SỔ TAY PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT  DÀNH CHO PHỤ NỮ


TẬP THỂ TÁC GIẢ

Nguyễn Tất Viễn (Chủ biên)

Trương Thị Phương

Uông Ngọc Thuẩn

Nguyễn Minh Thăng

Nguyễn Phương Thảo

Nguyễn Sĩ Đại

Quách Dương

Ngô Quỳnh Hoa

Phan Hồng Nguyên

Phạm Thị Lan Anh

Tô Thị Thu Hà

Trần Minh Trọng

Nguyễn Thị Hồng Hạnh


CHÚ DẪN CỦA NHÀ XUẤT BẢN

Nhằm giúp Phụ nữ hiểu rõ hơn về Bình đẳng giới đã được quy định trong Công ước CEDAW Công ước xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ), trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và các văn bản pháp luật có liên quan trong hệ thống pháp luật nước ta. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp với Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật Bộ Tư pháp xuất bản cuốn sách "Sổ tay phổ biến pháp luật cho phụ nữ".

Nội dung cuốn sách gồm 70 câu hỏi và trả lời xoay quanh các vấn đề về quyền bình đẳng của phụ nữ được quy định trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam; được thể hiện trong nhiều lĩnh vực: quyền bình đẳng của phụ nữ được bảo vệ trong pháp luật hành chính và hình sự; quyền của phụ nữ trong pháp luật về dân số; pháp luật đối với lao động nữ; và một số quy định khác của pháp luật có liên quan đến phụ nữ như: pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; pháp luật về hộ tịch...

Phần cuối cuốn sách là phụ lục gồm toàn văn Công ước CEDAW và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chiếnlược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010.

Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng 6 năm 2005

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

 

.Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900 6162

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900 6162


I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ


Câu hỏi 1: Khái niệm bình đẳng giới? Vấn đề bình đẳng của phụ nữ được quy định trong những văn bản pháp luật nào?

Trả lời:

Bình đẳng giới là mối quan hệ không có sự phân biệt đối xử với phụ nữ; ở đó, phụ nữ và nam giới có cơ hội, được đối xử, được hưởng thụ như nhau; họ được tham gia như nhau vào mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị và dân sự.

Vấn đề quyền bình đẳng của phụ nữ được quy định trong các văn bản pháp luật sau:

+ Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2002);

+ Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002);

+ Bộ luật Dân sự năm 1995;

+ Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2004;

+ Bộ luật Hình sự năm 1999;

+ Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003;

+ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;

+ Luật Quốc tịch năm 1998;

+ Luật Đất đai năm 2003;

+ Luật Giáo dục năm 1998;

+ Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991;

+ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2003;

Câu hỏi 2: Công ước CEDAW là gì? Vì sao cần có Công ước này?

Trả lời:


Công ước CEDAW là chữ viết tắt tiếng Anh của Công ước Xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, là một văn bản pháp luật quốc tế do Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1979. Công ước bao gồm 6 phần, 30 điều xác định những nội dung cơ bản về khái niệm phân biệt đối xử, về các cam kết quốc gia về xoá bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ trong chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và dân sự dưới mọi hình thức mà tất cả các nước tham gia phê chuẩn có nghĩa vụ thực hiện nhằm bảo đảm cho phụ nữ được thực hiện các quyền bình đẳng như nam giới.

Hiện nay đã có trên 160 quốc gia cam kết thực hiện Công ước CEDAW. Việt Nam ký Công ước ngày 29/7/1980 và Quốc hội phê chuẩn ngày 19/3/1982.

Ý nghĩa của Công ước CEDAW:

Công ước CEDAW tạo ra cơ sở pháp lý để các nước cam kết thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm xoá bỏ sự phân biệt đối với phụ nữ dưới tất cả các hình thức. Công ước là công cụ quan trọng góp phần cải thiện địa vị pháp lý của phụ nữ ở các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội ở hơn 160 quốc gia đã phê chuẩn Công ước. Bởi vì sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ đang tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới. Phụ nữ chưa được bình đẳng, chưa được tôn trọng. Sự đóng góp của phụ nữ vào phúc lợi của gia đình và sự phát triển của xã hội chưa được công nhận đầy đủ. Phụ nữ là những người bị thiệt thòi nhiều nhất về dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, đào tạo, cơ hội có việc làm và các nhu cầu khác. Trong khi đó, mọi người sinh ra đều tự do, bình đẳng về nhân phẩm và quyền lợi, không có sự phân biệt nào dù là nam hay nữ, con trai hay con gái. Chúng ta cũng đều nhận thức rõ rằng phân biệt đối xử đối với phụ nữ là vi phạm quyền con người của phụ nữ, làm hạn chế sự phát triển, sự đóng góp tích cực của họ vào quá trình phát triển của mỗi nước và của thế giới.

