm tra thực hiện công tác hộ tịch, lý lịch tư pháp thống kê tư pháp theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp". Nội dung này tiếp tục được khẳng định tại Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp và nay là Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp (điểm a khoản 11 Điều 2). Tại điểm g khoản 12 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ  hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và công tác tư pháp của Ủy ban nhân dân cấp xã, Sở Tư pháp có nhiệm vụ “cấp Phiếu lý lịch tư pháp, quản lý, lưu trữ hồ sơ lý lịch tư pháp theo quy định của pháp luật”.

Để đáp ứng nhu cầu của công dân Việt Nam xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp để xin việc làm ở nước ngoài, xuất khẩu lao động… có xu hướng ngày càng tăng, ngày 08/02/1999, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch số 07/1999/TTLT-BTP-BCA quy định việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp (sau đây gọi tắt là Thông tư số 07). Theo quy định của Thông tư số 07, việc cấp phiếu lý lịch tư pháp thuộc thẩm quyền của Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Sở Tư pháp).

Sở Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Công an cấp tỉnh) và  trong trường hợp cần thiết với Toà án, để xác minh lý lịch tư pháp của đương sự.

Phiếu lý lịch tư pháp do Sở Tư pháp cấp cho người có yêu cầu nhằm xác nhận người đó có hoặc không có tiền án.

Cũng theo quy định tại Thông tư số 07, người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp phải nộp một khoản lệ phí theo quy định của pháp luật. Cụ thể hoá mức lệ phí mà người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp phải nộp khi có yêu cầu xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp, ngày 18/9/2000 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 146/2000/QĐ-BTC về việc ban hành mức thu lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Năm 2004 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành quyết định số 94/2004/QĐ-BTC ngày 7/12/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành mức thu lệ phí cấp Phiếu Lý lịch tư pháp (thay thế Quyết định số 146/2000/QĐ-BTC).

Có thể nói, tính đến trước thời điểm ban hành Luật lý lịch tư pháp, thông tư liên tịch số 07 là  cơ sở pháp lý duy nhất quy định một cách thống nhất trình tự, thủ tục, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa cơ quan Tư pháp và cơ quan Công an trong giải quyết cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho công dân Việt Nam và người nước ngoài có thời gian cư trú tại Việt Nam.

            2. Những quy định pháp luật liên quan đến lý lịch tư pháp

            Bên cạnh những văn bản quy định trực tiếp về lý lịch tư pháp thì hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến lý lịch tư pháp tương đối rộng lớn, bao gồm các lĩnh vực hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh hành nghề…

- Theo quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, việc tìm hiểu quá khứ hình sự của một người là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều 3 Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định nguyên tắc xử lý “... Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng”. Đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu “Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra”, “Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục”.

Pháp luật hình sự cũng quy định cụ thể các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tái phạm, tái phạm nguy hiểm... là một trong những căn cứ để quyết định hình phạt. Những thông tin do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cung cấp theo yêu cầu của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử có giá trị trong việc xem xét, xác định bị can, bị cáo tái phạm hay không tái phạm.

- Trong các lĩnh vực như dân sự, hôn nhân – gia đình, kinh doanh, hành nghề... có rất nhiều văn bản pháp luật của nhà nước ta quy định cụ thể một trong những giấy tờ phải có khi tham gia vào một số quan hệ pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự, kinh doanh, hành nghề là phải có Phiếu lý lịch tư pháp, cụ thể:

+ Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam quy định, người nước ngoài xin thường trú thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 13 của Pháp lệnh (trường hợp là vợ, chồng, con, cha, mẹ của công dân Việt Nam thường trú ở Việt Nam được xem xét, giải quyết cho thường trú tại Việt Nam) khi nộp hồ sơ tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an hoặc tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, một trong những giấy tờ phải có trong hồ sơ là Lý lịch tư pháp có xác nhận của cơ quan có  thẩm quyền của nước mà người đó là công dân.

+ Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 03/2002/NĐ-CP ngày 07/01/2002 về bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí quy định: “Việc tuyển dụng người lao động vào làm việc cho Tổng công ty Dầu khí Việt Nam phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về lao động và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, trong hồ sơ tuyển dụng phải có lý lịch tư pháp...”.

+ Nghị định số 105/2003/NĐ-CP ngày 17/9/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam quy định một trong những giấy tờ phải có trong hồ sơ xin việc làm của người nước ngoài là Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người lao động cư trú. Trường hợp, người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam từ 06 (sáu) tháng trở lên thì ngoài phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp còn phải có phiếu lý lịch tư pháp do Sở Tư pháp của Việt Nam nơi người nước ngoài đang cư trú cấp (Điều 5).

+ Luật Luật sư ngày 29 tháng 6 năm 2006 quy định một trong những giấy tờ phải có trong hồ sơ xin cấp Chứng chỉ hành nghề Luật sư, gia nhập đoàn Luật sư là Phiếu lý lịch tư pháp (Điều 17, Điều 20).

+ Điều 41 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 quy đinh chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, quy định về hồ sơ của người xin nhận con nuôi:

"1. Hồ sơ của người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi gồm các giấy tờ sau đây:

… …

e) Phiếu lý lịch tư pháp của người xin nhận con nuôi do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó thường trú cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ".

Nội dung này tiếp tục được khẳng định tại Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Khoản 10 Nghị định số 69/2006/NĐ-CP quy định trong hồ sơ của người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phải có Phiếu lý lịch tư pháp của người xin nhận con nuôi do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó thường trú cấp chưa quá 12 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ.

+ Thông tư số 01/2004/TT-BYT ngày 06 tháng 01 năm 2004 hướng dẫn về hành nghề y, dược tư nhân, người nước ngoài làm công việc chuyên môn trong các cơ sở y, y dược học cổ truyền tư nhân để được Bộ Y  tế cấp giấy phép phải đáp ứng một số điều kiện theo quy định. Một trong những điều kiện đó là “Có lý lịch tư pháp được cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại xác nhận” (Khoản 2 Điều 7).

+ Theo quy định tại Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam (Ban hành kèm theo Quyết định số 121/2008/QĐ-BTC ngày 24  tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính), một trong những giấy tờ phải có trong hồ sơ đăng ký Mã số giao dịch chứng khoán cho nhà đầu tư nước ngoài là Phiếu lý lịch tư pháp (Điều 4).

+ Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam khi nộp hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, một trong những giấy tờ phải có là Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp. Ngoài phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, đối với người xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải có Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian người xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ (Điều 20, Điều 24, Điều 28).

Ngoài các quy định trực tiếp yêu cầu phải có Phiếu lý lịch tư pháp trong các hồ sơ tuyển dụng, xin cấp Chứng chỉ hành nghề, xin nhận con nuôi, xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch ... , trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về điều kiện hành nghề hoặc được bổ nhiệm một chức danh nào đó phải đáp ứng các yêu cầu như: không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đang chấp hành hình phạt tù, đã bị kết án mà chưa được xoá án tích... Ví dụ:

+ Pháp lệnh giám định tư pháp ngày 11/10/2004 quy định người “đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xoá án tích” là một trong những trường hợp không được bổ nhiệm giám định viên tư pháp (điểm a khoản 3 Điều 8).

+ Thông tư số 01/2004/TT-BYT ngày 06 tháng 01 năm 2004 hướng dẫn về hành nghề y, dược tư nhân quy định các cơ sở hành nghề y, dược tư nhân phải có đủ người làm công việc chuyên môn phù hợp với phạm vi hành nghề. Một trong những điều kiện mà người làm công việc chuyên môn trong các cơ sở hành nghề y, dược tư nhân phải đáp ứng, đó là “không đang trong thời gian bị cấm hành nghề hoặc bị cấm làm công việc liên quan đến y tế theo quyết định của Toà án; không đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự…; không đang trong thời gian chấp hành án phạt tù...” (điểm đ khoản 1 Điều 7).

 + Luật doanh nghiệp ngày 29/11/2005 quy định người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam (khoản 2 Điều 13).

+ Luật Luật sư ngày 29/6/2006 quy định về những trường hợp không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, trong đó có trường hợp Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xoá án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý” (điểm c khoản 4 Điều 17).

+ Luật Công chứng ngày 29/11/2006 quy định những trường hợp không  được bổ nhiệm công chứng viên, trong đó có trường hợp “Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xoá án tích về tội phạm do vô ý; đã bị kết án về tội phạm do cố ý” (khoản 2 Điều 19).

+ Luật Trợ giúp pháp lý ngày 29/11/2006 quy định người “đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xoá án tích hoặc đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” là một trong những trường hợp không được tham gia trợ giúp pháp lý.

            + Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự quy định điều kiện tham dự thi tuyển Chấp hành viên phải “không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đáng bị xem xét xử lý kỷ luật nhưng chưa có kết luận và quyết định cuối cùng của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền” (Điều 15).

            Như vậy, có rất nhiều hình thức văn bản khác nhau như Luật, Nghị định,  Thông tư về nhiều lĩnh vực khác nhau do nhiều ngành, nhiều cấp ban hành làm nội dung cho công tác lý lịch tư pháp. Các văn bản pháp luật này là cơ sở để các cơ quan tiếp nhận hồ sơ yêu cầu cá nhân phải xuất trình Phiếu lý lịch tư pháp khi tham gia một số quan hệ pháp luật nhất định.  

Phần thứ hai

GIỚI THIỆU LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

Khái niệm “lý lịch tư pháp” được sử dụng khác nhau theo cách gọi của mỗi nước[1] nhưng đều hàm chứa những nội dung tương tự là ghi nhận thông tin về các chế tài, hình phạt mà cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đã tuyên xử đối với một cá nhân. Ở Việt Nam trong thực tiễn hơn 10 năm qua, khái niệm “lý lịch tư pháp” được hiểu một cách chung nhất là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Toà án và tình trạng thi hành bản án đó. Lý lịch tư pháp có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống dân sự của công dân, cũng như trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Thực tiễn cuộc sống cũng như những yêu cầu mới của pháp luật trong những năm gần đây cho thấy, quản lý lý lịch tư pháp có ý nghĩa ngày càng quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu của cá nhân chứng minh người đó có hay không có án tích, tạo điều kiện cho người bị kết án trong việc xoá án tích, tái hoà nhập cộng đồng, đồng thời góp phần phục vụ công tác quản lý nhân sự của các cơ quan, tổ chức, phục vụ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, thống kê tư pháp vv…

Ở hầu hết các nước, hệ thống quản lý lý lịch tư pháp được thiết lập, phát triển từ hàng chục đến hàng trăm năm nay và có tác dụng tích cực đối với công tác quản lý xã hội, quản lý kinh tế, bảo đảm quyền công dân và hoạt động tố tụng của Nhà nước. 

Ở Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc, ở mỗi cấp Toà án đều có phòng lục sự với chức năng lập, lưu giữ và cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Thời kỳ sau năm 1945, ở vùng Pháp tạm chiếm, chính quyền Bảo Đại đã ban hành Dụ số 14 ngày 01/9/1951 quy định khá chi tiết về lý lịch tư pháp và phục quyền, theo đó thiết lập ở Trung ương Phòng Văn quỹ lý lịch tư pháp đặt tại Bộ Tư pháp và ở địa phương có Văn quỹ lý lịch tư pháp hàng tỉnh đặt tại mỗi Toà sơ thẩm và Toà án thẩm quyền rộng. Mô hình tổ chức và quản lý lý lịch tư pháp này về sau vẫn được tiếp tục áp dụng ở miền Nam trước giải phóng năm 1975.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, theo Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức Toà án và các ngạch thẩm phán ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, quản lý lý lịch tư pháp được coi là công tác hành chính tư pháp do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý. Theo Sắc lệnh này, trong quy định các chức danh về lục sự và các việc lục sự thực hiện có quy định về lập và quản lý lý lịch tư pháp. Sau đó, ngày 02/11/1955, để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, Bộ Tư pháp và Bộ Công an ban hành Thông tư liên bộ số 1909-VHC về việc theo dõi lý lịch tư pháp và căn cước của bị can và những người bị tình nghi. Theo Thông tư này, nhiệm vụ quản lý lý lịch tư pháp được chuyển sang ngành Công an và công tác lý lịch tư pháp, căn cước can phạm được tập trung vào một đầu mối do Bộ Công an đảm nhiệm.

Bước sang thời kỳ đổi mới, bắt đầu từ Nghị định số 38/CP ngày 04/6/1993, tiếp đến là Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 (thay thế Nghị định 38) và nay là Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 (thay thế Nghị định 62) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, Chính phủ đã giao nhiệm vụ quản lý lý lịch tư pháp cho Bộ Tư pháp. Như vậy, thời kỳ này đã có sự phân biệt giữa công tác lý lịch tư pháp (do Bộ Tư pháp quản lý) với công tác tàng thư căn cước can phạm (do Bộ Công an quản lý). Tuy nhiên, trong những năm qua, không diễn ra việc bàn giao chức năng, nhiệm vụ giữa Bộ Công an và Bộ Tư pháp cùng với hồ sơ cũng như bộ máy, nhân sự.

Trong bối cảnh thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế cũng như cùng với tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta, nhu cầu xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp của công dân ngày càng tăng. Trên cơ sở kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08/02/1999, Bộ Tư pháp và Bộ Công an đã ban hành Thông tư liên tịch số 07/1999/TTLT-BTP-BCA (sau đây gọi là Thông tư số 07) quy định cơ chế phối hợp giữa ngành Tư pháp và ngành Công an trong việc cung cấp thông tin từ hệ thống tàng thư căn cước can phạm của Công an để Sở Tư pháp cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Thông tư số 07 được coi là “điểm mốc” đánh dấu sự phát triển của công tác lý lịch tư pháp. Trên cơ sở Thông tư này, công tác quản lý lý lịch tư pháp bắt đầu được triển khai thống nhất trên toàn quốc từ năm 1999. Qua 10 năm thực hiện Thông tư số 07, công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp nhìn chung được triển khai khá tốt trên phạm vi cả nước, đạt được những kết quả đáng khích lệ. Từ năm 1999 đến năm 2008, các Sở Tư pháp đã cấp 699.495 Phiếu lý lịch tư pháp cho công dân Việt Nam và người nước ngoài có thời gian cư trú tại Việt Nam để làm các thủ tục như: xin việc làm, xuất khẩu lao động, du học, thành lập doanh nghiệp, xuất cảnh, thăm thân nhân vv…

Có thể nói, việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp đã đáp ứng kịp thời yêu cầu của công dân Việt Nam và người nước ngoài có thời gian cư trú tại Việt Nam. Thực tiễn giải quyết cấp Phiếu lý lịch tư pháp thời gian qua cho thấy, nhu cầu sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp xuất phát chủ động từ phía người dân khi họ tham gia vào các quan hệ pháp lý. Phiếu lý lịch tư pháp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích theo yêu cầu của các cơ quan có liên quan trong nước và nước ngoài. Bởi vậy, việc giải quyết cấp Phiếu lý lịch tư pháp có ý nghĩa là một hoạt động phục vụ của Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của cá nhân chứng minh về tình trạng tiền án khi tham gia các quan hệ pháp lý ở trong nước và nước ngoài. Phiếu lý lịch tư pháp đã trở thành một trong những giấy tờ cần thiết không thể thiếu để chứng minh cá nhân có hay không có án tích trong những trường hợp cần thiết. Vì vậy, sau khi Thông tư 07 được ban hành, rất nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước ta quy định về việc phải có Phiếu lý lịch tư pháp khi tham gia vào các quan hệ pháp lý, theo đó Phiếu lý lịch tư pháp trở thành một trong những giấy tờ bắt buộc phải có của cá nhân. Quy định này được thể hiện ở nhiều văn bản trên các lĩnh vực như xem xét việc xuất cảnh, nhập cảnh; cho nhập, thôi, trở lại quốc tịch Việt Nam; xin con nuôi; cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, kiểm toán, trọng tài, y dược tư nhân; tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; du học,…

Tuy nhiên, thực tiễn công tác lý lịch tư pháp đã bộc lộ nhiều bất cập, vướng mắc mà pháp luật hiện hành không đủ cơ sở để giải quyết, đòi hỏi phải có những quy định mới ở một văn bản pháp lý có giá trị cao hơn nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, phù hợp với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền và tiến trình cải cách tư pháp. Những hạn chế, bất cập thể hiện ở những điểm sau đây:

Thứ nhất, về mặt nhận thức, tuy lý lịch tư pháp đã có ở nước ta từ thời Pháp thuộc, nhưng sau một thời gian dài không có nhu cầu của xã hội, đã có sự đánh đồng khái niệm giữa lý lịch tư pháp với căn cước can phạm; sự nhận thức của nhiều người, kể cả những người làm công tác tư pháp, về vai trò, ý nghĩa riêng của lý lịch tư pháp còn hạn chế. Nói cách khác, vai trò của lý lịch tư pháp trong quản lý nhà nước, trong đời sống xã hội và trong các hoạt động tố tụng hình sự chưa được đánh giá đúng mức. Chẳng hạn, trong các Bộ luật Hình sự và Tố tụng hình sự của Nhà nước ta, tuy có khá nhiều quy định liên quan đến án tích và xoá án tích, nhưng chưa có quy định nào về lý lịch tư pháp. Về mặt quản lý nhà nước, do hoàn cảnh lịch sử của nước ta, nên trong một thời gian dài (từ 1956 đến 1993) lý lịch tư pháp bị đồng nhất với tàng thư căn cước can phạm.

Thứ hai, từ năm 1993 đến nay, công tác quản lý lý lịch tư pháp chưa được triển khai một cách toàn diện, đúng tầm. Trên thực tế, việc tra cứu, cấp Phiếu lý lịch tư pháp hiện nay còn mang tính chất thủ công, chắp vá, không phù hợp với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền và nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại. Nội dung quan trọng nhất trong quản lý lý lịch tư pháp là xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về lý lịch tư pháp chưa được triển khai thực hiện. Trong khi đó, thông tin về án tích, tình trạng thi hành án được nhiều cơ quan khác nhau quản lý như Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Thi hành án dân sự. Thông tin làm cơ sở ban đầu để thiết lập nên Lý lịch tư pháp của các cá nhân là bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật do Toà án các cấp đã tuyên; quyết định hình sự giám đốc thẩm, quyết định hình sự tái thẩm, quyết định thi hành án hình sự, quyết định miễn, hoãn, giảm, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù... từ trước đến nay thì được lưu trữ tại các Toà án cấp huyện, cấp tỉnh, Toà án quân sự các cấp và Toà án nhân dân tối cao; các quyết định của các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quá trình thi hành bản án hình sự (giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt, giấy xác nhận kết quả thi hành án dân sự, quyết định đặc xá, đại xá…) cũng được lưu trữ phân tán tại các cơ quan đã ban hành các quyết định đó, không được quản lý tập trung về một đầu mối để tạo thành cơ sở dữ liệu về lý lịch tư pháp của những người bị kết án. Do chưa có cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp riêng, nên trong những năm qua, các Sở Tư pháp phải thông qua việc tra cứu thông tin từ hệ thống tàng thư căn cước can phạm của ngành Công an và từ hệ thống hồ sơ án lưu của Toà án để làm căn cứ cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho công dân. Cách làm này chỉ là giải pháp tạm thời trước mắt, có nhiều hạn chế bất cập, kém hiệu quả, nhiều việc phải kéo dài, gây nhiều khó khăn cho người có nhu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và không phù hợp với tinh thần cải cách hành chính hiện nay. 