Câu hỏi 3: Thế nào là phân biệt đối xử đối với phụ nữ? Theo Công ước CEDAW, các nước tham gia phải thực hiện các biện pháp gì để loại trừ mọi sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ?

Trả lời:


Về khái niệm phân biệt đối xử đối với phụ nữ: Theo Điều 1 của Công ước CEDAW, “phân biệt đối xử với phụ nữ” sẽ bao hàm bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hoá việc phụ nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự và các lĩnh vực khác, bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào và trên cơ sở bình đẳng nam nữ.

Các biện pháp loại trừ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ theo Công ước CEDAW:

a, Về mặt luật pháp:

- Cần đưa nguyên tắc bình đẳng nam nữ vào hiến pháp, các văn bản pháp luật quốc gia, đồng thời tạo mọi điều kiện để bình đẳng nam nữ được thực hiện trong thực tế;

- Cần áp dụng pháp luật và mọi biện pháp thích hợp để đảm bảo sự phát triển và tiến bộ đầy đủ cho phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực khác nhau nhằm ngăn cấm sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ;

- Thiết lập hệ thống toà án quốc gia có thẩm quyền, các cơ quan Nhà nước khác để xét xử các hành vi phân biệt đối xử;

- Đảm bảo không tiến hành tham gia hành động, hoạt động phân biệt đối xử với phụ nữ;

- Sửa đổi hoặc xoá bỏ các văn bản pháp luật, quy định, tập quán, phong tục phân biệt đối xử với phụ nữ;

- Huỷ bỏ các quy định hình sự mang tính chất phân biệt đối xử với phụ nữ (Điều 2).

* Về mặt hành vi và tập quán:

- Cần phải thay đổi cách suy nghĩ, hành vi và phong tục tập quán dựa trên tư tưởng cho giới này là hơn, giới kia là kém;

- Việc nuôi dạy con cái, chăm lo cho lợi ích của con cái phải đặt lên hàng đầu và cần có sự chia sẻ trách nhiệm giữa cha mẹ, gia đình và xã hội;

- Việc mang thai và nuôi dưỡng con bằng sữa mẹ của phụ nữ là không thay thế được nhưng đó không phải là cơ sở để phân biệt đối xử đối với phụ nữ;

- Đặc biệt, cần phải xoá bỏ tất cả các hình thức bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em như: đánh đập, ngược đãi, buôn bán và bóc lột mại dâm phụ nữ và trẻ em.  

Câu hỏi 4: Những đảm bảo cơ bản về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, giáo dục, lao động, hôn nhân và gia đình, chăm sóc sức khoẻ, giao dịch dân sự theo Công ước và Hiến pháp Việt Nam được quy định như thế nào?

Trả lời:
Về cơ bản có những bảo đảm sau:

A. Trong lĩnh vực chính trị:

a,Theo Công ước CEDAW, phụ nữ có các quyền sau: Phụ nữ được tham gia bỏ phiếu trong mọi cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân và được quyền ứng cử vào tất cả các cơ quan dân cử; Được tham gia xây dựng và thực hiện các chính sách của chính phủ, tham gia các chức vụ nhà nước và thực hiện mọi chức năng công cộng ở mọi cấp của chính phủ; Tham gia các tổ chức và hiệp hội phi chính phủ liên quan đến đời sống công cộng và chính trị của đất nước (Điều 7).

b, Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1992(sửa đổi, bổ sung năm 2001): Phụ nữ được tham gia quản lý nhà nước, xã hội, thảo luận các vấn đề chung, kiến nghị, biểu quyết khi trưng cầu ý dân; bầu cử, ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân; tự do ngôn luận, báo chí; được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; khiếu nại, tố cáo (Điều 53, Điều 54, Điều 69, Điều 70, Điều 74, Hiến pháp).

B. Trong lĩnh vực giáo dục:

a, Theo Công ước CEDAW: Phụ nữ được hưởng các điều kiện như nhau trong học tập, bằng cấp; hưởng chất lượng như nhau về chương trình giảng dạy, kiểm tra thi cử, trình độ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập; học cùng một lớp với học sinh nam; có cùng cơ hội như nam giới để hưởng học bổng, các trợ cấp học tập, tham gia các chương trình giáo dục thường xuyên, thể dục, thể thao; có chương trình riêng cho phụ nữ và trẻ em gái đã phải bỏ học; được phổ biến thông tin giáo dục riêng về sức khoẻ, hạnh phúc gia đình, kế hoạch hoá gia đình (Điều 10).

b, Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): Trẻ em học tiểu học không phải đóng học phí, học văn hoá, học nghề bằng nhiều hình thức, được tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng; trẻ tàn tật được học văn hoá, học nghề phù hợp; được bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp; được nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, cải tạo kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật….(Điều 59, Điều 60).