          Thứ ba, việc thiếu một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao điều chỉnh một cách toàn diện, làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức, quản lý lý lịch tư pháp đang là nguyên nhân quan trọng làm hạn chế công tác này. Trong hệ thống văn bản pháp lý hiện hành, trước khi ban hành Luật Lý lịch tư pháp thì mới có 4 văn bản đề cập đến công tác lý lịch tư pháp, đó là: Thông tư liên tịch số 07/1999/TTLT-BTP-BCA ngày 08/02/1999 của Bộ Tư pháp và Bộ Công an quy định việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp; Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp; Quyết định số 94/2004/QĐ-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp và Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT/BTP-BNV ngày 28/4/2009 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và công tác tư pháp của Ủy ban nhân dân cấp xã. Như vậy, ngoài Nghị định số 93/2008/NĐ-CP giao chức năng quản lý lý lịch tư pháp cho Bộ Tư pháp và Thông tư số 07 quy định việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp, Nhà nước ta chưa có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh toàn diện lĩnh vực này. Hơn nữa, việc xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý lý lịch tư pháp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân và trách nhiệm của các cơ quan tư pháp như Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, do đó cần phải được điều chỉnh bằng một văn bản có hiệu lực cao của Quốc hội.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

1. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Lý lịch tư pháp

Luật Lý lịch tư pháp được xây dựng trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo sau đây:

a) Phù hợp với các chủ trương, chính sách của Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, nhất là chủ trương “Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại”;

b) Tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để xây dựng chế định lý lịch tư pháp riêng, tách ra khỏi, nhưng đồng thời có quan hệ mật thiết, bổ sung lẫn nhau với chế định căn cước can phạm, bằng cách xây dựng hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp từng bước vững chắc theo đúng nguyên tắc của hoạt động này, đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài; gắn việc quản lý dữ liệu lý lịch tư pháp với cấp Phiếu lý lịch tư pháp phục vụ nhu cầu của người dân;

c) Bảo đảm công tác quản lý lý lịch tư pháp phải chặt chẽ, nhưng thủ tục giải quyết yêu cầu của người dân thì phải minh bạch, đơn giản, tôn trọng quyền dân chủ và bí mật đời tư của công dân;

d) Kế thừa những thành tựu đạt được trong thực tiễn về tổ chức và quản lý lý lịch tư pháp những năm qua, đồng thời tham khảo có chọn lọc, vận dụng phù hợp kinh nghiệm của một số nước về quản lý lý lịch tư pháp.

2. Quá trình xây dựng Luật Lý lịch tư pháp

Ngay sau khi Quốc hội thông qua Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII và năm 2008, Chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan thành lập Ban soạn thảo gồm đại diện của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Nội vụ và một số chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực Luật lý lịch tư pháp, đồng thời thành lập Tổ biên tập giúp việc cho Ban soạn thảo. Ban soạn thảo đã tổ chức nhiều cuộc họp thảo luận, thống nhất về quan điểm chỉ đạo và nội dung cơ bản của Dự án Luật Lý lịch tư pháp, đồng thời chỉ đạo Tổ biên tập hoàn thiện Dự án Luật này.

Được giao chủ trì soạn thảo Dự án Luật, Bộ Tư pháp đã tiến hành rà soát các văn bản pháp luật về lý lịch tư pháp; tổ chức nghiên cứu khoa học, tham khảo kinh nghiệm của các nước có hệ thống quản lý lý lịch tư pháp phát triển; khảo sát về thực trạng tổ chức, hoạt động cấp Phiếu lý lịch tư pháp tại một số địa phương; khảo sát thực tế tại Cộng hoà Pháp và Vương quốc Thụy Điển. Đồng thời, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Công an tiến hành tổng kết 9 năm thực hiện Thông tư liên tịch số 07/1999/BTP-BCA ngày 08/02/1999 của Bộ Tư pháp - Bộ Công an quy định việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Bộ Tư pháp đã nhiều lần tổ chức lấy ý kiến đóng góp trực tiếp (thông qua các tọa đàm, hội thảo, Hội đồng khoa học của Bộ) và bằng văn bản các Bộ, ngành, cơ quan có liên quan; tổ chức thẩm định Dự án Luật, nghiên cứu và tiếp thu các ý kiến của Hội đồng thẩm định.

Tại Kỳ họp thứ tư Quốc hội khoá XII, Chính phủ đã trình Quốc hội về dự án Luật lý lịch tư pháp. Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến tại tổ (ngày 6 tháng 11 năm 2008) và tại Hội trường (ngày 10 tháng 11 năm 2008) về dự án Luật này.

Tại Kỳ họp thứ năm Quốc hội khoá XII, ngày 17 tháng 6 năm 2009, Luật Lý lịch tư pháp đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII thông qua, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2010.

III. BỐ CỤC CỦA LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

Luật Lý lịch tư pháp gồm 6 chương, 56 điều, cụ thể là:

- Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 10)

- Chương II: Tổ chức, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (từ Điều 11 đến Điều 13)

- Chương III: Cung cấp, tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp và lập lý lịch tư pháp (từ Điều 15 đến Điều 40)

- Chương IV: Cấp Phiếu lý lịch tư pháp (từ Điều 41 đến Điều 50)

- Chương V: Xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về lý lịch tư pháp (từ Điều 51 đến Điều 54)

- Chương VI: Điều khoản thi hành (02 Điều, Điều 55 và Điều 56).

IV. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

A.  NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG (Chương I)

1. Phạm vi quản lý lý lịch tư pháp (Điều 1)

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và mục đích của quản lý nhà nước về lĩnh vực này, Luật Lý lịch tư pháp quy định phạm vi quản lý lý lịch tư pháp là về án tích, tình trạng thi hành án và về việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. Do đó, những hành vi vi phạm của cá nhân bị xử lý kỷ luật hoặc xử lý vi phạm hành chính (thường được gọi là “tiền sự”) không thuộc phạm vi quản lý lý lịch tư pháp và không ghi vào Lý lịch tư pháp của cá nhân.

Giá trị pháp lý và ý nghĩa chính trị - xã hội của những thông tin này là nhằm chứng minh người đó có hay không có án tích, ghi nhận việc xóa án tích, tạo điều kiện cho người đã từng bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, hỗ trợ hoạt động tố tụng hình sự, thống kê tư pháp hình sự, công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã. Phạm vi quản lý lý lịch tư pháp như quy định của Luật là phù hợp với quy định của Hiến pháp “không ai bị coi là có tội và phải chịu trách nhiệm hình sự khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”[2] và quy định của Bộ luật hình sự là “người được xóa án tích coi như chưa bị kết án”[3].

Việc xác định phạm vi quản lý lý lịch tư pháp như quy định của Luật là xuất phát từ thực tiễn yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và mục đích quản lý của lĩnh vực này, đồng thời có tham khảo kinh nghiệm của các nước[4]. Thực tiễn việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp thời gian qua cho thấy, khi cơ quan, tổ chức trong nước hoặc nước ngoài có nhu cầu cần biết lý lịch tư pháp của một người để xem xét việc xuất cảnh, nhập cảnh, cho nhập, thôi, trở lại quốc tịch, nuôi con nuôi; cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, kiểm toán, y dược tư nhân; tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, du học... thì điều mà cơ quan, tổ chức yêu cầu là án tích và tình trạng thi hành án của người đó. Nội dung Phiếu lý lịch tư pháp được cấp cũng chỉ ghi người đó có án tích hay không có án tích, tình trạng thi hành án (nếu có) và đều được các cơ quan, tổ chức trong nước cũng như nước ngoài chấp nhận.

2. Nguyên tắc quản lý lý lịch tư pháp (Điều 4)

Lý lịch tư pháp là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền nhân thân của công dân, do đó Luật lý lịch tư pháp xác định rõ các nguyên tắc quản lý lý lịch tư pháp. Đây là các nguyên tắc cơ bản xuyên suốt trong tổ chức và quản lý lý lịch tư pháp, cụ thể như sau:

Một là, Lý lịch tư pháp chỉ được lập trên cơ sở bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; quyết định của Tòa án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản đã có hiệu lực pháp luật. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của tổ chức và hoạt động lý lịch tư pháp. Nguyên tắc này được hiểu là Lý lịch tư pháp của một người chỉ được lập khi người đó bị Tòa án kết án bằng bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, khi một người bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp trong quyết định tuyên bố phá sản, thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp sẽ lập Lý lịch tư pháp của người đó trên cơ sở quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án. 

Hai là, bảo đảm tôn trọng bí mật đời tư của cá nhân. Thông tin lý lịch tư pháp là thông tin có liên quan đến quyền nhân thân và bí mật đời tư của cá nhân, vì vậy, việc quản lý và sử dụng thông tin này phải bảo đảm tôn trọng bí mật đời tư của cá nhân. Nguyên tắc này được thể hiện rõ nét trong các quy định của Luật lý lịch tư pháp về quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, việc cung cấp, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp cũng như quy định về thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Ba là, thông tin lý lịch tư pháp phải được cung cấp, tiếp nhận, cập nhật, xử lý đầy đủ, chính xác theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Luật này. Cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin trong Phiếu lý lịch tư pháp. Lý lịch tư pháp là vấn đề hệ trọng của con người, nhằm chứng minh cá nhân có hay không có án tích, có bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản, do đó, việc cung cấp, tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp phải đầy đủ, chính xác theo đúng trình tự, thủ tục được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản của quản lý lý lịch tư pháp.

3. Đối tượng quản lý lý lịch tư pháp (Điều 5)

Đối tượng quản lý lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án Việt Nam hoặc của Toà án nước ngoài mà trích lục bản án hoặc trích lục án tích của người bị kết án được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

Như vậy, theo quy định của Luật, trước hết, đối tượng quản lý lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam bị Tòa án Việt Nam kết án và bản án đó có hiệu lực pháp luật. Trường hợp công dân Việt Nam bị Tòa án nước ngoài kết án cũng thuộc đối tượng quản lý lý lịch tư pháp khi trích lục bản án hoặc trích lục án tích của người bị kết án được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo nguyên tắc có đi có lại. Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và một số nước có quy định về việc các nước ký kết thông báo cho nhau về các bản án có hiệu lực pháp luật xét xử công dân của nước ký kết kia[5]. Trong trường hợp nhận được trích lục bản án hoặc trích lục án tích của người bị kết án do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sẽ cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Trường hợp công dân Việt Nam được chuyển giao để chấp hành hình phạt tù ở Việt Nam theo quy định của Luật tương trợ tư pháp thì cũng thuộc đối tượng quản lý lý lịch tư pháp. 

 Đối tượng quản lý lý lịch tư pháp còn bao gồm người nước ngoài bị Toà án Việt Nam kết án bằng bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật. Trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị Tòa án nước ngoài kết án thì không thuộc đối tượng quản lý lý lịch tư pháp theo quy định của Luật này.

Ngoài ra, đối tượng quản lý lý lịch tư pháp theo quy định của Luật còn bao gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài bị Tòa án Việt Nam cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong quyết định tuyên bố phá sản đã có hiệu lực pháp luật (những người này không phải là có án tích).

4. Trách nhiệm cung cấp thông tin lý lịch tư pháp (Điều 6)

Thông tin lý lịch tư pháp bao gồm thông tin về án tích, tình trạng thi hành án và thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã theo quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án được xác lập từ nhiều nguồn và do nhiều cơ quan khác nhau quản lý như Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Quốc phòng, Thi hành án dân sự, các cơ quan, tổ chức có liên quan... Để xây dựng cơ sở dữ liệu về lý lịch tư pháp của những người bị kết án, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có liên quan trong việc cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Do đó, Luật lý lịch tư pháp xác định rõ trách nhiệm của Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an, cơ quan thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin lý lịch tư pháp đầy đủ, chính xác, đúng trình tự, thủ tục cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật.

5. Quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Điều 7)

Để đáp ứng yêu cầu chứng minh cá nhân có hay không có án tích, có bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã, Luật lý lịch tư pháp quy định công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam có quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của mình. Quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân (bao gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài) không bị hạn chế về mục đích sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp. Tùy theo yêu cầu và mục đích sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp (xuất cảnh, thăm thân, đi học, du lịch, xin việc làm, xuất khẩu lao động, xin con nuôi, hành nghề...), nếu đáp ứng đủ các điều kiện về thủ tục thì cá nhân đó có quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của mình.

Đồng thời, để hỗ trợ hoạt động tố tụng hình sự, công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã, các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân có liên quan để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử, công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã. Như vậy, để bảo đảm quyền bí mật thông tin của cá nhân, Luật quy định chỉ cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội mới có quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân và cũng bị giới hạn ở những mục đích nói trên.

6. Về các hành vi bị cấm (Điều 8)

Thông tin lý lịch tư pháp liên quan đến bí mật đời tư của cá nhân, vì vậy việc cung cấp, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp phải chính xác, đồng thời việc sử dụng các thông tin này phải trên nguyên tắc bảo đảm tôn trọng bí mật đời tư của cá nhân. Do đó, Luật quy định một số hành vi bị cấm, cụ thể như sau:

- Thứ nhất, khai thác, sử dụng trái phép, làm sai lệch, hủy hoại dữ liệu lý lịch tư pháp. Luật quy định chỉ những người có thẩm quyền mới được tiếp cận, khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Mọi hành vi khai thác, sử dụng trái phép, làm sai lệch, hủy hoại dữ liệu lý lịch tư pháp đều bị nghiêm cấm.

- Thứ hai, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp sai sự thật. Lý lịch tư pháp là vấn đề hệ trọng của con người, nhằm chứng minh cá nhân có hay không có án tích, có bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã. Vì vậy việc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp phải bảo đảm chính xác. Người có hành vi cung cấp thông tin lý lịch tư pháp sai sự thật (là những người có thẩm quyền trong quản lý lý lịch tư pháp) sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm.

- Thứ ba, giả mạo giấy tờ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

- Thứ tư, tẩy xoá, sửa chữa, giả mạo Phiếu lý lịch tư pháp.

- Thứ năm, cấp Phiếu lý lịch tư pháp có nội dung sai sự thật, trái thẩm quyền, không đúng đối tượng. Cá nhân có quyền khiếu nại trong trường hợp Phiếu lý lịch tư pháp được cấp có nội dung không chính xác, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

- Thứ sáu, sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp của người khác trái pháp luật, xâm phạm bí mật đời tư của cá nhân.

7. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp (Điều 9)

Để tăng cường công tác quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, Luật Lý lịch tư pháp phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Theo đó, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp; Bộ Tư pháp là đầu mối giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này; Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp; Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp trong phạm vi địa phương.

8. Lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Điều 10)

Lý lịch tư pháp là hoạt động hành chính tư pháp, do đó cá nhân có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp phải nộp lệ phí. Mức lệ phí, việc quản lý và sử dụng lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp thực hiện theo quy định của pháp luật.

B. TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CƠ SỞ DỮ LIỆU LÝ LỊCH TƯ PHÁP (Chương II)

1. Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (Điều 11)

Một trong những nội dung quan trọng của Luật Lý lịch tư pháp là tạo cơ sở pháp lý để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp riêng theo đúng nguyên tắc của hoạt động này, theo hướng chuyên nghiệp và từng bước hiện đại. Theo quy định của Luật, cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp là tập hợp các thông tin lý lịch tư pháp về án tích, thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã được cập nhật và xử lý theo quy định của Luật này. Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng và quản lý tại Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia thuộc Bộ Tư pháp và tại Sở Tư pháp. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp bao gồm Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp tỉnh, thành phố. Mô hình quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo quy định của Luật lý lịch tư pháp (mô hình 2 cấp) là phù hợp và có tính khả thi trong điều kiện hiện nay. Về lâu dài, để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, việc quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp cần được ứng dụng công nghệ thông tin, hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp quốc gia thống nhất (mô hình 1 cấp), các Sở Tư pháp được quyền truy cập, tra cứu thông tin lý lịch tư pháp để thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Trước mắt, cần phấn đấu để việc tin học hoá được thực hiện hoàn toàn tại Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, còn ở các Sở Tư pháp thì tùy theo điều kiện sẽ thực hiện tin học hoá theo lộ trình đến năm 2015 hoặc đến năm 2020 với sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ.   

Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp không đồng nhất và không thay thế cơ sở dữ liệu tàng thư căn cước can phạm do ngành Công an quản lý. Sự phân biệt giữa hai hệ thống dữ liệu này là rất rõ ràng, thể hiện ở những khía cạnh cơ bản sau đây:

Thứ nhất, về nội dung thông tin: Tàng thư căn cước can phạm được thu thập từ nhiều nguồn và lưu trữ các thông tin không chỉ về án tích mà cả những “tiền sự”, cũng như những thông tin khác được thu thập từ hoạt động nghiệp vụ. Trong khi đó, dữ liệu lý lịch tư pháp chỉ lưu trữ những thông tin về án tích và tình trạng thi hành án của người bị kết án. Ở một số nước, những án tích đã được xoá theo quy định của pháp luật hình sự thì đồng thời cũng được xử lý trong dữ liệu lý lịch tư pháp. Mặt khác, theo quy định của Luật (Mục 3 Chương III) Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp còn lưu trữ những thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Toà án tuyên bố phá sản. Đây là những thông tin hoàn toàn mới, không có trong dữ liệu tàng thư căn cước can phạm.

Thứ hai, về mục đích sử dụng: Tàng thư căn cước can phạm có nhiệm vụ chủ yếu phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và các yêu cầu nghiệp vụ của cơ quan điều tra. Còn dữ liệu lý lịch tư pháp cũng góp phần phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, nhưng chủ yếu là cho các hoạt động mang tính dân sự theo nhu cầu của các cá nhân cần chứng minh người đó có hay không có án tích trong những trường hợp pháp luật quy định.

Thứ ba, về chế độ quản lý và khai thác thông tin: Tàng thư căn cước can phạm là cơ sở dữ liệu mật do ngành Công an quản lý; phạm vi khai thác thông tin chủ yếu phục vụ các cơ quan điều tra và một số cơ quan khác. Trong khi đó, dữ liệu lý lịch tư pháp chủ yếu mang tính dân sự và phạm vi khai thác rộng hơn. Ở Thụy Điển cho phép mỗi năm một lần công dân được quyền yêu cầu cơ quan quản lý lý lịch tư pháp cho biết cơ quan này đang lưu trữ những thông tin về án tích nào của mình để trong trường hợp, nếu họ cho là sai, thì có quyền khiếu nại.

2. Nhiệm vụ của Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia trong quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (Điều 12)

Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia có nhiệm vụ xây dựng, quản lý, khai thác, bảo vệ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi cả nước; tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp do các cơ quan có liên quan cung cấp; tiếp nhận Lý lịch tư pháp do Sở Tư pháp cung cấp; lập Lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo thẩm quyền. Đồng thời, Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia còn có vai trò điều phối, hướng dẫn việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi cả nước; cung cấp thông tin lý lịch tư pháp của người nước ngoài bị Toà án Việt Nam kết án theo yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về việc quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi cả nước.

3. Nhiệm vụ của Sở Tư pháp trong quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (Điều 13)

Sở Tư pháp có nhiệm vụ xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp do Toà án, các cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp và lập Lý lịch tư pháp, cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo thẩm quyền. Với vai trò là cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại địa phương, Sở Tư pháp còn có nhiệm vụ cung cấp Lý lịch tư pháp và thông tin bổ sung cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia; cung cấp thông tin lý lịch tư pháp cho Sở Tư pháp khác và thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về việc quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại địa phương.    

4. Bảo vệ, lưu trữ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (Điều 14)

Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp là tập hợp các thông tin lý lịch tư pháp, có liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân, do đó cần có chế độ bảo vệ, lưu trữ cẩn thận. Luật lý lịch tư pháp xác định cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp là tài sản quốc gia phải được bảo vệ chặt chẽ, an toàn, lưu trữ lâu dài. Chỉ người có thẩm quyền mới được tiếp cận, khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Đồng thời, Luật giao Chính phủ quy định cụ thể việc bảo vệ và lưu trữ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

C. CUNG CẤP, TIẾP NHẬN, CẬP NHẬT, XỬ LÝ THÔNG TIN LÝ LỊCH TƯ PHÁP VÀ LẬP LÝ LỊCH TƯ PHÁP (Chương III)

            1. Cung cấp, tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp về án tích (Mục 1)

a) Nguồn thông tin lý lịch tư pháp về án tích (Điều 15)

Thông tin lý lịch tư pháp về án tích được xác định từ nhiều nguồn khác nhau. Theo quy định tại Điều 15 của Luật lý lịch tư pháp, thông tin lý lịch tư pháp về án tích được xác lập từ 18 nguồn sau đây:

- Bản án hình sự sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật và bản án hình sự phúc thẩm;

- Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự;

- Quyết định thi hành án hình sự;

- Quyết định miễn chấp hành hình phạt;

- Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt;

- Quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù;

- Quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù;

- Quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước;

- Giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt tù; văn bản thông báo kết quả thi hành hình phạt trục xuất;

- Giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo và các hình phạt bổ sung;

- Quyết định thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, án phí và các nghĩa vụ dân sự khác của người bị kết án; quyết định đình chỉ thi hành án; giấy xác nhận kết quả thi hành án; văn bản thông báo kết thúc thi hành án trong trường hợp người bị kết án đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình;

- Quyết định ân giảm hình phạt tử hình;

- Giấy chứng nhận đặc xá, đại xá;

- Quyết định xóa án tích;

- Giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích;

- Trích lục bản án hoặc trích lục án tích của công dân Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo nguyên tắc có đi có lại;

- Quyết định của Toà án Việt Nam về việc dẫn độ để thi hành án tại Việt Nam; quyết định của Tòa án Việt Nam về việc tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù; thông báo về quyết định đặc xá, đại xá, miễn, giảm hình phạt của nước chuyển giao đối với người đang chấp hành hình phạt tù;

- Thông báo về việc thực hiện quyết định dẫn độ người bị kết án, quyết định chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

b) Nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức trong việc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp về án tích

Thông tin lý lịch tư pháp về án tích do nhiều cơ quan, tổ chức cung cấp như Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan Công an, cơ quan thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan, tổ chức khác. Để bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của thông tin lý lịch tư pháp, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thống nhất, phục vụ công tác quản lý lý lịch tư pháp, Luật Lý lịch tư pháp quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc cung cấp, tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp. Đây là yêu cầu rất quan trọng nhằm khắc phục tình trạng phân tán thông tin lý lịch tư pháp hiện nay và bất cập cơ bản trong công tác quản lý lý lịch tư pháp.

* Nhiệm vụ của Tòa án:

Theo quy định tại Điều 16 Luật Lý lịch tư pháp, Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án hoặc đã ra quyết định có nhiệm vụ gửi cho Sở Tư pháp, nơi Tòa án đó có trụ sở các văn bản sau đây:

- Trích lục bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, trích lục bản án hình sự phúc thẩm. Theo quy định của Luật, Tòa án không gửi toàn bộ bản án mà chỉ cần gửi trích lục bản án với các nội dung như “họ, tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, quốc tịch, nơi thường trú hoặc tạm trú, họ, tên cha, mẹ, vợ, chồng của người bị kết án; ngày, tháng, năm tuyên án, số bản án, Toà án đã tuyên bản án, tội danh, điều khoản luật được áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự, án phí”. Đây là những nội dung cơ bản liên quan đến án tích của người bị kết án. 

- Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự;

- Quyết định ân giảm hình phạt tử hình;

- Quyết định thi hành án hình sự;

- Quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù;

- Quyết định xóa án tích;

- Giấy chứng nhận đương nhiên xóa án tích.

-  Quyết định miễn chấp hành hình phạt;

- Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt;

- Quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù;

- Quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước;

- Quyết định tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù.

Đối với các quyết định và giấy chứng nhận nói trên, Tòa án gửi bản chính hoặc bản sao các văn bản đó cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

* Nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao:

Theo quy định tại Điều 17 Luật Lý lịch tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có nhiệm vụ gửi cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia bản sao trích lục bản án, trích lục án tích của công dân Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

* Nhiệm vụ của cơ quan công an:

Theo quy định tại Điều 18 Luật Lý lịch tư pháp, Cơ quan Công an có nhiệm vụ cung cấp thông tin lý lịch tư pháp về án tích, cụ thể như sau:

- Giám thị trại giam, giám thị trại tạm giam có nhiệm vụ gửi giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt tù, giấy chứng nhận đặc xá, đại xá cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận.

- Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an có nhiệm vụ gửi thông báo về việc thi hành hình phạt trục xuất cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thi hành hình phạt. 

- Cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an có nhiệm vụ gửi thông báo về việc thực hiện quyết định dẫn độ người bị kết án, quyết định chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thi hành quyết định.

- Cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an có nhiệm vụ gửi thông báo về quyết định đặc xá, đại xá, miễn, giảm hình phạt của nước chuyển giao đối với người đang chấp hành hình phạt tù cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo.

* Nhiệm vụ của cơ quan thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng:

Theo quy định tại Điều 19 Luật Lý lịch tư pháp, cơ quan thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ cung cấp thông tin lý lịch tư pháp về án tích, cụ thể như sau:

- Giám thị trại giam, giám thị trại tạm giam có nhiệm vụ gửi giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt tù, giấy chứng nhận đặc xá, đại xá cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận.

- Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương có nhiệm vụ gửi cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia các quyết định thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, án phí và các nghĩa vụ dân sự khác của người bị kết án; quyết định đình chỉ thi hành án; giấy xác nhận kết quả thi hành án; văn bản thông báo kết thúc thi hành án trong trường hợp người bị kết án đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình.

* Nhiệm vụ của cơ quan thi hành án dân sự:

Theo quy định tại Điều 20 Luật Lý lịch tư pháp, cơ quan thi hành án dân sự có nhiệm vụ gửi cho Sở Tư pháp nơi cơ quan đó có trụ sở quyết định thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, án phí và các nghĩa vụ dân sự khác của người bị kết án; quyết định đình chỉ thi hành án; giấy xác nhận kết quả thi hành án; văn bản thông báo kết thúc thi hành án trong trường hợp người bị kết án đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình.

* Nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức khác:

Theo quy định tại Điều 21 Luật Lý lịch tư pháp, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo và các hình phạt bổ sung (cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế) có nhiệm vụ gửi cho Sở Tư pháp nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở các giấy chứng nhận trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận.        

Đối với người đã chấp xong hình phạt cải tạo không giam giữ, cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú (gọi chung là cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục) có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn cải tạo không giam giữ cho người bị kết án[6].

Đối với người bị kết án phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người được hưởng án treo làm việc, công tác, học tập hoặc cư trú (gọi chung là cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục) có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời gian thử thách[7].

Đối với các hình phạt bổ sung như cấm cư trú, quản chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị kết án đến cư trú cuối cùng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản chế có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn cấm cư trú, giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn quản chế cho người bị quản chế[8].

Để bảo đảm tính chính xác, chặt chẽ, kịp thời của thông tin lý lịch tư pháp, Luật cũng quy định cụ thể về thời hạn các cơ quan, tổ chức nói trên có trách nhiệm cung cấp thông tin.

* Nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp trong việc tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp về án tích:

Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp có nhiệm vụ tiếp nhận đầy đủ, kịp thời thông tin lý lịch tư pháp về án tích do các cơ quan, tổ chức nói trên cung cấp. Trường hợp thông tin lý lịch tư pháp chưa đầy đủ, có sai sót, Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp có trách nhiệm đề nghị cơ quan, tổ chức đã cung cấp thông tin bổ sung, đính chính. Thông tin lý lịch tư pháp được gửi trực tiếp, qua bưu điện hoặc mạng Internet, mạng máy tính.

Việc tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp về án tích tại Sở Tư pháp phải được ghi vào sổ tiếp nhận theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định.

2. Lập Lý lịch tư pháp và cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp về án tích (Mục 2)

a) Lập Lý lịch tư pháp (Điều 26)

Lý lịch tư pháp của cá nhân bao gồm những nội dung cơ bản về án tích và tình trạng thi hành án của người bị kết án. Lý lịch tư pháp của cá nhân được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Lý lịch tư pháp do Sở Tư pháp hoặc Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia lập trên cơ sở nguồn thông tin lý lịch tư pháp do các cơ quan, tổ chức gửi tới. Lý lịch tư pháp được lập riêng cho từng người bị kết án, với các nội dung sau đây:

- Nội dung về nhân thân của người bị kết án bao gồm họ, tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, quốc tịch, nơi cư trú, số giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, họ, tên cha, mẹ, vợ, chồng của người đó. 

- Nội dung về án tích và tình trạng thi hành án bao gồm ngày, tháng, năm tuyên án, số bản án, Toà án đã tuyên bản án, tội danh, điều khoản luật được áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự, án phí, tình trạng thi hành án.

Trường hợp một người bị kết án về nhiều tội và đã được tổng hợp hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự thì Lý lịch tư pháp của người đó ghi rõ từng tội danh, điều khoản luật được áp dụng và hình phạt chung đối với các tội đó.

Để tránh trùng lắp và tạo thuận lợi trong xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu, Luật quy định Sở Tư pháp có nhiệm vụ lập Lý lịch tư pháp trong trường hợp người bị kết án thường trú hoặc tạm trú tại địa phương. Trường hợp này, Lý lịch tư pháp được lập thành hai bản, một bản do Sở Tư pháp quản lý và được lưu trữ tại cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp, một bản được chuyển đến và lưu trữ tại Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia.

Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia lập và lưu giữ Lý lịch tư pháp trong trường hợp không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của người bị kết án, người bị kết án được dẫn độ để thi hành án hoặc được chuyển giao để chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam và trường hợp nhận được bản sao trích lục bản án hoặc trích lục án tích của công dân Việt Nam do Viện kiểm sát nhân dân tối cao cung cấp.

b) Cập nhật, xử lý thông tin Lý lịch tư pháp về án tích (Điều 27 đến Điều 35)

Yêu cầu cơ bản của dữ liệu lý lịch tư pháp là phải được lưu trữ trong trạng thái “động”, theo dõi suốt quá trình từ khi cá nhân bị kết án đến khi đã chấp hành xong bản án, được xóa án tích. Vì vậy, việc cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp được quy định cụ thể, chi tiết trong Mục 2 Chương III của Luật, cụ thể như sau:

- Cập nhật thông tin trong trường hợp miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, hoãn và tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Trường hợp người bị kết án được Tòa án quyết định miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, hoãn và tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thì thông tin này được cập nhật vào Lý lịch tư pháp của người đó.

- Cập nhật thông tin trong trường hợp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Đối với quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì nội dung của quyết định đó được vào Lý lịch tư pháp của người bị kết án. Đối với quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, trong trường hợp Lý lịch tư pháp chỉ được lập trên cơ sở bản án, quyết định bị hủy thì Lý lịch tư pháp được xóa bỏ trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Trường hợp này người bị kết án coi như không có án tích. Trường hợp Lý lịch tư pháp của người đó được lập trên cơ sở nhiều bản án, quyết định thì thông tin về bản án, quyết định bị hủy trong Lý lịch tư pháp được xóa bỏ.

- Cập nhật thông tin đối với những bản án tiếp theo. Trường hợp một người đã có Lý lịch tư pháp (nghĩa là đã từng bị kết án và đã được lập Lý lịch tư pháp), sau đó bị kết án bằng bản án khác thì thông tin của bản án tiếp theo được bổ sung vào Lý lịch tư pháp của người đó.

- Cập nhật thông tin trong trường hợp chấp hành xong bản án, được đặc xá, đại xá. Trường hợp người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt tù, phạt tù cho hưởng án treo, hình phạt cải tạo không giam giữ, các hình phạt bổ sung (cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền, trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính) và các quyết định khác của Tòa án (nghĩa vụ dân sự, án phí…), Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có nhiệm vụ cập nhật các thông tin đó vào Lý lịch tư pháp của người bị kết án. Trường hợp người bị kết án được đặc xá thì Lý lịch tư pháp của người đó được ghi vào là “đã chấp hành xong hình phạt tù theo quyết định đặc xá”; trường hợp được đại xá thì ghi “được miễn trách nhiệm hình sự theo quyết định đại xá”.

- Cập nhật thông tin trong trường hợp trục xuất. Trường hợp người bị kết án đã thi hành hình phạt trục xuất thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có nhiệm vụ cập nhật thông tin đó vào Lý lịch tư pháp của người bị kết án và ghi là “đã bị trục xuất”.

- Cập nhật thông tin trong trường hợp công dân Việt Nam bị Toà án nước ngoài kết án. Trường hợp công dân Việt Nam được chuyển giao để chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam; có thông báo về quyết định miễn, giảm hình phạt, đặc xá, đại xá của nước chuyển giao đối với người đó hoặc có trích lục bản án hoặc trích lục án tích do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có nhiệm vụ cập nhật thông tin vào Lý lịch tư pháp của người đó.

- Xử lý thông tin lý lịch tư pháp khi một tội phạm được xoá bỏ theo quy định của Bộ luật hình sự. Trường hợp người bị kết án về một tội nhưng tội phạm này được xoá bỏ theo quy định của Bộ luật hình sự thì thông tin về tội đó được xóa bỏ trong Lý lịch tư pháp của người đó.          

c) Cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp trong trường hợp người bị kết án được xoá án tích (Điều 33)

Xoá án tích là một chế định mà hầu hết pháp luật các nước đều có. Nguyên tắc pháp lý cơ bản nhất của chế định xoá án tích là ở chỗ: người được xoá án tích coi như chưa bị kết án. Theo quy định của pháp luật hình sự nhiều nước, thì chỉ cần người bị kết án có đủ điều kiện do Bộ luật hình sự quy định là đương nhiên được xóa án tích hoặc yêu cầu Tòa án quyết định xóa án tích. Vì vậy, ở những nước có hệ thống lý lịch tư pháp phát triển (Pháp, Thụy Điển, Tây Ban Nha…), cơ quan quản lý lý lịch tư pháp có nhiệm vụ cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp trong trường hợp người bị kết án đủ điều kiện được xóa án tích hoặc được Tòa án quyết định xóa án tích (bởi vì cơ quan này có nhiệm vụ theo dõi toàn bộ quá trình từ lúc cá nhân bị kết án đến khi cá nhân đó đã chấp hành xong bản án).

Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, khi người bị kết án có đủ điều kiện do Bộ luật hình sự quy định là đương nhiên được xóa án tích[9] hoặc yêu cầu Tòa án quyết định xóa án tích[10]. Để bảo đảm quyền của người được xóa án tích, tạo điều kiện cho người đã từng bị kết án tái hoà nhập cộng đồng, Luật Lý lịch tư pháp quy định cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có nhiệm vụ cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp trong trường hợp người bị kết án được xóa án tích, cụ thể như sau:

 - Khi nhận được giấy chứng nhận xóa án tích hoặc quyết định xoá án tích của Toà án thì ghi “đã được xoá án tích” vào Lý lịch tư pháp của người đó.

- Khi xác định một người có đủ điều kiện đương nhiên được xoá án tích quy định tại Điều 64 Bộ luật hình sự năm 1999 thì Sở Tư pháp ghi “đã được xoá án tích” vào Lý lịch tư pháp của người đó.

Quy định này nhằm xác định trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong việc cập nhật thông tin về trường hợp người bị kết án đủ điều kiện đương nhiên được xoá án tích, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân khi có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và không thay thế thẩm quyền của Toà án trong việc cấp giấy chứng nhận xoá án tích quy định tại Điều 270 Bộ luật Tố tụng hình sự[11].

Phiếu lý lịch tư pháp trong đó ghi “không có án tích” sẽ tạo điều kiện cho người bị kết án tái hoà nhập cộng đồng, bớt mặc cảm và không bị cộng đồng phân biệt đối xử. Thực tế cho thấy người đã được xoá án tích chỉ có thể tham gia vào các quan hệ xã hội như xin việc làm, xuất khẩu lao động, du học, thăm thân nhân, xuất cảnh, thành lập doanh nghiệp… khi có Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận nội dung “không có án tích”. Với việc xác nhận của Phiếu lý lịch tư pháp, người được xoá án tích mới “thực sự” coi như chưa bị kết án và hoà nhập cộng đồng một cách dễ dàng hơn.

Đồng thời, để bảo đảm tính chính xác, chặt chẽ trong việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp, khoản 3 Điều 44 Luật Lý lịch tư pháp quy định trong trường hợp cần thiết, Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp có trách nhiệm xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích khi cấp Phiếu lý lịch tư pháp và chịu trách nhiệm về nội dung Phiếu lý lịch tư pháp.

Như vậy, người được đương nhiên xóa án tích có thể yêu cầu Tòa án cấp giấy chứng nhận xóa án tích theo quy định tại Điều 270 Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc yêu cầu Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp cấp Phiếu lý lịch tư pháp, trong đó ghi “không có án tích”.

3. Thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã theo quyết định tuyên bố phá sản (Mục 3)

Do tính chất của chế tài cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã khác về bản chất so với chế tài hình sự (cá nhân bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã không phải là có án tích), Luật quy định một mục riêng của chương này (mục 3) bao gồm những nội dung cơ bản về nguồn thông tin, nhiệm vụ cung cấp, tiếp nhận thông tin.

a) Nguồn thông tin  về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã

Thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã được xác lập từ quyết định tuyên bố phá sản đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định của Luật phá sản. Tòa án đã ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã có nhiệm vụ gửi trích lục quyết định cho Sở Tư pháp nơi Tòa án đó có trụ sở trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật. Nội dung trích lục quyết định tuyên bố phá sản bao gồm các nội dung về họ, tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, quốc tịch, nơi thường trú hoặc tạm trú của người bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã; chức vụ bị cấm đảm nhiệm, thời hạn không được thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

b) Lập Lý lịch tư pháp, cập nhật, xử lý thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã

Trường hợp người bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã chưa có Lý lịch tư pháp (nghĩa là người đó chưa từng bị kết án hoặc chưa bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã) thì Sở Tư pháp nơi người đó thường trú hoặc tạm trú lập Lý lịch tư pháp trên cơ sở quyết định tuyên bố phá sản của Toà án. Trường hợp người đó đã có Lý lịch tư pháp thì Sở Tư pháp ghi vào Lý lịch tư pháp của người đó theo nội dung quyết định của Tòa án.

Thông tin về việc cá nhân không được thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã được xóa bỏ trong Lý lịch tư pháp của cá nhân đó khi hết thời hạn[12] theo quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án.

D. CẤP PHIẾU LÝ LỊCH TƯ PHÁP (CHƯƠNG IV)

1. Phiếu lý lịch tư pháp (Mục 1)

Điều 41 Luật Lý lịch tư pháp quy định hai loại Phiếu lý lịch tư pháp: Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và Phiếu lý lịch tư pháp số 2.

Phiếu lý lịch tư pháp số 1 được cấp cho công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam và cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Án tích đã được xoá thì không ghi vào Phiếu lý lịch tư pháp số 1. Thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã chỉ ghi vào Phiếu lý lịch tư pháp số 1 khi cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu.

Phiếu lý lịch tư pháp số 2 được cấp cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Trường hợp một người đã bị kết án thì Phiếu lý  lịch tư pháp số 2 ghi tất cả các án tích (bao gồm án tích chưa được xóa và án tích đã được xoá). Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cũng bao gồm thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã.

Để đảm bảo tính minh bạch và quyền dân chủ của công dân, Điều 41 quy định Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cũng được cấp theo yêu cầu của cá nhân để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình.

2. Thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Điều 44)

Để tạo thuận lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, Luật quy định Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp đều có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong các trường hợp sau đây:

- Công dân Việt Nam mà không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú;

- Người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam.

Sở Tư pháp thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong các trường hợp sau đây:

- Công dân Việt Nam thường trú hoặc tạm trú ở trong nước;

- Công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài;

- Người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam.

3. Thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 (Điều 45)

a) Hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1

Người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp nộp Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và kèm theo các giấy tờ bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, bản sao sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận thường trú hoặc tạm trú của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

b) Nơi nộp hồ sơ

Công dân Việt Nam nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp nơi thường trú; trường hợp không có nơi thường trú thì nộp tại Sở Tư pháp nơi tạm trú; trường hợp cư trú ở nước ngoài thì nộp tại Sở Tư pháp nơi cư trú trước khi xuất cảnh.

Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp nơi cư trú; trường hợp đã rời Việt Nam thì nộp hồ sơ tại Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia.