C. Trong lĩnh vực lao động:

a, Theo Công ước CEDAW: Phụ nữ có quyền được làm việc, quyền hưởng các cơ hội có việc làm như nhau, tự do lựa chọn ngành nghề, việc làm, được thăng chức, bảo đảm việc làm, phúc lợi, điều kiện làm việc, đào tạo nghề, bổ túc nghiệp vụ, thù lao như nhau, hưởng lương khi nghỉ phép, đảm bảo an toàn lao động (Điều 11 Công ước).

b, Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): Nhà nước có chính sách bảo hộ lao động, thời gian lao động, tiền lương, nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hội; hưởng lương và phụ cấp trước, sau khi sinh đẻ; có nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ, cơ sở phúc lợi xã hội giảm nhẹ gánh nặng gia đình (Điều 55, Điều 56, Điều 63 Hiến pháp).

D. Trong lĩnh vực dân số, hôn nhân và gia đình:

a, Theo Công ước CEDAW: Phụ nữ được tự do kết hôn, lựa chọn họ tên, nghề nghiệp, việc làm; vợ chồng có quyền như nhau đối với sở hữu, thu nhập, hưởng thụ, sử dụng tài sản; tự do quyết định số con, khoảng cách giữa các con, trông nom, giám hộ, bảo trợ, nhận con nuôi (Điều 16).

b, Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): Phụ nữ được tự nguyện kết hôn, vợ chồng bình đẳng, có trách nhiệm nuôi dạy con; con cháu kính trọng, chăm sóc ông bà, cha mẹ (Điều 63 Công ước).

Đ. Trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ:

a, Theo Công ước CEDAW: Phụ nữ được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, kế hoạch hoá gia đình, các dịch vụ liên quan đến thai nghén, sinh đẻ (Điều 12).

b, Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1992: Phụ nữ cũng được hưởng chế độ viện phí, miễn giảm viện phí, phục hồi chức năng lao động (Điều 61, Điều 67 Hiến pháp).

E. Trong các vấn đề dân sự:

a, Theo Công ước CEDAW: Phụ nữ được bình đẳng trong ký kết các hợp đồng, quản lý tài sản, tham gia tố tụng; tự do lựa chọn nơi cư trú (Điều 15 Công ước).

b, Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): Công dân có quyền sở hữu thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế; quyền sử dụng đất đai, được bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế; có quyền xây dựng nhà ở, được bảo hộ quyền thuê và cho nhà; có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước (Điều 58, Điều 62, Điều 68 Hiến pháp).

 

II. PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Câu hỏi 5: Pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định chế độ hôn nhân và gia đình phải tuân theo những nguyên tắc gì và được pháp luật bảo vệ như thế nào?

Trả lời:


Nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam bao gồm:

"1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

3. Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình.

4. Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.

5. Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú.

6. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ".

Điều 4 Luật Hôn nhân và Gia đình qui định rõ việc bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình như sau:

"1. Quan hệ hôn nhân và gia đình thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly hôn, ly hôn giả tạo; cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi.

Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

Cấm ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em và các thành viên khác trong gia đình.

3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan khác có thẩm quyền có biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm minh đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình".

Câu hỏi 6: Tôi mới tròn 17 tuổi được 5 ngày, hiện đang ở nhà phụ giúp mẹ bán hàng. Bố mẹ tôi ép tôi phải kết hôn với anh K – là con của bạn bố mẹ tôi. Xin hỏi, theo quy định của pháp luật thì tôi đã đủ tuổi kết hôn chưa, việc kết hôn phải tuân theo các điều kiện nào?

Trả lời:


Điều 9  Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

"1. Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;

2. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép và cản trở;

3. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật này".

Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định những trường hợp cấm kết hôn là:

- Người đang có vợ hoặc chồng;

- Người mất năng lực hành vi dân sự;

- Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

- Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

- Giữa những người cùng giới tính (như giữa nam với nam, giữa nữ với nữ).

Về tuổi kết hôn, Điều 3 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Nam đang ở tuổi hai mươi, nữ đang ở tuổi mười tám thì đủ điều kiện về tuổi kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Như vậy, theo quy định của pháp luật thì bạn đã đủ tuổi kết hôn vì bạn đã tròn 17 tuổi và đang ở tuổi 18.

Tuy vậy, việc bố mẹ bạn ép bạn kết hôn với anh K là trái với quy định của pháp luật, vì theo quy định của pháp luật thì một trong những điều kiện kết hôn là việc kết hôn phải do nam và nữ tự nguyện quyết định, không ai được cưỡng ép. Vì vậy, bạn nên giải thích, thuyết phục cho bố mẹ bạn hiểu rõ và để bạn có quyền quyết định chuyện hôn nhân của mình.