Trường hợp cá nhân không có điều kiện trực tiếp làm thủ tục, thì có thể uỷ quyền cho người khác thay mặt mình làm thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản theo quy định của pháp luật. Để tạo thuận lợi cho cá nhân, đặc biệt là các trường hợp đi học, lao động, công tác ở xa, Luật quy định trong trường hợp người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp là cha, mẹ, vợ, chồng, con của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì không cần văn bản ủy quyền.

Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội khi có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì gửi văn bản yêu cầu đến Sở Tư pháp nơi người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp thường trú hoặc tạm trú; trường hợp không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì gửi yêu cầu đến Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia. Văn bản yêu cầu phải ghi rõ địa chỉ cơ quan, tổ chức, mục đích sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp và thông tin về người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp (họ, tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, quốc tịch, nơi cư trú, số giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người đó).

4. Thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 (Điều 46)

Cơ quan tiến hành tố tụng có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp gửi văn bản yêu cầu đến Sở Tư pháp nơi người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp thường trú hoặc tạm trú; trường hợp không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp hoặc người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam thì gửi văn bản yêu cầu đến Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia. Văn bản yêu cầu phải ghi rõ thông tin về cá nhân đó như họ, tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, quốc tịch, nơi cư trú, số giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, họ, tên cha, mẹ, vợ, chồng của người đó.

Trong trường hợp khẩn cấp, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng có thể yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua điện thoại, fax hoặc bằng các hình thức khác nhưng phải có trách nhiệm gửi văn bản yêu cầu trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Cá nhân có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 thì cũng thực hiện theo thủ tục tương tự như thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1. Tuy nhiên, nhằm bảo vệ bí mật đời tư của cá nhân, Phiếu lý lịch tư pháp số 2 chỉ được cấp trực tiếp cho người có lý lịch tư pháp nên Luật quy định không được ủy quyền cho người khác làm thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2.

5. Thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Điều 48)

Để tạo thuận lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức, đồng thời quán triệt tinh thần cải cách hành chính, thời hạn giải quyết yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp đã được rút ngắn so với quy định của Thông tư số 07[13].

Thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp là không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài, trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích thì thời hạn không quá 15 ngày. Trường hợp khẩn cấp theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng thì thời hạn không quá 24 giờ, kể từ thời điểm nhận được yêu cầu.

6. Từ chối cấp Phiếu lý lịch tư pháp và việc bổ sung, đính chính, thu hồi, huỷ bỏ Phiếu lý lịch tư pháp (Điều 49 và Điều 50)

Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp có quyền từ chối cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong các trường hợp sau đây:

- Việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp không thuộc thẩm quyền. Ví dụ: Người yêu cầu nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp tỉnh A trong khi đang thường trú ở tỉnh B;

- Người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người khác mà không đủ điều kiện quy định tại Điều 7 và khoản 3 Điều 45 của Luật này (Ví dụ: Người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp không được uỷ quyền hợp pháp);

- Giấy tờ kèm theo Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp không đầy đủ hoặc giả mạo;

Để bảo đảm quyền của người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, Luật cũng quy định việc từ chối phải được thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do từ chối.

Cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp có trách nhiệm bổ sung, đính chính, thu hồi, huỷ bỏ Phiếu lý lịch tư pháp trong trường hợp Phiếu lý lịch tư pháp được cấp có nội dung không chính xác hoặc trái pháp luật.

Đ. XỬ LÝ VI PHẠM VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP (CHƯƠNG V)

1. Xử lý vi phạm (Điều 51)

Người có thẩm quyền trong quản lý lý lịch tư pháp vi phạm quy định của Luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Người nào vi phạm quy định của Luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Quyền khiếu nại (Điều 52)

Lý lịch tư pháp là vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền nhân thân của công dân. Do đó, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân về các hành vi vi phạm trong quản lý, cấp và sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp được quy định cụ thể trong Luật. Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp có quyền khiếu nại trong các trường hợp sau đây:

- Có căn cứ cho rằng việc từ chối cấp Phiếu lý lịch tư pháp là trái pháp luật hoặc việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp quá thời hạn quy định xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình;

- Có căn cứ cho rằng Phiếu lý lịch tư pháp được cấp có nội dung không chính xác, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thời hiệu khiếu nại lần đầu đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này là 45 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản thông báo việc từ chối hoặc kể từ ngày hết thời hạn giải quyết yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp hoặc kể từ ngày nhận được Phiếu lý lịch tư pháp; trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hiệu khiếu nại là 60 ngày.

Thời hiệu khiếu nại lần hai là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền. 

3. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại (Điều 53)

Theo quy định của Luật, Giám đốc Sở Tư pháp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với hành vi của mình. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Sở Tư pháp thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.

Giám đốc Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với hành vi của mình. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp không giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.

Quy định này nhằm bảo đảm quyền của người khiếu nại, phù hợp với quy định của Luật khiếu nại, tố cáo và cam kết của Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Luật cũng quy định rõ thời hạn giải quyết khiếu nại, theo đó, thời hạn giải quyết khiếu nại của Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia là 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Thời hạn giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp là 30 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.

4. Tố cáo (Điều 54)

Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền trong quản lý lý lịch tư pháp gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về giải quyết tố cáo.

E. ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP (Điều 55)

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu lý  lịch tư pháp đặt ra yêu cầu không chỉ tiếp nhận, cập nhật và xử lý thông tin lý lịch tư pháp từ ngày Luật này có hiệu lực mà còn phải cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp đã có từ trước. Đây là công việc đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có liên quan như Toà án, Viện kiểm sát, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.

Để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đầy đủ, đáp ứng yêu cầu của hoạt động quản lý lý lịch tư pháp, đồng thời tạo thuận lợi cho việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức, Luật Lý lịch tư pháp xác định rõ nhiệm vụ của Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan trong việc trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp về án tích, thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã có trước ngày Luật này có hiệu lực, cụ thể như sau:

Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ cung cấp cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp thông tin lý lịch tư pháp về án tích, thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã có trước ngày Luật này có hiệu lực để phục vụ việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Bộ Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong việc tổ chức thực hiện việc trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp về án tích,  thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã có trước ngày Luật này có hiệu lực để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Đồng thời, Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thủ tục tra cứu, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp.

 

 

                                                    Phần thứ ba

THAM KHẢO PHÁP LUẬT

 VỀ QUỐC TỊCH MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

 

 

ĐẠO LUẬT DỮ LIỆU CÁ NHÂN CỦA THỤY ĐIỂN

 

Ban hành ngày 29 tháng 4 năm 1998

Có hiệu lực ngay sau khi ban hành.

 

Điều khoản chung

Mục đích của Đạo luật này

Mục 1

Đạo luật này hướng tới mục đích bảo vệ các cá nhân đối với việc xâm phạm quyền cá nhân khi khai thác dữ liệu cá nhân.

 

Viện dẫn

Mục 2

Trong trường hợp các luật khác có những điều khoản viện dẫn từ Đạo luật này, thì sẽ áp dụng các điều khoản đó.

 

Định nghĩa

Mục 3

            Các thuật ngữ trong Đạo luật này được định nghĩa như sau:

 

Thuật ngữ

Định nghĩa

Khai thác (dữ liệu cá nhân)

Hành động hoặc một nhóm các hành động liên quan đến dữ liệu cá nhân, dù có hoặc không được thực hiện một cách tự động, ví dụ như thu thập, ghi âm, tổ chức, lưu trữ, phóng tác, sửa đổi, phục hồi, tập hợp, sử dụng, tiết lộ qua việc trao đổi, phổ biến, hay nói cách khác làm cho thông tin có thể bị sử dụng, sắp xếp hoặc kết hợp, ngăn chặn, bị xoá hoặc bị huỷ

Ngăn chặn (dữ liệu cá nhân)

Hành động với mục đích để dữ liệu cá nhân trở thành loại dữ liệu hạn chế và có những điều kiện hạn chế, để dữ liệu cá nhân không bị cung cấp cho bên thứ ba trừ những trường hợp theo quy định tại các điều khoản của Chương 2 Đạo luật tự do báo chí

Người nhận

Người nhận là người được cung cấp dữ liệu cá nhân. Tuy nhiên, trong trường hợp dữ liệu cá nhân được cung cấp cho một cơ quan có thẩm quyền sử dụng trong việc giám sát, kiểm soát hoặc kiểm toán trong phạm vi nhiệm vụ của mình, thì cơ quan chính quyền đó không được coi là người nhận

Dữ liệu cá nhân

Tất cả các thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp có thể quy cho một con người đang sống

Người kiểm soát dữ liệu cá nhân

Một người mà một mình hoặc cùng với những người khác quyết định những mục tiêu và cách thức khai thác dữ liệu cá nhân

Người trợ giúp kiểm soát dữ liệu cá nhân

Một người mà khai thác dữ liệu cá nhân hỗ trợ cho người kiểm soát dữ liệu cá nhân

Bên đại diện dữ liệu cá nhân

Một người, được chỉ định bởi người kiểm soát dữ liệu cá nhân, đảm bảo một cách độc lập rằng dữ liệu cá nhân được khai thác một cách đúng đắn và hợp pháp

Đối tượng dữ liệu cá nhân

Một người mà các dữ liệu cá nhân liên quan đến người đó.

Sự cho phép

Tất cả những hình thức tự nguyện, với ý chí được diễn đạt một cách cụ thể và rõ ràng, mà qua đó sau khi nhận được dữ liệu, đối tượng dữ liệu cá nhân chấp nhận việc khai thác dữ liệu cá nhân liên quan đến bản thân người đó.

Cơ quan giám sát

Cơ quan được Chính phủ chỉ định để thực hiện việc giám sát

Nước thứ ba

Một nước mà không thuộc Cộng đồng Châu Âu hoặc không phải là một phần của Khu vực kinh tế chung Châu Âu

Bên thứ ba

Một người mà không phải là đối tượng dữ liệu cá nhân, người kiểm soát dữ liệu cá nhân, người đại diện dữ liệu cá nhân, người trợ giúp kiểm soát dữ liệu cá nhân hoặc những người trực tiếp thuộc trách nhiệm của người kiểm soát dữ liệu cá nhân hoặc người trợ giúp kiểm soát dữ liệu cá nhân mà được trao quyền khai thác dữ liệu cá nhân

 

Phạm vi

Phạm vi lãnh thổ

Mục 4

            Đạo luật này áp dụng đối với những người kiểm soát dữ liệu cá nhân được trao quyền tại Thụy Điển.

            Đạo luật này cũng được áp dụng đối với trường hợp người kiểm soát dữ  liệu cá nhân được trao quyền tại nước thứ ba nhưng sử dụng các thiết bị tại Thụy Điển khi thực hiện việc khai thác dữ liệu cá nhân. Tuy nhiên không áp dụng đối với trường hợp các thiết bị này chỉ được dùng để truyền tải dữ liệu giữa một nước thứ ba và một nước thứ ba khác.

            Trong trường hợp quy định tại câu thứ nhất đoạn thứ 2 trên, người kiểm soát dữ liệu cá nhân sẽ chỉ định một bên đại diện và được trao quyền tại Thụy  Điển. Những điều khoản áp dụng cho người kiểm soát dữ liệu cá nhân tại Đạo luật này sẽ được áp dụng đối với bên đại diện.

 

Việc khai thác dữ liệu cá nhân theo quy định tại Đạo luật này

Mục 5

            Đạo luật này áp dụng cho việc khai thác dữ liệu cá nhân mà được thực hiện một cách tự động hóa toàn bộ hay một phần.

            Đạo luật này cũng áp dụng cho những trường hợp khai thác dữ liệu cá nhân khác, theo đó những dữ liệu cá nhân này được bao hàm hoặc là một phần của việc thu thập dữ liệu cá nhân một cách hệ thống, mà việc thu thập này có thể được sử dụng để tìm kiếm hoặc biên soạn các dữ liệu cá nhân theo những tiêu chuẩn nhất định.

 

Mục 6

            Đạo luật này không áp dụng đối với trường hợp khai thác dữ liệu cá nhân mà một  người khai thác dữ liệu cá nhân hành động với mục đích nghĩa hoàn toàn mang tính chất riêng tư.

Mối quan hệ với quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận

Mục 7

            Những điều khoản tại Đạo luật này sẽ không được áp dụng trong trường hợp trái với những điều khoản liên quan đến quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận quy định tại Đạo luật Tự do Báo chí hoặc Luật cơ bản về Tự do Ngôn luận.

            Những điều khoản quy định tại các Mục từ Mục 9 đến Mục 29 và từ Mục 33 đến Mục 44 cũng như đoạn thứ nhất Mục 45, và các Mục từ Mục 47 đến Mục 49 sẽ không áp dụng đối với những trường hợp khai thác dữ liệu cá nhân đối với mục đích báo chí, nghệ thuật và tự do ngôn luận.

 

Mối quan hệ với nguyên tắc truy cập các tài liệu chính thống

Mục 8

            Những điều khoản tại Đạo luật này sẽ không được áp dụng trong những trường hợp chế nghĩa vụ của cơ quan có thẩm quyền trong việc cung cấp các dữ liệu cá nhân theo quy định tại Chương 2 Đạo luật Tự do báo chí.

            Những điều khoản này cũng không được áp dụng trong trường hợp ngăn cản cơ quan có thẩm quyền lưu trữ hoặc sao nhớ những tài liệu được quản lý bởi cơ quan lưu trữ. Những điều khoản quy định tại Mục 9, đoạn thứ tư, không áp dụng đối với trường hợp một cơ quan sử dụng dữ liệu cá nhân trong tài liệu chính thống.

 

Những yêu cầu cơ bản đối với việc khai thác dữ liệu cá nhân

Mục 9

            Người kiểm soát dữ liệu cá nhân phải đảm bảo:

a)   Dữ liệu cá nhân được khai thác theo quy định của pháp luật,

b)   Dữ liệu cá nhân được khai thác một cách đúng đắn với quy trình hợp lý,

c)   Dữ liệu cá nhân chỉ được thu thập với những mục đích được tuyên bố cụ thể, rõ ràng và hợp lý,

d)   Không được khai thác dữ liệu cá nhân với những mục đích không phù hợp với các thông tin được thu thập,

e)   Dữ liệu cá nhân được khai thác phải hợp lý và có liên quan mật thiết với mục đích khai thác,

f)     Dữ liệu cá nhân chỉ được khai thác khi có mục đích thực sự cần thiết,

g)   Trong trường hợp cần thiết, dữ liệu cá nhân được khai thác phải chính xác cho đến ngày khai thác,

h)   Cần phải thực hiện tất cả những biện pháp hợp lý để làm sửa chữa, ngăn chặn hoặc huỷ bỏ những dữ liệu cá nhân không chính xác hoặc không đầy đủ căn cứ theo mục đích khai thác dữ liệu,

i)     Không được giữ những dữ liệu cá nhân được khai thác lâu hơn thời gian cần thiết căn cứ theo mục đích khai thác dữ liệu.

            Tuy nhiên, căn cứ vào đoạn thứ nhất, d), việc khai thác dữ liệu cá nhân cho những mục đích liên quan đến lịch sử, thống kê hoặc khoa học sẽ không bị coi là không phù hợp đối với những mục đích mà theo đó thông tin được thu thập.

Dữ liệu cá nhân với những mục đích mang tính lịch sử, thống kê, khoa học có thể được giữ trong khoảng thời gian dài hơn theo quy định tại đoạn thứ nhất). Tuy nhiên, ngay cả trong những trường hợp đó, dữ liệu cá nhân cũng không được giữ lâu hơn thời gian cần thiết căn cứ theo mục đích khai thác dữ liệu.

            Dữ liệu cá nhân được khai thác phục vụ cho những mục đích lịch sử, thống kê, khoa học có thể được sử dụng để rút ra những kết luận về đối tượng dữ liệu cá nhân, tuy nhiên chỉ khi được đối tượng đó cho phép hoặc có những lý do bất thường liên quan đến những lợi ích sống còn của đối tượng đó.

 

Trường hợp việc khai thác dữ liệu cá nhân được cho phép

Mục 10

            Việc khai thác dữ liệu cá nhân chỉ được thực hiện khi được sự cho phép của đối tượng dữ liệu cá nhân hoặc trong trường hợp cần thiết sau:

a)     Giúp cho việc thực hiện hợp đồng của đối tượng dữ liệu cá nhân hoặc giúp thực hiện những tiêu chuẩn mà đối tượng dữ liệu cá nhân được yêu cầu thực hiện trước khi tham gia hợp đồng,

b)     Giúp người kiểm soát dữ liệu cá nhân thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình,

c)     Bảo vệ những lợi ích sống còn của đối tượng dữ liệu cá nhân,

d)     Phục vụ lợi ích công cộng,

e)     Giúp người kiểm soát dữ liệu cá nhân hoặc bên thứ ba được cung cấp dữ liệu cá nhân thực hiện nhiệm vụ của mình trong mối liên hệ với việc thực thi khai thác dữ liệu cá nhân của cơ quan quản lý chính thức, hoặc

f)       Với mục đích đảm bảo những lợi ích hợp pháp của người kiểm soát dữ liệu cá nhân hoặc của bên thứ ba được cung cấp dữ liệu cá nhân, trong trường hợp những lợi ích đó lớn hơn lợi ích chống xâm phạm quyền riêng tư cá nhân của đối tượng dữ liệu cá nhân.

 

Hoạt động thị trường trực tiếp

Mục 11

      Việc khai thác dữ liệu cá nhân không được thực hiện với mục đích liên quan trực tiếp tới hoạt động thị trường trực tiếp nếu như đối tượng dữ liệu cá nhân có thông báo bằng văn bản phản đối hành động đó gửi tới người kiểm soát dữ liệu cá nhân.

 

Huỷ bỏ sự cho phép

Mục 12

            Trong những trường hợp khai thác dữ liệu cá nhân với sự cho phép của đối tượng dữ liệu cá nhân được quy định tại Mục 10, 15, 34, đối tượng dữ liệu cá nhân có quyền huỷ bỏ sự cho phép vào bất cứ thời gian nào, và theo đó việc khai thác dữ liệu cá nhân tiếp theo sẽ không được thực hiện.

            Đối tượng dữ liệu cá nhân không có quyền phản đối việc cho phép khai thác dữ liệu cá nhân tại Đạo luật này trừ trường hợp được quy định tại đoạn thứ nhất và Mục 11 của Đạo luật này.

 

Cấm khai thác các dữ liệu cá nhân nhạy cảm

Mục 13

            Việc khai thác dữ liệu cá nhân sẽ bị cấm nếu việc khai thác đó tiết lộ những thông tin sau:

a)        Nguồn gốc chủng người và dân tộc,

b)       Quan điểm chính trị,

c)        Đức tin và tôn giáo, hoặc

d)       Thành viên của một tổ chức công đoàn.

            Các dữ liệu cá nhân liên quan đến đời sống sức khỏe và giới tính cũng bị cấm khai thác.

            Dữ liệu cá nhân quy định tại đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai được coi là dữ liệu nhạy cảm theo quy định của Đạo luật này.

 

Những trường hợp loại trừ việc cấm khai thác dữ liệu nhạy cảm

Mục 14

            Mặc dù Mục 13 quy định cấm khai thác dữ liệu nhạy cảm, nhưng Đạo luật này vẫn quy định những trường hợp được khai thác dữ liệu nhạy cảm quy định tại các mục từ Mục 15 đến Mục 19.

            Mục 10 quy định những trường hợp mà việc khai thác dữ liệu cá nhân không được thực hiện trong bất cứ trường hợp nào.

 

Sự cho phép hoặc công bố dữ liệu

Mục 15

            Việc khai thác dữ liệu nhạy cảm được thực hiện khi đối tượng dữ liệu cá nhân cho phép một cách rõ ràng hoặc với phương thức được công bố rõ ràng việc khai thác dữ liệu.

 

Sự cần thiết của việc khai thác dữ liệu

Mục 16

            Dữ liệu cá nhân nhạy cảm có thể được khai thác khi việc khai thác dữ liệu là cần thiết cho những trường hợp sau:

a)     Giúp người giám sát dữ liệu nhạy cảm có thể thực hiện được những quyền và nghĩa vụ theo luật định,

b)     Giúp bảo vệ những lợi ích sống còn của đối tượng dữ liệu cá nhân và một số người khác cần được bảo vệ và trường hợp đối tượng dữ liệu cá nhân không thể thực hiện sự cho phép của mình, hoặc

c)     Giúp cho việc thực hiện khiếu nại có thể được tiến hành, áp dụng và bảo vệ theo đúng pháp luật

                        Thông tin được khai thác theo quy định tại đoạn thứ nhất a) có thể được cung cấp cho bên thứ ba chỉ khi pháp luật có quy định và đối tượng dữ liệu cá nhân có sự cho phép rõ ràng.

 

Những tổ chức phi lợi nhuận

Mục 17

            Những tổ chức phi lợi nhuận hoạt động vì các mục đích chính trị, triết học, tôn giáo hoặc công đoàn trong khuôn khổ hoạt động của mình có thể thực hiện khai thác dữ liệu cá nhân nhạy cảm liên quan đến những thành viên của tổ chức đó hoặc những đối tượng có liên hệ thường xuyên với tổ chức đó. Tuy nhiên, dữ liệu cá nhân nhạy cảm chỉ được cung cấp cho bên thứ ba nếu đối tượng khai thác dữ liệu có sự cho phép rõ ràng.

 

Chăm sóc sức khoẻ và y tế

Mục 18

            Dữ liệu cá nhân nhạy cảm có thể được khai thác để phục vụ cho mục đích chăm sóc sức khoẻ và y tế, nếu điều đó là cần thiết cho những trường hợp sau:

a)     Chăm sóc y tế phòng ngừa và chăm sóc sức khoẻ,

b)     Giúp cho việc chẩn đoán y tế,

c)     Chăm sóc sức khoẻ và điều trị, hoặc

d)     Quản lý các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ y tế.

            Người làm công việc chuyên nghiệp trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ và là người có nghĩa vụ về bảo đảm bí mật có thể khai thác dữ liệu cá nhân nhạy cảm theo quy định về tính bảo mật. Quy định này cũng áp dụng đối với người có nghĩa vụ về bảo đảm bí mật và những người được cung cấp dữ liệu cá nhân nhạy cảm trong hoạt động của lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ.

 

Nghiên cứu và thống kê

Mục 19

            Dữ liệu cá nhân nhạy cảm có thể được khai thác để phục vụ các mục đích nghiên cứu và thống kê trong những trường hợp cần thiết như quy định tại Mục 10, và lợi ích xã hội từ những nghiên cứu và thống kê này lớn hơn vượt trội rủi ro về việc xâm phạm bất hợp lý quyền riêng tư cá nhân do việc khai thác dữ liệu gây ra.

            Trong trường hợp việc khai thác dữ liệu cá nhân được hội đồng đạo đức nghiên cứu thông qua thì có thể coi những điều kiện đầu tiên quy định tại đoạn thứ nhất được thực hiện. Hội đồng đạo đức nghiên cứu là một tổ chức đặc biệt có nhiệm vụ xem xét những vấn đề về đạo đức nghiên cứu khi những vấn đề này phục vụ lợi ích cho cả xã hội và cả bên nghiên cứu, liên quan đến một trường đại học, cao đẳng và những tổ chức tương tự. Điều này là nội dung rất quan trọng để gây quỹ nghiên cứu.

            Dữ liệu cá nhân có thể được cung cấp để phục vụ những dự án được quy định tại đoạn thứ nhất, những trường hợp khác sẽ được cung cấp theo quy định về sự bí mật và bảo mật.

Việc cấp phép đối với những trường hợp ngoại lệ khác

Mục 20

            Chính phủ hoặc cơ quan được Chính phủ chỉ định có thể ban hành những quy định pháp lý về những trường hợp ngoại lệ khác xuất phát những trường hợp cấm được quy định tại Mục 13 nếu xét thấy việc ban hành này là cần thiết cho một lợi ích chung của xã hội.

 

Thông tin liên quan đến những hành vi phạm tội...

Mục 21

            Ngoại trừ cơ quan công quyền, các tổ chức cá nhân khác bị cấm khai thác dữ liệu cá nhân liên quan đến những hành vi phạm tội bao gồm tội phạm, những phán quyết về những trường hợp phạm tội, những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự hoặc liên quan đến việc tước đoạt quyền tự do.

            Chính phủ hoặc cơ quan được chỉ định bởi Chính phủ có thể ban hành những quy định pháp lý về những trường hợp ngoại lệ từ những trường hợp cấm được quy đinh tại đoạn thứ nhất.

            Trong những trường hợp cụ thể, Chính phủ có thể đưa ra quyết định đối với những trường hợp ngoại lệ xuất phát từ những trường hợp cấm được quy định tại đoạn thứ nhất. Chính phủ có thể trao quyền cho cơ quan giám sát để đưa ra những quyết định này.

 

Khai thác số căn cước cá nhân

Mục 22

            Nếu không có sự cho phép, thông tin về số căn cước cá nhân hoặc phân loại số căn cước cá nhân chỉ có thể được tiếp cận khi những nội dung sau đây được giải thích rõ ràng:

            a) Mục đích của việc khai thác,

            b) Tầm quan trọng của thẻ căn cước bảo đảm, hoặc

            c) Những lý do đáng lưu ý khác.

 

Thông tin cho đối tượng dữ liệu cá nhân

Thông tin cần được cung cấp tự nguyện

Mục 23

            Trong trường hợp dữ liệu về một cá nhân được thu thập từ chính cá nhân đó, người kiểm soát dữ liệu cá nhân sẽ phối hợp tự nguyện cung cấp cho đối tượng dữ liệu cá nhân những thông tin về quá trình khai thác dữ liệu.

 

Mục 24

            Trong trường hợp dữ liệu cá nhân được thu thập từ nguồn khác, không phải từ đối tượng dữ liệu cá nhân, người kiểm soát dữ liệu cá nhân sẽ tự nguyện cung cấp cho đối tượng dữ liệu cá nhân thông tin về quá trình khai thác dữ liệu khi thông tin này được ghi nhận. Tuy nhiên, nếu những dữ liệu này được tiết lộ cho bên thứ ba, thông tin về quá trình khai thác dữ liệu cá nhân sẽ không được cung cấp trước khi những dữ liệu cá nhân được tiết lộ lần đầu tiên.

            Thông tin quy định tại đoạn thứ nhất không được cung cấp nếu có những quy định pháp lý về việc đăng ký hoặc tiết lộ dữ liệu cá nhân trong một đạo luật hoặc các sắc lệnh khác.

            Theo đoạn thứ nhất, thông tin không được cung cấp nếu chứng minh được rằng việc cung cấp là không thể thực hiện hoặc đó là sự cố gắng không cân xứng. Tuy nhiên, nếu dữ liệu cá nhân được sử dụng để đánh giá đối tượng dữ liệu cá nhân, những thông tin đó sẽ được cung cấp mới nhất là liên quan tới những gì đang xảy ra.

 

Những thông tin  sau đây phải được cung cấp tự nguyện

Mục 25

            Thông tin quy định tại Mục 23 và Mục 24 bao gồm:

            a) Thông tin liên quan đến căn cước của người kiểm soát dữ liệu cá nhân,

            b) Thông tin liên quan đến mục đích khai thác, và

            c) Tất cả những thông tin khác cần thiết cho đối tượng dữ liệu cá nhân thực hiện những quyền lợi của mình liên quan đến việc khai thác dữ liệu, như thông tin về người nhận dữ liệu cá nhân, nghĩa vụ cung cấp thông tin và quyền yêu cầu thông tin hoặc được đính chính thông tin.

            Tuy nhiên, những thông tin mà đối tượng dữ liệu cá nhân đã biết thì không cần được cung cấp.

 

Thông tin được cung cấp theo yêu cầu

Mục 26

            Đối với mỗi cá nhân yêu cầu được khai thác dữ liệu, người kiểm soát dữ liệu cá nhân có nghĩa vụ về mặt pháp lý cung cấp miễn phí một lần một năm thông báo về việc dữ liệu có được khai thác hay không. Nếu dữ liệu được khai thác, thông báo bằng văn bản sẽ bao gồm các nội dung:

            a) Những thông tin nào được yêu cầu khai thác,

            b) Thông tin được thu thập từ đâu,

            c) Mục đích của việc khai thác, và

            d) Thông tin sẽ  được tiết lộ cho những người nhận hoặc nhóm người nhận nào.

            Yêu cầu được cung cấp dữ liệu cá nhân quy định tại đoạn thứ nhất phải dưới dạng văn bản được ký bởi chính người yêu cầu và được gửi tới người kiểm soát dữ liệu cá nhân. Thông tin quy định tại đoạn thứ nhất sẽ được cung cấp trong vòng một tháng kể từ khi có đơn yêu cầu. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, thông tin có thể được cung cấp không muộn hơn nhưng không quá bốn tháng kể từ khi có đơn yêu cầu.

            Thông tin về dữ liệu cá nhân quy định tại đoạn thứ nhất không cần thiết phải cung cấp nếu nó chưa phải là bản cuối cùng khi có đơn yêu cầu hoặc bao gồm những bản ghi tóm tắt hoặc những dạng tương tự. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng nếu dữ liệu chỉ được tiết lộ cho một bên thứ ba hoặc dữ liệu đã chỉ được khai thác cho những mục đích lịch sử, thống kê hay khoa học, hoặc nếu dữ liệu đã được khai thác trong khoảng thời gian hơn một năm khi ở những dạng văn bản chưa phải bản cuối cùng.

 

Những ngoại lệ đối với nghĩa vụ cung cấp thông tin trong trường hợp bí mật hoặc có nhiệm vụ bảo mật

Mục 27

            Đối với những trường hợp đặc biệt được quy định tại một đạo luật hoặc văn bản pháp quy khác hoặc bởi một quyết định được ban hành theo quy định của một đạo luật mà theo đó thông tin sẽ không đươc cung cấp cho đối tượng dữ liệu cá nhân, những quy định tại Mục 23 đến Mục 26 sẽ không được áp dụng. Người kiểm soát dữ liệu cá nhân không phải cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp đó sẽ từ chối cung cấp thông tin cho đối tượng dữ liệu cá nhân theo Đạo luật về bảo mật (1980:100)

 

Đính chính

Mục 28

           Theo yêu cầu của đối tượng dữ liệu cá nhân, người kiểm soát dữ liệu cá nhân có nghĩa vụ về mặt pháp lý ngay lập tức đính chính, ngăn chặn hoặc xoá bỏ những dữ liệu cá nhân không được khai thác theo quy đinh tại Đạo luật này hoặc theo những văn bản hướng dẫn thi hành Đạo luật này. Người kiểm soát dữ liệu cá nhân cũng phải thông báo cho bên thứ ba được cung cấp dữ liệu cá nhân về những thay đổi này trong trường hợp đối tượng dữ liệu cá nhân yêu cầu hoặc việc thông báo này sẽ giúp đối tượng dữ liệu cá nhân tránh được những bất lợi hoặc thiệt hại quan trọng. Tuy nhiên, việc thông báo sẽ không được thực hiện nếu xét thấy việc đó là không thể thực hiện được.

 

Những quyết định tự động 

Mục 29

           Trong trường hợp một quyết định có những ảnh hưởng pháp lý tới một cá nhân hoặc có những tác động rõ ràng tới một cá nhân mà chỉ dựa vào việc khai thác tự động dữ liệu cá nhân như đưa ra đánh giá về một cá nhân thì cá nhân bị ảnh hưởng bởi quyết định đó có quyền yêu cầu việc xem xét lại quyết định.

           Những cá nhân là đối tượng của quyết định quy định tại đoạn thứ nhất có quyền yêu cầu người kiểm soát dữ liệu cá nhân cung cấp thông tin về việc kiểm soát quá trình khai thác dữ liệu tự động mà dẫn tới quyết định đó. Áp dụng những quy định liên quan đến việc yêu cầu và cung cấp thông tin tại Mục 26.

 

An ninh trong việc khai thác

Những cá nhân khai thác dữ liệu

Mục 30

           Người trợ giúp kiểm soát dữ liệu cá nhân và cá nhân hoặc những cá nhân làm việc dưới quyền người đó hoặc dưới quyền người kiểm soát dữ liệu cá nhân có thể chỉ khai thác dữ liệu cá nhân dưới sự hướng dẫn của người kiểm soát dữ liệu cá nhân.

           Người kiểm soát dữ liệu cá nhân ủy quyền cho người trợ giúp kiểm soát dữ liệu cá nhân trong việc khai thác dữ liệu phải được lập thành văn bản. Hợp đồng sẽ có những điều khoản đặc biệt quy định về việc người trợ giúp kiểm soát dữ liệu cá nhân chỉ có thể khai thác dữ liệu cá nhân dưới sự hướng dẫn của người kiểm soát dữ liệu cá nhân, và người trợ giúp kiểm soát dữ liệu cá nhân có nghĩa vụ pháp lý thực hiện những biện pháp quy định tại Mục 31, đoạn thứ nhất.

           Trường hợp một đạo luật hoăc văn bản pháp quy khác có những quy định đặc biệt khác về việc khai thác dữ liệu cá nhân trong các hoạt động công cộng  liên quan tới nội dung tại đoạn thứ nhất, thì sẽ áp dụng những quy định đó thay cho những quy định tại đoạn thứ nhất.

 

Các biện pháp an ninh

Mục 31

           Người kiểm soát dữ liệu cá nhân sẽ áp dụng những biện pháp phù hợp về mặt kỹ thuật và tổ chức nhằm bảo vệ những dữ liệu cá nhân được khai thác. Những biện pháp này sẽ đảm bảo an ninh phù hợp với những nội dung sau:

           a) Những khả năng kỹ thuật có thể sử dụng,

           b) Chi phí thực hiện những biện pháp đó,

           c) Những rủi ro đặc biệt liên quan đến việc khai thác dữ liệu cá nhân, và

           d) Mức độ nhạy cảm của dữ liệu được khai thác.

           Trường hợp người kiểm soát dữ liệu cá nhân lựa chọn người trợ giúp kiểm soát dữ liệu cá nhân, người kiểm soát dữ liệu cá nhân phải đảm bảo người trợ giúp kiểm soát dữ liệu cá nhân có thể áp dụng những biện pháp an ninh cần thiết và triển khai các biện pháp đó.

 

Cơ quan giám sát có thể quyết định các biện pháp an ninh

Mục 32

           Trong từng trường hợp cụ thể, cơ quan giám sát có thể quyết định những biện pháp an ninh mà người kiểm soát dữ liệu cá nhân sẽ áp dụng theo quy định tại Mục 31.

           Mục 45 có những quy định về quyền lực của cơ quan giám sát trong việc đưa ra quyết định hình phạt trong trường hợp không thực hiện.

 

Chuyển giao dữ liệu cá nhân cho bên thứ ba

Ngăn cấm chuyển giao dữ liệu cá nhân cho bên thứ ba

Mục 33

           Không được chuyển giao những dữ liệu cá nhân đang được khai thác cho bên thứ ba trừ trường hợp bên thứ ba đảm bảo được mức độ bảo vệ phù hợp đối với những dữ liệu cá nhân đó. Điều khoản này cũng áp dụng đối với trường hợp chuyển giao dữ liệu cá nhân khai thác tại một nước thứ ba.

           Mức độ bảo vệ phù hợp của bên thứ ba được đánh giá theo tất cả các khía cạnh liên quan đến việc chuyển giao. Đặc biệt chú ý đến bản chất của dữ liệu, mục đích khai thác, khoảng thời gian khai thác, quốc gia cung cấp, quốc gia cuối cùng nhận dữ liệu và các quy định liên quan đến việc khai thác tại nước thứ ba.

 

Những ngoại lệ đối với việc ngăn cấm chuyển giao dữ liệu cá nhân cho bên thứ ba

Mục 34

           Mục 33 quy định việc ngăn cấm chuyển giao dữ liệu cá nhân cho bên thứ ba, tuy nhiên, việc chuyển giao được phép thực hiện nếu có sự cho phép của đối tượng dữ liệu cá nhân hoặc việc chuyển giao đó là cần thiết cho:

           a) Việc thực hiện hợp đồng giữa đối tượng dữ liệu cá nhân và người kiểm soát dữ liệu cá nhân hoặc việc áp dụng các biện pháp giao ước tiền hợp đồng theo yêu cầu của đối tượng dữ liệu cá nhân,

           b) Việc ký kết hoặc thực hiện hợp đồng giữa người kiểm soát dữ liệu cá nhân và bên thứ ba vì lợi ích của đối tượng dữ liệu cá nhân,

           c) Việc đưa ra, thực hiện hoặc bảo vệ các khiếu nại pháp lý, hoặc

           d) Việc bảo vệ những lợi ích sống còn của đối tượng dữ liệu cá nhân.

           Việc chuyển giao cũng được cho phép trong trường hợp dữ liệu cá nhân chỉ được sử dụng tại quốc gia đã gia nhập Hiệp định của Hội đồng Châu Âu về bảo vệ cá nhân, phần Khai thác tự động Dữ liệu cá nhân.

 

Mục 35

           Chính phủ có thể ban hành những quy định pháp lý liên quan đến những ngoại lệ từ việc ngăn cấm chuyển giao dữ liệu cá nhân cho bên thứ ba trong những trường hợp cụ thể. Liên quan tới việc khai thác tự động dữ liệu cá nhân, Chính phủ cũng có thể ban hành những quy định về việc chuyển giao dữ liệu cá nhân cho các nước thứ ba được phép, với điều kiện việc chuyển giao được quy định theo hợp đồng có những điều khoản bảo vệ phù hợp đối với quyền của đối tượng dữ liệu cá nhân.

           Ngoài ra, Chính phủ hoặc cơ quan được Chính phủ chỉ định ban hành những quy đinh pháp lý liên quan đến những ngoại lệ đối với việc ngăn cấm được quy định tại Mục 33, nếu việc ban hành đó là cần thiết cho lợi ích cộng đồng hoặc cung cấp những biện pháp bảo vệ phù hợp đối với quyền của đối tượng dữ liệu cá nhân.

           Với những điều kiện tiên quyết quy định tại đoạn thứ hai, Chính phủ có thể quyết định những trường hợp ngoại lệ cụ thể đối với việc ngăn cấm quy định tại Mục 33. Chính phủ cũng có thể trao quyền cho cơ quan giám sát đưa ra những quyết định này.

 

Thông báo cho cơ quan giám sát

Trách nhiệm thông báo

Mục 36

           Việc khai thác dữ liệu cá nhân tự động toàn bộ hoặc một phần là thuộc phạm vi của trách nhiệm thông báo. Người kiểm soát dữ liệu cá nhân sẽ thông báo bằng văn bản cho cơ quan giám sát trước khi việc khai thác hoặc tổ hợp khai thác với mục đích tương tự được thực hiện.

           Việc người kiểm soát dữ liệu cá nhân chỉ định người đại diện dữ liệu cá nhân sẽ được thông báo cho cơ quan giám sát. Việc miễn nhiệm người đại diện dữ liệu cá nhân cũng sẽ được thông báo cho cơ quan giám sát.

           Chính phủ hoặc cơ quan được Chính phủ chỉ định có thể ban hành những quy định pháp lý liên quan tới những ngoại lệ đối với trách nhiệm thông báo quy định tại đoạn thứ nhất cho những trường hợp khai thác dữ liệu không tạo ra sự xâm phạm trái phép tính toàn vẹn cá nhân.

 

Việc thông báo là không cần thiết trong trường hợp có người đại diện dữ liệu cá nhân.

Mục 37

           Việc thông báo quy định tại Mục 36 không cần thiết phải thực hiện trong trường hợp người kiểm soát dữ liệu cá nhân đã thông báo cho cơ quan giám sát về người đại điện dữ liệu cá nhân đã được chỉ định.

 

Chức năng của người đại diện dữ liệu cá nhân

Mục 38

            Người đại diện dữ liệu cá nhân có chức năng đảm bảo một cách độc lập rằng người kiểm soát dữ liệu cá nhân thực hiện việc khai thác dữ liệu cá nhân theo luật định, đúng phương pháp, phù hợp với thực tế và đồng thời cũng đưa ra những điểm chưa phù hợp của người kiểm soát dữ liệu cá nhân.

            Trong trường hợp người đại diện dữ liệu cá nhân có lý do nghi ngờ rằng người kiểm soát dữ liệu cá nhân vi phạm các quy định liên quan đến việc khai thác dữ liệu cá nhân, và không thực hiện việc đính chính trong điều kiện có thể thực hiện được sau khi đã được thông báo, người đại diện dữ liệu cá nhân sẽ thông báo trường hợp này cho cơ quan giám sát.

            Ngoài ra, người đại diện dữ liệu cá nhân cũng có thể kiến nghị với cơ quan giám sát khi có nghi ngờ về việc áp dụng những quy định đối với việc khai thác dữ liệu cá nhân.

 

Mục 39

            Người đại diện dữ liệu cá nhân sẽ xác nhận danh sách những nội dung khai thác được tiến hành bởi người kiểm soát dữ liệu cá nhân và thuộc phạm vi của trách nhiệm thông báo trong trường hợp không có người đại diện dữ liệu cá nhân. Danh sách này ít nhất cũng phải bao gồm những thông tin có trong thông báo được quy định tại Mục 36.

 

Mục 40

            Người đại diện dữ liệu cá nhân sẽ hỗ trợ đối tượng dữ liệu cá nhân trong việc yêu cầu đính chính khi có lý do nghi ngờ rằng các dữ liệu cá nhân được khai thác là không đúng hoặc không đầy đủ.

 

Thông báo bắt buộc đối với việc khai thác dữ liệu cá nhân trong những trường hợp đặc biệt nhạy cảm liên quan tới tính toàn vẹn của dữ liệu.

Mục 41

            Chính phủ có thể ban hành những quy định pháp lý quy định việc khai thác dữ liệu cá nhân gây ra những rủi ro đặc biệt xâm phạm trái phép tới tính toàn vẹn cá nhân sẽ được thông báo cho cơ quan giám sát để cơ quan này thực hiện việc kiểm tra sơ bộ trước ba tuần theo quy định tại Mục 36. Trong trường hợp Chính phủ ban hành các quy định này, những ngoại lệ đối với nghĩa vụ thông báo quy định tại Mục 37 sẽ không được thực hiện.

 

Thông tin cho công chúng về việc khai thác không được thông báo

Mục 42

            Khi được bất cứ người nào yêu cầu, người kiểm soát dữ liệu cá nhân sẽ nhanh chóng và bằng biện pháp thích hợp cung cấp thông tin về trường hợp khai thác dữ liệu cá nhân tự động hoặc khai thác dữ liệu cá nhân khác mà không được thông báo cho cơ quan giám sát. Thông tin được cung cấp sẽ bao gồm những thông tin trong thông báo quy định tại Mục 36, đoạn thứ nhất. Tuy nhiên, người kiểm soát dữ liệu cá nhân không có trách nhiệm phải cung cấp những thông tin thuộc phạm vi bí mật hoặc thuộc phạm vi các biện pháp an ninh. Trong trường hợp này, người kiểm soát dữ liệu cá nhân mà không phải là một cơ quan quản lý sẽ từ chối cung cấp thông tin theo quy định tại Đạo luật bảo mật (1998:100).

 

Quyền lực của cơ quan giám sát

Mục 43

            Cơ quan giám sát được trao quyền giám sát những nội dung sau:

            a) Tiếp cận dữ liệu cá nhân được khai thác,

            b) Thông tin và tài liệu chứng minh về việc khai thác dữ liệu và tính an toàn của việc khai thác đó,

            c) Tiếp cận những tiền đề liên quan tới việc khai thác dữ liệu cá nhân.

 

Mục 44

           Căn cứ theo yêu cầu quy định tại Mục 43, trong trường hợp cơ quan giám sát không thể có được thông tin đầy đủ để kết luận việc khai thác dữ liệu cá nhân là đúng pháp luật, cơ quan giám sát có thể cấm, trong phạm vi quy định người kiểm soát dữ liệu cá nhân thực hiện các biện pháp khai thác dữ liệu ngoại trừ việc lưu trữ dữ liệu.

 

Mục 45

           Trong trường hợp cơ quan giám sát kết luận rằng dữ liệu bị khai thác hoặc có thể bị khai thác trái luật, cơ quan giám sát sẽ nhắc nhở hoặc có những biện pháp tương tự cho việc đính chính. Trong trường hợp không thể đính chính hoặc trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan giám sát có thể cấm, trong phạm vi luật định, người kiểm soát dữ liệu cá nhân tiếp tục thực hiện các biện pháp khai thác dữ liệu ngoại trừ việc lưu trữ dữ liệu.

           Nếu người kiểm soát dữ liệu cá nhân không tự nguyện tuân theo quyết định về các biện pháp an ninh quy định tại Mục 32 như hiệu lực pháp lý cuối cùng, cơ  quan giám sát có thể áp dụng hình phạt đối với trường hợp không thực hiện.

 

Mục 46

           Trước khi cơ quan giám sát quyết định hình phạt đối với trường hợp không thực hiện theo quy định tại Mục 44 hoặc Mục 45, người kiểm soát dữ liệu cá nhân có cơ hội được giải trình. Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan giám sát sẽ tạm dừng việc giải trình quan điểm và có thể ban hành một quyết định tạm thời phạt trường hợp không thực hiện đó. Quyết định tạm thời này có thể được xem xét lại khi thời hạn cho việc giải trình đã hết.

           Một quyết định phạt sẽ được tống đạt tới người kiểm soát dữ liệu cá nhân. Tống đạt theo quy định tại Mục 12 Đạo luật về tống đạt (1970:428) chỉ được sử dụng nếu có lý do cho rằng người kiểm soát dữ liệu cá nhân đã bỏ trốn hoặc trốn tránh bằng cách này hay cách khác.

 

Mục 47

           Tại Toà án hành chính địa phương nơi cơ quan quản lý đặt trụ sở, Cơ quan giám sát có thể đề nghị xoá bỏ dữ liệu cá nhân đã bị khai thác trái pháp luật.

           Quyết định về việc xoá bỏ có thể không được ban hành nếu điều này là bất hợp lý.

 

Thiệt hại

Mục 48

           Người kiểm soát dữ liệu cá nhân sẽ bồi thường cho đối tượng dữ liệu cá nhân những thiệt hại và sự xâm phạm tính toàn vẹn cá nhân mà việc khai thác dữ liệu cá nhân gây ra do vi phạm Đạo luật này.

           Trách nhiệm chi trả bồi thường có thể, nếu xét thấy hợp lý, được điều chỉnh nếu người cung cấp dữ liệu cá nhân chứng minh được rằng lỗi đó không phải do họ gây ra.

 

Hình phạt

Mục 49

           Một người do cố tình hay vô ý mà:

           a) Cung cấp những thông tin không đúng sự thật cho đối tượng dữ liệu cá nhân theo quy định tại Đạo luật này, hoặc trong thông báo cho cơ quan giám sát theo quy định tại Mục 36, hoặc tại Mục 43 khi cơ quan giám sát yêu cầu cung cấp thông tin,

           b) Khai thác dữ liệu cá nhân vi phạm các quy định tại Mục 13 đến Mục 21,

           c) Chuyển giao dữ liệu cá nhân cho bên thứ ba vi phạm các quy định tại Mục 33 đến Mục 35, hoặc

           d) Bỏ sót việc nộp thông báo theo quy định tại Mục 36, đoạn thứ nhất, hoặc theo những quy định được ban hành theo Mục 41, sẽ bị phạt tiền hoặc phạt tù nhiều nhất là 6 tháng, hoặc, nếu vi phạm nghiêm trọng sẽ bị phạt tù nhiều nhất là 2 năm.

           Hình phạt sẽ không áp dụng cho những trường hợp có lỗi nhẹ.

           Người vi phạm trong trường hợp không thực hiện theo quy định tại Mục 44 hoặc Mục 45, đoạn thứ nhất, sẽ không bị phạt với nội dung trách nhiệm tuân thủ theo Đạo luật này.

 

 

Những quy định cụ thể

Mục 50

            Chính phủ hoặc cơ quan được Chính phủ chỉ định có thể ban hành những quy định cụ thể hơn liên quan đến:

            a) Những trường hợp cho phép khai thác dữ liệu cá nhân,

            b) Những yêu cầu đối với người kiểm soát dữ liệu cá nhân khi khai thác dữ liệu cá nhân,

            c) Những trường hợp cho phép sử dụng số căn cước cá nhân,

            d) Những nội dung có trong thông báo hoặc đơn yêu cầu gửi tới người kiểm soát dữ liệu cá nhân,

            e) Những thông tin nào sẽ được cung cấp cho đối tượng dữ liệu cá nhân và cách thức cung cấp, và

            f) Việc thông báo cho cơ quan giám sát và thủ tục tiến hành khi những thông tin trong thông báo được sửa đổi.

 

Kháng cáo

Mục 51

            Những quyết định của cơ quan giám sát theo quy định của Đạo luật này, ngoại trừ những quy định liên quan, có thể bị kháng cáo tại một toà hành chính nói chung.

            Việc kháng cáo tại Toà Phúc thẩm hành chính phải có sự cho phép kháng cáo theo luật định.

            Cơ quan giám sát có thể ra quyết định rằng các quyết định của cơ quan này vẫn phải được thực hiện dù có sự kháng cáo.

 

Hiệu lực và các điều khoản chuyển tiếp

 

            1. Đạo luật này có hiệu lực vào ngày 24/10/1998, thay thế cho những quy định tại Đạo luật Dữ liệu (1973:289). Tuy nhiên, Đạo luật cũ vẫn được áp dụng cho những nội dung liên quan tới việc kháng cáo lại các quyết định được ban hành trước ngày 24/10/1998.

            2. Liên quan tới việc khai thác dữ liệu cá nhân bắt đầu được thực hiện trước khi Đạo luật này có hiệu lực, hoặc việc khai thác là do một mục đích đặc biệt trong trường hợp việc khai thác vì mục đích này được bắt đầu trước khi Đạo luật này có hiệu lực, Đạo luật cũ sẽ được áp dụng thay đạo luật mới cho thời điểm tính đến vào gồm cả ngày 30/9/2001. Những quy định trong Đạo luật cũ cũng được áp dụng khi kháng cáo.

            3. Những quy định tại Mục 9, Mục 10, Mục 13, Mục 21 của Đạo luật mới  sẽ không được áp dụng trước ngày 01/10/2007 liên quan đến việc thực hiện thủ công khai thác dữ liệu cá nhân được bắt đầu trước khi có hiệu lực, hoặc liên quan đến việc khai thác thủ công do một mục đích đặc biệt trong trường hợp việc khai thác dữ liệu thủ công này được thực hiện trước khi quy định có hiệu lực.

            4. Liên quan tới dữ liệu cá nhân tại các quy định có hiệu lực được lưu trữ cho mục đích nghiên cứu lịch sử, những điều khoản tại Mục 9, Mục 10, Mục 13, Mục 21 Đạo luật mới sẽ được áp dụng trước tiên khi thông tin được khai thác theo cách này hay cách khác. Những quy định tương tự tại Đạo luật cũ sẽ được áp dụng đến thời điểm đó. Tuy nhiên, những quy định đó tại Đạo luật mới sẽ không được áp dụng trước thời điểm quy định tại đoạn 2 và đoạn 3 với những lý do nêu tại hai đoạn đó.

            5. Việc thông báo theo quy định tại Mục 36 đạo luật mới có thể được thực hiện trước khi Đạo luật mới có hiệu lực cho những trường hợp khai thác dữ liệu bị nghi ngờ.

            6. Sự cho phép có trước khi Đạo luật mới có hiệu lực đối với những trường hợp khai thác dữ liệu bị nghi ngờ cũng sẽ được áp dụng sau khi quy định này có hiệu lực với điều kiện sự cho phép đó đảm bảo các yêu cầu quy định tại Đạo luật mới.

            7. Trong trường hợp yêu cầu đăng ký theo quy định tại Mục 10 Đạo luật cũ được ghi nhận trước khi Đạo luật mới có hiệu lực đối với những trường hợp khai thác dữ liệu bị nghi ngờ nhưng đã được rút lại hoặc chưa được thực hiện trước khi quy định này có hiệu lực, yêu cầu đó sẽ được coi như đơn yêu cầu theo quy định tại Mục 26 của Đạo luật mới.

            8. Những quy định tại Đạo luật mới về thiệt hại sẽ chỉ được áp dụng trong những trường hợp kiến nghị liên quan có trước khi Đạo luật mới có hiệu lực đối với những trường hợp khai thác dữ liệu bị nghi ngờ. Trong những trường hợp khác sẽ áp dụng những quy định tại Đạo luật cũ.

 

 

BỘ LUẬT ĐIỀU TRA HÌNH SỰ VƯƠNG QUỐC BỈ

(Trích)

 

Quyển 2

 VỀ TƯ PHÁP

 

Mục 2

MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG LỢI ÍCH CÔNG CỘNG VÀ AN NINH QUỐC GIA

 

CHƯƠNG I : LÝ LỊCH TƯ PHÁP TRUNG ƯƠNG

Điều 589.

Lý lịch tư pháp quốc gia trung ương, sau đây gọi là «Lý lịch tư pháp » là một hệ thống xử lý tự động đặt dưới sự quản lý của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, có nhiệm vụ bảo đảm việc đăng ký, lưu trữ và thay đổi các dữ liệu liên quan đến các quyết định được ban hành trong lĩnh vực hình sự và quốc phòng, phù hợp với các quy định tại chương này.

Mục đích của lý lịch tư pháp là cung cấp các thông tin được lưu trữ tại cơ sở dữ liệu cho các đối tượng sau :

1)     Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong lĩnh vực hình sự ;

2)     Các cơ quan hành chính nhà nước, trong trường hợp muốn áp dụng các quy định nào đó thì cần thiết phải biết thông tin về quá khứ phạm tội của những đối tượng có thể bị áp dụng một số biện pháp xử lý hành chính;

3)     Các cá nhân trong trường hợp họ có nghĩa vụ cung cấp một bản trích yếu lý lịch tư pháp;

4)     Các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong trường hợp được quy định bởi các điều ước quốc tế.

Việc đăng ký các thông tin được thực hiện bởi thư ký của các toà sơ thẩm và phúc thẩm hoặc bởi bộ phận lý lịch tư pháp trực thuộc Bộ Tư pháp.

Nhằm áp dụng Điều 8, khoản 1 Luật ngày 08 tháng 12 năm 1992 liên quan đến bảo vệ bí mật đời tư khi xử lý các dữ liệu có tính chất gắn liền với nhân thân, các thông tin nói trên có thể là cơ sở của việc thống kê do Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện và công bố.

Điều 590.

Đối với mỗi cá nhân, lý lịch tư pháp lưu trữ các thông tin sau:

1)     Các bản án, quyết định về các tội hình sự rất nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, các tội vi cảnh;

Các quyết định tuyên bố tạm đình chỉ việc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đình chỉ việc truy cứu, huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ hoặc quyết định đình chỉ việc truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc quyết định thay thế việc tạm đình chỉ đơn giản bằng việc đình chỉ, phù hợp với quy định tại các điều từ Điều 3 đến Điều 6 của Luật ngày 29 tháng 6 năm 1964 quy định về tạm đình chỉ, án treo và đình chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự;

Các quyết định phạt tiền do công tố viên hoàng gia tuyên phù hợp với quy định tại Điều 65bis Luật dữ liệu ngày 16 tháng 3 năm 1968 về xử phạt vi phạm giao thông.

2)     Các quyết định huỷ việc áp dụng hình phạt án treo phù hợp với quy định tại Điều 14 của Luật trên;

3)     Các quyết định giam giữ, tước bỏ tạm thời hoặc vĩnh viễn quyền tự do và quyết định tái hoà nhập cộng đồng, được áp dụng đối với các đối tượng đặc biệt phù hợp với quy định tại Điều 7 và các điều từ Điều 18 đến Điều 20 của Luật ngày 01 tháng 7 năm 1964 về việc đảm bảo an ninh quốc gia đối với các đối tượng đặc biệt và các đối tượng phạm tội chuyên nghiệp;

4)     Các quyết định áp dụng theo yêu cầu của Chính phủ về việc giam giữ các đối tượng tái phạm, đối tượng phạm tội chuyên nghiệp và tội phạm tình dục, phù hợp với quy định tại các Điều 22, Điều 23, Điều 23bis, Điều 25bis và Điều 26 của Luật nói trên;

5)     Các quyết định giam giữ những người bị kết án quy định tại Điều 21 của Luật nói trên và các quyết định bắt buộc đưa các đối tượng này quay trở lại nhà tù;

6)      Quyết định tước quyền làm cha, mẹ, quyết định tái hoà nhập, các biện pháp được tuyên đối với trẻ vị thành niên, được liệt kê tại Điều 63 Luật ngày 08 tháng 4 năm 1965 liên quan đến bảo vệ thanh niên; tương tự như đối với việc huỷ hoặc thay đổi các quyết định do Toà vị thành niên tuyên tuân theo quy định tại Điều 60 của Luật nói trên;

7)     Các bản án tuyên huỷ phù hợp với quy định tại các điều từ Điều 416 đến Điều 442 hoặc từ Điều 443 đến Điều 447bis của Bộ luật này;

8)     Các quyết định công nhận và thi hành được tuyên phù hợp với quy định tại các điều từ Điều 10 đến Điều 14 của Luật đặc biệt ngày 06 tháng 01 năm 1989 về toà án trọng tài;

9)     Các quyết định giải thích hoặc đính chính bản án ;

10)  Các bản án khôi phục quyền được tuyên phù hợp với quy định từ Điều 621 đến Điều 634 của Bộ luật này;

11)    Các quyết định khôi phục quyền được tuyên phù hợp với quy định tại Pháp lệnh ngày 09 tháng 12 năm 1943 về việc khôi phục quyền đối với những người làm nghề hàng hải và về việc chấm dứt việc truy cứu trách nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng đối với một số tội phạm hàng hải;

12)    Các quyết định khôi phục phù hợp với quy định của Pháp lệnh ngày 22 tháng 4 năm 1918 về khôi phục quyền đối với quân nhân;

13)   Các quyết định ân xá;

14)   Các quyết định áp dụng hoặc hủy bỏ việc tha tù có điều kiện;

15)   Các quyết định hình sự được tuyên bởi toà án nước ngoài liên quan đến công dân Bỉ, được thông báo cho Chính phủ Bỉ theo quy định của các điều ước quốc tế, cũng như là các biện pháp ân xá, xoá bỏ việc kết án hoặc khôi phục quyền do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tuyên và thông báo cho Chính phủ Bỉ biết.

Lý lịch tư pháp đăng ký cả các hình phạt bổ sung và các biện pháp bảo đảm an ninh, cũng như là án treo xuất phát từ các bản án của toà án.

Các bản án đã được đăng ký và đã là đối tượng của một quyết định được tuyên sau khi có kháng cáo trong thời hạn kháng cáo đặc biệt hoặc sau khi có bản án mới tuyên thay thế bản án cũ bị huỷ, thì bị xoá khỏi lý lịch tư pháp.

 

 Điều 591.

Các công chức loại 1 của bộ phận lý lịch tư pháp trực thuộc Bộ Tư pháp, được chỉ định đích danh bằng văn bản, và trưởng bộ phận thư ký toà án thuộc hệ thống toà án tư pháp, có quyền tiếp cận các thông tin quy định tại Điều 3, khoản 1, từ điểm 1 đến điểm 8 và khoản 2 của Luật ngày 08 tháng 8 năm 1983 quy định về cơ sở dữ liệu quốc gia về các cá nhân, với điều kiện là chỉ trong khuôn khổ thực thi các nhiệm vụ quản lý lý lịch tư pháp.

Các cơ quan này được quyền sử dụng số căn cước của hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về các cá nhân, chỉ với mục đích nhận dạng những cá nhân được lưu trữ trong hệ thống lý lịch tư pháp.

Những người có thẩm quyền trên có thể uỷ quyền thực hiện các hành vi quy định tại khoản trên cho một hoặc nhiều người có trách nhiệm nhập dữ liệu lý lịch tư pháp. Việc uỷ quyền phải đích danh và được lập thành văn bản. Việc uỷ quyền phải nêu rõ lý do và phải được chứng minh bởi sự cần thiết của công việc.

Những người được quy định tại Điều 593, trong khuôn khổ tra cứu lý lịch tư pháp, có quyền tiếp cận với những thông tin được quy định tại điều 3, khoản 1, từ mục 1 đến mục 9 và khoản 2 của Luật ngày 08 tháng 8 năm 1983 quy định việc lập dữ liệu quốc gia về các cá nhân.

Nhà vua quy định các điều kiện theo đó việc tiếp cận thông tin này được thực hiện.

Điều 592.

Các thư ký toà án chuyển cho trung tâm lý lịch tư pháp các quyết định được quy định tại Điều 590 chậm nhất là 03 ngày sau khi bản án, quyết định có hiệu lực.

Các thư ký toà án chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của các thông tin được nêu trong các bản án, quyết định do toà án tuyên.

Điều 593.

Các công tố viên, bao gồm cả các thành viên của cơ quan tư pháp liên minh châu Âu (Eurojust), thẩm phán điều tra, công chức loại 1 của các cơ quan hành chính nhà nước được chỉ định bằng văn bản chịu trách nhiệm thi hành các quyết định được tuyên trong lĩnh vực hình sự hoặc các biện pháp bảo đảm an ninh quốc gia, các công chức cảnh sát thuộc nhóm cảnh sát tư pháp theo quy định tại Điều 3 của Luật ngày 05 tháng 8 năm 1992 về chức năng, nhiệm vụ của cảnh sát, các công chức loại 1 được chỉ định đích danh bằng văn bản của các cơ quan quản lý thông tin theo quy định tại Luật ngày 18 tháng 7 năm 1991 quy định về giám sát các cơ quan cảnh sát và cơ quan quản lý thông tin và các nhân viên của cơ quan xử lý thông tin tài chính cũng như là các nhân viên thuộc cơ quan này tương đương với công chức loại 1 của Nhà nước, có quyền thường xuyên tiếp cận thông tin lưu trữ trong lý lịch tư pháp, nhưng chỉ trong phạm vi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của họ do luật quy định mà việc thực hiện các nhiệm vụ này đòi hỏi phải biết các thông tin trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp liên quan đến nhân thân của mỗi người, trừ các trường hợp sau:

1)   Các trường hợp bị kết án nhưng đã được ân xá;

2)   Các quyết định bị huỷ theo quy định tại các điều từ Điều 416 đến Điều 442 hoặc các điều từ Điều 443 đến Điều 447bis của Bộ luật này;

3)   Các quyết định huỷ, cải, sửa theo quy định tại các điều từ Điều 10 đến Điều 14 Luật đặc biệt ngày 06 tháng 01 năm 1989 về toà án trọng tài;

4)   Các bản án và quyết định được tuyên trên cơ sở một điều khoản của luật đã bị huỷ bỏ, với điều kiện là việc phi tội phạm hoá o des condamnations et des décisions prononcées sur la base d'une disposition ayant fait l'objet d'une đã được thực hiện.

Các công tố viên có thể uỷ quyền thực hiện chức năng, quyền hạn trên, trong phạm vi nội bộ viện công tố, cho một hoặc nhiều người được chỉ định đích danh bằng văn bản. Các thẩm phán điều tra có thể uỷ quyền cho thư ký toà án thực hiện nhiệm vụ trên.

 Điều 594.

            Nhà vua có thể cho phép một số cơ quan hành chính, bằng Nghị định được thông qua tại phiên họp của Hội đồng Bộ trưởng, sau khi đã tham vấn Uỷ ban quốc gia về bảo vệ bí mật đời tư, thực hiện việc tiếp cận đối với các thông tin đã được lưu giữ trong hệ thống lý lịch tư pháp, duy nhất với mục đích đã được xác định hoặc được quy định trong luật, trừ trường hợp :

1)     Các bản án hoặc quyết định được liệt kê tại Điều 593, từ khoản 1 đến khoản 4 ;

2)     Các quyết định cải, sửa và các bản án được tuyên theo sự cải, sửa này;

3)           Các quyết định cho phép hoãn việc tuyên bản án và trường hợp hoãn tạm thời;

4)     Các quyết định kết án cải tạo lao động phù hợp với quy định tại Điều 37 Bộ luật hình sự.

Các cơ quan hành chính trên không được quyền tiếp cận với những bản án đã tuyên hình phạt tù giam tối đa lên đến 6 tháng, hình phạt tiền không vượt quá 500 Phờ-răng và hình phạt tiền được áp dụng theo quy định của Luật được bổ sung bởi Nghị định ngày 16 tháng 3 năm 1968 về xử phạt vi phạm giao thông đường bộ, không kể mức phạt, sau một thời hạn 3 năm tính từ ngày có quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp các bản án này có quy định về thời hiệu hoặc các biện pháp cấm thực hiện hành vi mà hậu quả vượt quá 3 năm, được tuyên rõ trong bản án hoặc việc công bố bản án đó được thực hiện theo quy định của một điều khoản trong luật hoặc nghị định.

Các cơ quan trên được quyền tiếp cận với các biện pháp được tuyên theo quy định của Điều 63 Luật ngày 08 tháng 4 năm 1965 về bảo vệ thanh niên và vị thành niên đã thực hiện một hành vi bị xác định là tội phạm và bồi thường thiệt hại do hành vi này gây ra, theo các điều kiện được quy định tại Điều này.

Điều 595.

Mọi người, sau khi chứng minh nhân thân của mình, đều có quyền được cấp một trích lục lý lịch tư pháp chứa đựng các thông tin được lưu trữ tại trung tâm lý lịch tư pháp liên quan trực tiếp đến họ, trừ trường hợp :

1)     Các bản án, quyết định hoặc biện pháp được liệt kê tại Điều 594, khoản 1 đến khoản 4;

2)     Các biện pháp áp dụng đối với những đối tượng đặc biệt theo quy định của Luật ngày 01 tháng 7 năm 1964;

3)     Các biện pháp được tuyên theo Điều 63 Luật ngày 08 tháng 4 năm 1965 về bảo vệ thanh niên và vị thành niên đã thực hiện một hành vi bị xác định là tội phạm và bồi thường thiệt hại do hành vi này gây ra.

Những bản án đã tuyên hình phạt tù giam tối đa lên đến 6 tháng trở lên, hình phạt tiền không vượt quá 500 Phờ-răng và hình phạt tiền được áp dụng theo quy định của luật được bổ sung bởi Nghị định ngày 16 tháng 3 năm 1968 về xử phạt vi phạm giao thông đường bộ, không kể mức phạt, không được liệt kê tại trích lục này sau một thời hạn là 3 năm tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp trong bản án có quy định về việc cấm thực hiện hành vi mà hậu quả vượt quá 3 năm. Trình tự, thủ tục cấp trích lục do cơ quan hành chính nơi đương sự thường trú hoặc tạm trú, nhân danh nhà vua, quy định. Trong trường hợp đương sự không thường trú hoặc tạm trú tại Bỉ, thì việc cấp trích lục được thực hiện bởi trung tâm lý lịch tư pháp trực thuộc Bộ Tư pháp.

Mọi người, sau khi chứng minh được nhân thân của mình, đều có quyền được cung cấp thông tin được lưu tại trung tâm lý lịch tư pháp liên quan trực tiếp đến họ, phù hợp với quy định tại Điều 10 Luật ngày 08 tháng 12 năm 1992 về bảo vệ bí mật đời tư trong việc xử lý các thông tin có tính chất nhân thân.

Điều 596.

Trong trường hợp yêu cầu cấp trích lục lý lịch tư pháp được thực hiện với mục đích nhằm hành nghề nhất định mà điều kiện hành nghề này được quy định bởi luật hoặc nghị định, trích lục chỉ rõ các quyết định theo quy định tại Điều 595, khoản 2 khi nó chứa đựng các biện pháp cấm thực hiện hành vi mà hậu quả vượt quá 3 năm, cấm đương sự thực hiện hoạt động này.

Trong trường hợp yêu cầu cấp lý lịch tư pháp được thực hiện với mục đích hành nghề trong lĩnh vực giáo dục, tư vấn tâm lý, y tế, xã hội, trợ giúp cho thanh niên, bảo vệ trẻ em, định hướng cho vị thành niên, trích lục lý lịch tư pháp sẽ chỉ rõ mọi bản án, quyết định được tuyên theo Điều 590, khoản 4 và khoản 5 về những hành vi được quy định tại các điều từ Điều 354 đến Điều 360, Điều 368, Điều 369, Điều 372 đến Điều 386, Điều 398 đến Điều 410, Điều 422bis và Điều 422 khoản 1 Bộ luật hình sự khi những hành vi này được thực hiện nhằm vào trẻ em và các hành vi này cấu thành tội phạm hoặc là tình tiết tăng nặng hình phạt.

Trình tự, thủ tục cấp trích lục do cơ quan hành chính nơi đương sự thường trú hoặc tạm trú, nhân danh nhà vua, quy định. Trong trường hợp đương sự không thường trú hoặc tạm trú tại Bỉ, thì việc cấp trích lục được thực hiện bởi trung tâm lý lịch tư pháp trực thuộc Bộ Tư pháp.

Điều 597.

Trích lục lý lịch tư pháp cũng được cấp cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong trường hợp điều ước quốc tế mà Bỉ là thành viên có quy định.

Điều 598.

Các thông tin lưu trữ trong hệ thống lý lịch tư pháp liên quan đến người đã chết được chuyển mỗi năm một lần đến cơ quan lưu trữ quốc gia.

Điều 599.

Việc tra cứu hệ thống lý lịch tư pháp và việc cấp trích lục lý lịch tư pháp có thể phải nộp phí theo mức do nhà vua quy định.

Điều 600.

Các thông tin được tra cứu từ hệ thống lý lịch tư pháp không được coi là chứng cứ của các phán quyết tư pháp hoặc hành chính có liên quan.

Điều 601.

Những người mà, trong khi thi hành nhiệm vụ, thực hiện các công việc như thu thập, xử lý hoặc chuyển giao các thông tin theo quy định tại Điều 590 có nghĩa vụ phải giữ bí mật nghề nghiệp. Điều 458 Bộ luật hình sự có thể được áp dụng đối với họ khi họ vi phạm nghĩa vụ này.

Họ phải áp dụng mọi biện pháp hữu ích nhằm đảm bảo tính an toàn, bảo mật của các thông tin được lưu trữ và phòng chống lại việc huỷ hoại, xâm phạm hoặc tiết lộ thông tin cho người không có quyền được cung cấp. Họ có nghĩa vụ áp dụng mọi biện pháp phù hợp để cài đặt các chương trình phục vụ việc xử lý bằng điện tử các thông tin cũng như là tính hợp lệ của việc áp dụng các chương trình này. Họ giám sát tính hợp lệ của việc chuyển giao các thông tin.

Việc xác định nhân thân của bất kỳ người nào thực hiện việc truy cập vào hệ thống lý lịch tư pháp đều được lưu trữ trong một hệ thống kiểm soát. Các thông tin này được lưu trữ trong thời hạn 6 tháng.

 

Điều 602.

Nhà vua có thể quy định các biện pháp riêng nhằm đảm bảo tính an toàn của các thông tin liên quan đến lý lịch tư pháp.

 

 
  Hướng dẫn luật lý lịch tư pháp

 

 

 

 

BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ PHÁP

(Trích)

Quyển 5

THỦ TỤC THI HÀNH ÁN

Thiên thứ tám

LÝ LỊCH TƯ PHÁP

 

Điều 768.

(Luật số 80-2 ngày 04/01/1980) "Cơ quan lý lịch tư pháp quốc gia tự động hóa, đặt dưới quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, có thể bao gồm một hoặc nhiều trung tâm xử lý tài liệu. Đối với những người sinh ra tại nước Pháp mà sau khi đã kiểm tra căn cước qua sổ quốc gia về căn cước, thì trong bất cứ trường hợp nào sổ căn cước không thể dùng làm cơ sở để kiểm tra căn cước":

1) (Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) "Những bản án đương tịch hoặc bản án trọng tội xử vắng mặt vì bị cáo từ chối trình diện, những bản án xử vắng mặt, không bị kháng án vắng mặt, xử về trọng tội, khinh tội và tội vi cảnh bậc năm, cũng như những quy định tuyên có tội nhưng cho miễn hình phạt hoặc hoãn tuyên hình phạt, trừ những trường hợp không ghi vào Phiếu lý lịch tư pháp số 1 theo quy định tại Điều 132 - 59 Bộ luật Hình sự;

2) Những bản án đương tịch hoặc xử vắng mặt không bị kháng án vắng mặt, đối với những tội vi cảnh thuộc về bốn bậc đầu tiên, nếu có kèm theo quyết định về cấm quyền, thất quyền, hoặc về vô năng, với tính chất hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung";

3) Những quyết định được tuyên do áp dụng các Điều 8, Điều 15, Điều 16 và Điều 28 của Quyết định số 45 - 174 ngày 02/02/1945 về trẻ em phạm tội;

4) Những quyết định về kỷ luật của cơ quan tư pháp hoặc cơ quan hành chính nếu có hậu quả hoặc có quyết định về vô năng;

 5) (Bị bãi bỏ bởi Luật số 94 - 475 ngày 10/6/1994, các Điều 93 và 99) "về mặt phục hồi tư pháp" (Luật số 85-98 ngày 25/01/1985) "những bản án tuyên bố việc thanh lý tư pháp đối với những thể nhân, sự phá sản cá nhân hoặc cấm quyền quy định tại Điều 192 Luật số 85-98 ngày 25/01/1985 liên quan đến vấn đề phục hồi tư pháp và thanh lý tư pháp các doanh nghiệp".

6) Các bản án, quyết định bãi bỏ phụ quyền hoặc rút toàn bộ hoặc một phần các quyền có liên quan đến phụ quyền;

7) Những quyết định trục xuất người nước ngoài;

8) (Luật số 84-1150 ngày 21/12/1984) "Những bản án của Tòa án nước ngoài mà theo một Công ước hoặc Hiệp định quốc tế, đã được thông báo cho các nhà chức trách Pháp hoặc đã được thi hành án ở Pháp do người bị hình phạt đã được chuyển giao về Pháp.

 

Điều 768-1.

(Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) đối với các pháp nhân thì, sau khi đã kiểm tra căn cước qua sổ quốc gia về căn cước, cơ quan lý lịch tư pháp quốc gia thu nhận:

1) Những bản án đương tịch và những bản án vắng mặt không bị kháng án vắng mặt, do mọi Tòa hình sự xét xử, về trọng tội, khinh tội, hoặc tội vi cảnh bậc năm;

2) Những bản án đương tịch và những bản án vắng mặt không bị kháng án vắng mặt về những tội vi cảnh bốn bậc đầu tiên có kèm theo một biện pháp cấm quyền, thất quyền, vô năng hoặc hạn chế quyền, với tính chất hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung;

3) Những tuyên bố có tội phạm nhưng cho miễn hình phạt hoặc hoãn tuyên hình phạt, những tuyên bố này có kèm theo hoặc không kèm theo mệnh lệnh;

4) Những bản án của Tòa án nước ngoài mà theo Công ước hoặc một Hiệp định quốc tế, đã được tuyên báo cho các nhà chức trách Pháp.

Thủ tục thi hành điều này do pháp lệnh của Tham chính viện quy định.

 

Điều 769.

(Luật số 84-1150 ngày 21/12/1984) "Phải ghi vào các phiếu lý lịch tư pháp những hình phạt hoặc miễn hình phạt được tuyên sau khi hoãn tuyên hình phạt, những hình phạt được tuyên án giảm, chuyển đổi hoặc giảm bớt, những quyết định tạm hoãn hoặc ra lệnh thi hành một hình phạt đầu tiên, những quyết định theo khoản 2 Điều 713-3 hoặc của khoản 1 Điều 713-6, những quyết định về tha trước thời hạn hoặc hủy quyết định đó, những quyết định về tạm hoãn hình phạt (bị bãi bỏ bởi Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) "những quyết định xóa án", những quyết định về rút lại hoặc hoãn việc trục xuất, cũng như ngày hết hạn hình phạt hoặc ngày nộp tiền phạt".

(Luật số 75-624 ngày 11/7/1975) Phải rút khỏi lý lịch tư pháp những phiếu về hình phạt đã được đại xá (Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992)", đã được xoá án đương nhiên hoặc do Toà án quyết định" hoặc được sửa đổi theo một quyết định về sửa lý lịch tư pháp. Cũng được rút khỏi lý lịch tư pháp những phiếu về hình phạt đã được tuyên trên 40 năm mà sau đó không bị xử phạt đối với tội mới về trọng tội hoặc khinh tội, trừ những hành vi không được áp dụng thời hiệu.

(Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) "Cũng được rút khỏi lý lịch tư pháp:

1) Những bản án tuyên về phá sản cá nhân hoặc cấm quyền theo Điều 192 Luật số 85-98 ngày 25/01/1985 nói trên nhưng đã được xóa bằng một bản án về hết nợ, hoặc một bản án xoá án, hoặc đã quá hạn 5 năm kể từ ngày những bản án đó đã trở thành nhất định, hoặc đã quá hạn 5 năm đối với bản án quyết định việc thanh lý tư pháp đối với một thể nhân, tính từ ngày bản án đó trở thành nhất định, hoặc (Luật số 94-475 ngày 0/6/1994) "sau khi có bản án về xóa án”.

"Tuy nhiên, nếu thời gian phá sản cá nhân hoặc cấm quyền là trên 5 năm thì những hình phạt có liên quan đến những biện pháp đó vẫn được ghi trong những phiếu lý lịch tư pháp trong thời gian đó;

2) Những quyết định về kỷ luật đã được xóa;

3) Những hình phạt được hưởng án treo một phần hoặc toàn bộ, có hay không có thời gian thử thách, đã hết hạn quy định tại các Điều 133-13 và Điều 133-14 Bộ luật hình sự, tính từ ngày các hình phạt đó được coi là không có;

4) Những quyết định miễn hình phạt sau 3 năm kể từ ngày quyết định đó trở thành nhất định;

5) Những hình phạt vi cảnh sau 3 năm kể từ ngày việc xử phạt trở thành nhất định.

 

Điều 769-1.

(Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) Phải ghi vào các phiếu lý lịch tư pháp của pháp nhân, những sự thay đổi quy định tại khoản 1 Điều 769.

Khoản 2 Điều 769 được áp dụng đối với những việc xử phạt đối với những pháp nhân.

 

Điều 769-2.

(Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) Được rút khỏi lý lịch tư pháp:

1) Những phiếu có liên quan đến những biện pháp được thực hiện theo các Điều 8, Điều 15, Điều 16, Điều 16bis và Điều 28 của Quyết định số 45-174 ngày 02/02/1945 đối với trẻ em phạm tội, sau khi hết hạn và trong mọi trường hợp, khi đứa trẻ đã đến tuổi thành niên;

2) Những phiếu có liên quan đến phạt tiền cũng như phạt tù giam không quá hai tháng đối với những người chưa thành niên, khi đương sự đến tuổi thành niên;

3) Những phiếu có liên quan đến những hình phạt do Tòa án xử trẻ em quyết định, có hoặc không cho hưởng án treo, có hoặc không có thời gian thử thách, hoặc cho hưởng án treo nhưng buộc phải thực hiện một việc làm vì lợi ích chung, khi hết hạn thử thách.

 

Điều 770.

(Luật số 70-643 ngày 17/7/1970) Đối với người chưa thành niên chưa đủ mười tám tuổi bị xử phạt mà đã cải tạo tốt thì sau 3 năm kể từ khi có quyết định, dù rằng người đó đã đến tuổi thành niên, Tòa án xử trẻ em có thể quyết định hủy phiếu lý lịch tư pháp về hình phạt đó, theo yêu cầu của họ, của Viện công tố hoặc cũng có thể tự mình quyết định.

Quyết định của Tòa án xử trẻ em là chung thẩm. Khi Tòa án đã quyết định thì không để quyết định về bản án phạt trong lý lịch tư pháp của người chưa thành niên nữa. Phiếu có liên quan đến quyết định xử phạt phải được huỷ.

Tòa án đã xử phạt, Tòa án nơi cư trú hoặc nơi sinh của người chưa thành niên, có thẩm quyền xét đơn yêu cầu đó.

Nếu đương sự đã cải tạo tốt thì Tòa án có thể quyết định hủy phiếu lý lịch tư pháp có liên quan đến hình phạt đối với người từ 18 đến 21 tuổi sau 3 năm kể từ ngày họ bị xử phạt. Tòa án chỉ được quyết định hủy sau khi họ đã thi hành hình phạt tù và nộp tiền phạt và, nếu có hình phạt bổ sung thì chỉ quyết định sau khi hết thời hạn hình phạt bổ sung.

Trong trường hợp quyết định tại khoản trên đã hết thời hạn thì phải có đơn đề nghị huỷ, theo những quy định về thẩm quyền và thủ tục quy định tại các khoản 2 và khoản 3 Điều 778.

 

Điều 771.

(Luật số 80-2 ngày 04/01/1980) Cơ quan lý lịch tư pháp quốc gia tự động hóa cũng thu nhận những bản án, quyết định nói tại Điều 768 Bộ luật này đối với những người sinh ở nước ngoài và những người mà giấy khai sinh không tìm được hoặc căn cước không rõ ràng.

Điều 772.

Một bản sao phiếu lý lịch tư pháp về những bản án hoặc quyết định xử phạt của người làm nghĩa vụ quân sự được gửi cho các nhà chức trách quân sự nếu việc xử phạt có tác dụng là thay đổi những điều kiện về nhập ngũ của người đó.

Những nhà chức trách đó cũng được thông báo về mọi sự thay đổi đã đưa vào phiếu hoặc lý lịch tư pháp căn cứ vào các Điều 769 và Điều 770.

Điều 773.

(Luật số 85-669 ngày 11/7/1985, Điều 10) Cơ quan lý lịch tư pháp quốc gia tự động hóa chuyển cho Viện thống kê quốc gia căn cước của những người đã có quyết định tước quyền bầu cử.

Điều 773-1.

(Luật số 80-2 ngày 04/01/1980) Bản sao của phiếu ghi hình phạt tước tự do về trọng tội hoặc khinh tội được gửi để ghi vào sổ cái của cảnh sát kỹ thuật thuộc Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Việc tra cứu sổ này chỉ thuộc quyền của các nhà chức trách tư pháp và các cơ quan cảnh sát.

Nếu được đại xá hoặc được xóa án thì những việc xử phạt không được để lại trong sổ nữa.

Điều 774.

Bản ghi toàn bộ các phiếu về lý lịch tư pháp của mỗi người được chép vào một phiếu gọi là phiếu lý lịch tư pháp số 1.

Phiếu lý lịch tư pháp số 1 chỉ cấp cho các nhà chức trách tư pháp.

(Luật số 75-624 ngày 11/7/1975) "Nếu không có phiếu nào về lý lịch tư pháp thì ghi vào phiếu lý lịch tư pháp số 1 là "không có gì".

Điều 774-1.

(Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) Bản ghi toàn bộ các phiếu về lý lịch tư pháp của mỗi pháp nhân được chép vào phiếu lý lịch tư pháp số 1 chỉ được cấp cho các nhà chức trách tư pháp quốc gia, trừ trường hợp có thỏa thuận có đi có lại với nước ngoài.

Nếu không có phiếu nào về lý lịch tư pháp thì ghi vào phiếu lý lịch tư pháp số 1 là "không có gì".

Điều 775.

(Luật số 70-643 ngày 17/7/1970) Phiếu lý lịch tư pháp số 2 là bản ghi các phiếu về lý lịch tư pháp đối với một người, trừ những quyết định sau đây:

1) "Những quyết định xử phạt theo các Điều 2, Điều 8, Điều 15, Điều 16, 18 và Điều 28 của Quyết định số 45-174 ngày 02/02/1945 được sửa đổi, về trẻ em phạm tội;

2) (Luật số 75-624 ngày 11/7/1975) "Những việc xử phạt đã bị Điều 775-1 cấm ghi vào phiếu lý lịch tư pháp số 2";

3) Những phạt về vi cảnh;

4) Những việc xử phạt được hưởng án treo, có hoặc không có thử thách, khi những việc xử phạt này được coi là không có;

5) (Bị bãi bỏ từ ngày 01/3/1994 bởi Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) "Những xử phạt được xóa do đương nhiên khôi phục công quyền hoặc do quyết định của Toà án".

6) Những hình phạt được áp dụng Điều 343 {361} Bộ luật tòa án quân sự;

7) (Bị bãi bỏ từ ngày 01/3/1994 bởi Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) (Luật số 85 - 98 ngày 25/01/1985 Điều 189) "Về trường hợp phục hồi tư pháp, những bản án công bố sự phá sản cá nhân, hoặc cấm quyền do Điều 192 Luật số 85-98 ngày 25/01/1985 nói trên quy định, khi những biện pháp đó đã được xóa bằng một bản án về hết nợ, một bản án xóa án, hoặc đã hết hạn 5 năm kể từ ngày những xử phạt đó đã trở thành nhất định, cũng như bản án công bố việc thanh lý tư pháp đối với một thể nhân khi hết hạn 5 năm tính từ ngày bản án đó trở thành nhất định, hoặc sau khi có bản án về hết nợ. Mặc dù Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992 đã bãi bỏ khoản 7 trên đây từ ngày 01/3/1994, Điều 93-II của Luật số 94-475 ngày 10/6/1994 quy định: "Tại khoản 7 Điều 775, những từ phục hồi tư pháp" bị xóa bỏ và những từ "bản án công bố thanh lý tư pháp" được thay bằng những từ "bản án thanh lý tư pháp".

Tuy nhiên, nếu thời gian phá sản cá nhân hoặc cấm quyền là trên 5 năm thì xử phạt liên quan đến các biện pháp đó được ghi vào phiếu lý lịch tư pháp số 2 cũng sang thời gian đó".

8) (Bị bãi bỏ từ ngày 01/3/1994 bởi Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992-1336 ngày 16/12/1992);

9) Những quyết định về bãi bỏ phụ quyền;

10) Những quyết định về trục xuất bị bãi bỏ hoặc rút lại; 

11) "(Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) "Những hình phạt không được hưởng án treo theo quy định tại các Điều 131-5 đến Điều 131-11 Bộ luật hình sự khi hết thời hạn tính từ ngày bản án trở thành nhất định. Nếu là hình phạt "phạt tiền theo ngày" (peine de jours-amende) thì thời hạn là 3 năm;

(Luật số 75-624 ngày 11/7/1975) "Tuy nhiên, nếu thời hạn cấm quyền, thất quyền hoặc vô năng tuyên theo (Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992)" các Điều 131-10 và Điều 131-11" là trên 5 năm thì ghi vào phiếu lý lịch tư pháp số 2 trong thời gian đó;

12) Những quyết định tuyên có tội nhưng miễn hình phạt (Luật số 89-461 ngày 06/7/1989) "hoãn tuyên hình phạt";

13) Những hình phạt do các Tòa án nước ngoài quyết định.

Trong trường hợp có khiếu nại về danh sách cử tri thì trong phiếu lý lịch tư pháp số 2 được cung cấp, chỉ ghi những quyết định có hậu quả là mất quyền bầu cử.

Nếu không có phiếu nào về lý lịch tư pháp được ghi vào phiếu lý lịch tư pháp số 2 thì ghi vào phiếu số 2 là "không có gì".

Điều 775-1A.

(Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) Phiếu lý lịch tư pháp số 2 của một pháp nhân là bản ghi những phiếu về xử phạt pháp nhân đó, trừ những quyết định sau đây:

1) Những hình phạt mà Điều 775-1 quy định không ghi vào trích lục lý lịch tư pháp;

2) Những xử phạt về vi cảnh và phạt tiền dưới 200.000 Phờ-răng;

3) Những hình phạt được hưởng án treo khi những hình phạt này được coi như không có;

4) Những quyết định tuyên có tội nhưng miễn hình phạt hoặc hoãn tuyên hình phạt, có hoặc không kèm theo mệnh lệnh;

5) Những hình phạt của Tòa án nước ngoài.

Nếu trong lý lịch tư pháp không có phiếu nào liên quan đến các quyết định cần ghi vào phiếu lý lịch tư pháp số 2 thì ghi là "không có gì".

Điều 775-1.

(Luật số 75-624 ngày 11/7/1975) Tòa án đã xử phạt có thể quyết định không ghi hình phạt đó vào phiếu lý lịch tư pháp số 2. Tòa án có thể quyết định ngay trong bản án đã tuyên hình phạt hoặc trong một bản án sau đó theo đơn của người bị án. Đơn này được xem xét và quyết định theo thẩm quyền và thủ tục do (Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) "các Điều 702-1 và Điều 703 quy định".

Khi hình phạt này không được ghi vào phiếu lý lịch tư pháp số 2 thì cũng không được ghi mọi sự cấm quyền, thất quyền hoặc vô năng là hậu quả của hình phạt đó.

 

Điều 775-2.

(Luật số 88-828 ngày 20/7/1988) Những người bị kết án phải chịu một hình phạt được đương nhiên xóa án, sẽ không bị ghi hình phạt vào phiếu lý lịch tư pháp số 2 khi họ có đơn yêu cầu những quy định về thẩm quyền nói trên ở Điều trên, khi hết thời hạn 20 năm kể từ khi họ được trả tự do hoặc được trả tự do trước thời hạn mà không bị bắt lại, nếu sau đó họ không bị phạt về trọng tội hoặc khinh tội.

Điều 776.

Phiếu lý lịch tư pháp số 2 được cấp cho:

1) Các tỉnh trưởng và cơ quan Nhà nước xét các đơn xin việc, các đề nghị về tặng danh hiệu, để được tham gia đấu thầu công trình hoặc cung ứng công cộng, hoặc trường hợp xem xét về kỷ luật, hoặc xin mở trường tư thục;

2) (Luật số 85-98 ngày 25/01/1985, Điều 219) "Các nhà chức trách quân sự đối với những người được gọi nhập ngũ hoặc được đăng ký hải quân đối với những thanh niên muốn làm việc trong quân đội và các nhà chức trách có thẩm quyền khi có khiếu nại về quyền bầu cử hoặc về tình trạng vô năng trong việc thực thi một công vụ được bầu ra do Điều 194 Luật số 85-98 ngày 25/01/1985, Điều 219 quy định".

3) Các cơ quan quản lý và các pháp nhân theo danh sách được xác định bởi Quy định về hành chính do Điều 779 quy định.

4) Cho các Chánh án Tòa án thương mại để đưa vào thủ tục phá sản và thanh lý tư pháp, cũng như cho các Thẩm phán phụ trách việc kiểm soát sổ thương mại khi có đơn đăng ký vào sổ đó.

 

Điều 776-1.

(Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) Phiếu lý lịch tư pháp số 2 của các pháp nhân được cấp cho:

1) Các tỉnh trưởng, các cơ quan Nhà nước và các đơn vị hành chính địa phương xét các đề nghị hoặc cam kết trong các việc đấu thầu công trình hoặc cung ứng công cộng;

2) Các cơ quan phụ trách việc chỉnh đốn các nghề về nông nghiệp, thương mại, công ngiệp;

3) Các Chánh án Tòa án thương mại trong trưòng hợp phục hồi tư pháp hoặc thanh lý tư pháp, cũng như các Thẩm phán phụ trách kiểm soát sổ thương mại và công ty khi có đơn xin đăng ký;

4) Ban quản lý thị trường chứng khoán về những pháp nhân gọi vốn tiết kiệm.

Điều 777.

(Luật số 75-624 ngày 11/7/1975) Phiếu lý lịch tư pháp số 3 là bản ghi những hình phạt về trọng tội hoặc khinh tội không bị loại trong phiếu lý lịch tư pháp số 2:

1) Những hình phạt tước tự do trên hai năm không được hưởng án treo có thể phải thụ hình toàn bộ do không cho hưởng án treo nữa;

2) Những hình phạt tước tự do nói ở khoản 1 trên đây và với thời hạn 2 năm hoặc dưới 2 năm nhưng Tòa án quyết định là ghi vào phiếu lý lịch tư pháp số 3;

3) Những hình phạt cấm quyền, thất quyền hoặc vô năng không được hưởng án treo trong thời gian bị cấm quyền, thất quyền hoặc vô năng, theo (Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) " các Điều 131-6 đến Điều 131-11 Bộ luật hình sự".

(Luật số 70-643 ngày 17/7/1970) Đương sự có thể yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp số 3 về mình. Trong bất cứ trường hợp nào cũng không được cấp cho người thứ ba.

Điều 777-1.

(Luật số 75-624 ngày 11/7/1975) Có thể không ghi vào phiếu lý lịch tư pháp số 3 những hình phạt theo những quy định tại khoản 1 Điều 775-1.

 

Điều 777-2.

(Luật số 80-2 ngày 04/01/1980) Mọi người cần chứng thực căn cước của mình có thể làm đơn gửi đến Biện lý Tòa án tỉnh nơi ở của mình để được thông báo cho biết toàn bộ những điều ghi trong phiếu lý lịch tư pháp của người đó.

(Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) "Nếu là pháp nhân muốn chứng thực tư cách của pháp nhân thì người đại diện hợp pháp của pháp nhân phải gửi đơn đến Biện lý Tòa án tỉnh nơi có trụ sở của pháp nhân.

"Nếu người hoặc pháp nhân ở hoặc có trụ sở ở nước ngoài thì thông báo được chuyển qua trung gian nhân viên ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền.

Việc thông báo không có giá trị  khi tống đạt những quyết định chưa trở thành nhất định và không dùng để tính thời hạn kháng tố.

Bản sao của bản ghi chép toàn bộ đó không được cấp cho ai cả.

Những quy định tại Điều này cũng áp dụng đối với sổ cái của cảnh sát kỹ thuật.

 

Điều 777-3.

(Luật số 80-2 ngày 04/01/1980) Không được thực hiện bất cứ sự so sánh, hội nhập nào, theo nghĩa của Điều 19 Luật số 78-17 ngày 06/01/1978 về tin học, giữa các phiếu của cơ quan lý lịch tư pháp quốc gia tự động hóa với các phiếu hoặc sổ tư liệu theo tên người do một người nào đó hoặc một cơ quan không thuộc Bộ Tư pháp giữ.

Trong các phiếu hoặc sổ tư liệu theo tên người do một người nào đó hoặc một cơ quan không thuộc Bộ Tư pháp giữ, không được phép ghi những bản án xử phạt, trừ những trường hợp được pháp luật quy định.

Tuy nhiên, người bị hại vì một tội phạm có thể viện dẫn trước Tòa một án xử phạt về hình sự.

Mọi vi phạm những quy định trên đây sẽ bị xử phạt (Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) "bằng những hình phạt về khinh tội do Điều 226-21 Bộ luật hình sự quy định".

Điều 778.

Nếu trong khi tiến hành tố tụng về một vụ án mà Biện lý hoặc dự thẩm thấy rằng một người trước đó đã bị xử phạt dưới một căn cước giả hoặc đã chiếm nhận căn cước của người khác thì Biện lý tự mình cho thực hiện ngay việc sửa chữa căn cước trước khi kết thúc tố tụng đối với vụ án đó.

Yêu cầu sửa chữa được gửi cho Chánh án Tòa án sơ thẩm hoặc Tòa án phúc thẩm đã ra quyết định xử phạt. Nếu Tòa đại hình đã ra quyết định thì gửi cho phòng luận tội.

Chánh án chuyển yêu cầu này cho Viện công tố và giao cho một thẩm phán làm một báo cáo. Việc xét xử được tiến hành và Tòa tuyên bản án theo thủ tục đối với những việc không phải mở phiên tòa xét xử công khai. Tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm có thể triệu tập người đã bị xử phạt.

Nếu yêu cầu được chấp nhận thì các chi phí do người đó phải gánh chịu nếu họ đã được triệu tập đến Tòa. Trong trường hợp yêu cầu không được chấp nhận hoặc người đó không thanh toán thì chi phí do Kho bạc Nhà nước gánh chịu.

Người nào muốn yêu cầu sửa chữa lý lịch tư pháp của mình cũng có thể tiến hành theo thể thức đó. Nếu yêu cầu không được chấp nhận thì họ phải chịu chi phí.

Trong lề bản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm phải ghi quyết định về sửa chữa căn cước.

Thủ tục này cũng được áp dụng trong trường hợp có khiếu nại trong việc đương nhiên xóa án hoặc có vướng mắc trong việc áp dụng một luật về đại xá theo những quy định tại khoản 2 Điều 769 của Luật này.

 

Điều 779.

Một quy định về hành chính (pháp lệnh của Tham chính viện) sẽ quy định những biện pháp cần thiết để thi hành các Điều từ 768 đến Điều 778 và đặc biệt là những điều kiện về yêu cầu, lập và cấp những phiếu lý lịch tư pháp số 1, số 2 và số 3.

(Luật số 80-2 ngày 04/01/1980) "Quy định đó cũng xác định những điều kiện mà những thông tin do cơ quan lý lịch tư pháp quốc gia nhận được có thể sử dụng để thi hành án dân sự".

(Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) "Pháp lệnh đó còn tổ chức việc chuyển giao những thông tin giữa cơ quan lý lịch tư pháp quốc gia tự động hóa với những người hoặc cơ quan được phép đến cơ quan đó".

(Luật số 80-2 ngày 04/01/1980) " Quy định về hành chính nói trên được quyết định sau khi có ý kiến của ban tin học quốc gia.

 

Điều 780.

Bị bãi bỏ từ ngày 01/3/1994 bởi Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992.

Điều 781.

Người nào dùng tên giả hoặc một tư cách giả để được cấp bản trích lý lịch tư pháp của một người thứ ba thì bị phạt tiền (Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992) 50.000 Phờ-răng.

Người nào cung cấp những tài liệu không có thật, làm cho hoặc có thể làm cho việc ghi lý lịch tư pháp bị sai thì cũng bị phạt như thế.

(Luật số 80-2 ngày 04/01/1980) "Hình phạt nói trên cũng áp dụng đối với người yêu cầu cấp mà được đương sự cấp cho một phần hoặc toàn bộ những điều ghi trong bản chép toàn bộ lý lịch tư pháp nói ở Điều 772-2 của Bộ luật này".

 

 

 


 

[1] Khái niệm “Lý lịch tư pháp” trong tiếng Anh là “Criminal records”, tiếng Pháp là “Casier judiciaire”.

[2] Điều 72 Hiến pháp năm 1992; Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự  năm 2003.

[3] Điều 63 Bộ luật hình sự  năm 1999.

[4] Ở các nước như Nhật Bản, Canada, Bỉ, Tây Ban Nha, phạm vi quản lý lý lịch tư pháp bao gồm nội dung về án tích và tình trạng thi hành án.

[5] Điều 78 Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CH Ba Lan; Điều 58 Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CH dân chủ nhân dân Lào.

[6] Nghị định số 60/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/10/2000 quy định việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

[7] Nghị định số 61/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/10/2000 quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo.

[8] Nghị định số 53/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/8/2001 hướng dẫn thi hành các hình phạt cấm cư trú và quản chế.

 

[9] Điều 64 Bộ luật hình sự năm 1999.

[10] Điều 65 và Điều 66 Bộ luật hình sự năm 1999.

[11] Điều 270 Bộ luật tố tụng hình sự: “Theo yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích quy định tại Điều 64 Bộ luật hình sự, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm vụ án cấp giấy chứng nhận là họ đã được xóa án tích”.

[12] Khoản 2 Điều 94 Luật phá sản năm 2004 quy định: “Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trịi, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp, Chủ nhiệm, các thành viên Ban quản trị hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn từ một đến ba năm, kể từ ngày doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản”.

[13] Thời hạn giải quyết cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong trường hợp bình thường là 16 ngày, trong trường hợp phức tạp là 33 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận được hồ sơ hợp lệ.

(MINH KHUE LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)