Câu hỏi 7: Chúng tôi đều là công dân Việt Nam. Xin hỏi, chúng tôi phải đến cơ quan nào để đăng ký kết hôn và thủ tục đăng ký kết hôn được quy định như thế nào?

Trả lời:


Theo quy định tại Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì các bạn có thể đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên để đăng ký kết hôn. Trong trường hợp cả hai bạn đều ở nước ngoài thì các bạn có thể đến cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài để đăng ký kết hôn.

Thời hạn và thủ tục đăng ký kết hôn được quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch và Thông tư số 12/1999/TT-BTP ngày 25/6/1999 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, cụ thể như sau:

- Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ phải có mặt, nộp tờ khai đăng ký kết hôn và xuất trình các giấy tờ sau đây:

1. Giấy khai sinh của mỗi bên;

2. Sổ hộ khẩu gia đình của bên nam hoặc bên nữ nơi đăng ký kết hôn. Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ không có hoặc chưa có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nhưng có đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu, thì Uỷ ban nhân dân xã, nơi bên nam hoặc bên nữ đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn thực hiện việc đăng ký kết hôn.

Trong trường hợp cả hai bên nam nữ là công dân Việt Nam đang học tập, lao động, công tác có thời hạn ở nước ngoài, đã cắt hộ khẩu khỏi nơi thường trú, nay về nước xin đăng ký kết hôn, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cha mẹ bên nam hoặc bên nữ đăng ký hộ khẩu thường trú, thực hiện việc đăng ký kết hôn.

Trong trường hợp không có đủ các giấy tờ trên, thì phải có giấy tờ hợp lệ thay thế.

Trong trường hợp nghi ngờ một bên hoặc cả hai bên nam nữ mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức được hành vi của mình, đang mắc bệnh hoa liễu, thì phải có giấy khám sức khỏe của cơ quan y tế cấp huyện.

Tờ khai đăng ký kết hôn phải có xác nhận của cơ quan, đơn vị nơi công tác (đối với cán bộ, công chức, người lao động, lực lượng vũ trang nhân dân), hoặc của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú (đối với nhân dân) của mỗi bên về tình trạng hôn nhân. Việc xác nhận tình trạng hôn nhân này có giá trị không quá ba mươi ngày. Trong trường hợp một trong hai bên hoặc cả hai bên đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hay người kia đã chết, thì phải nộp bản sao bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc cho ly hôn hoặc bản sao Giấy chứng tử.

Trong trường hợp một trong hai người không thể đến nộp hồ sơ xin đăng ký kết hôn mà có lý do chính đáng, thì có thể gửi cho Uỷ ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn đơn xin nộp hồ sơ vắng mặt, trong đơn phải nêu rõ lý do vắng mặt, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.

Vợ chồng đã ly hôn, muốn kết hôn lại với nhau, thì cũng phải tiến hành các thủ tục như người kết hôn lần đầu.

- Khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải tiến hành xác minh điều kiện kết hôn và niêm yết công khai việc xin đăng ký kết hôn tại trụ sở Uỷ ban nhân dân trong thời hạn bảy ngày. Nếu cần phải xác minh thêm, thì thời hạn kéo dài không quá bảy ngày.

Sau thời hạn nói trên, nếu xét thấy hai bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và không có sự khiếu nại, tố cáo về việc kết hôn, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải thông báo cho hai bên nam nữ biết về ngày đăng ký.

Sau thời hạn bảy ngày, kể từ ngày thông báo, nếu hai bên nam nữ không đến đăng ký kết hôn mà không có lý do chính đáng, thì Uỷ ban nhân dân huỷ việc xin đăng ký kết hôn đó và thông báo cho đương sự biết.

Câu hỏi 8: Tôi là công dân Việt Nam sắp kết hôn với một đồng nghiệp người Thụy Điển. Hiện chúng tôi đang sống và làm việc tại Việt Nam. Tôi muốn biết quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và thẩm quyền đăng ký việc kết hôn có yếu tố nước ngoài để vận dụng trong trường hợp của mình?

Trả lời:


Điều 10 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài quy định:

1. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; người nước ngoài còn phải tuân theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 của Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn, nếu việc kết hôn được tiến hành trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.

2. Trong việc kết hôn giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam, trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mà họ là công dân hoặc thường trú (đối với người không quốc tịch) về điều kiện kết hôn; ngoài ra, còn phải tuân theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 của Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn.

Thẩm quyền đăng ký kết hôn được qui định Điều 12 Nghị định số 68 như sau:

- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Trong trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có hộ khẩu thường trú, nhưng đã đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về hộ khẩu thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi tạm trú có thời hạn của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký việc kết hôn giữa người đó với người nước ngoài.

Trong trường hợp người nước ngoài thường trú tại Việt Nam xin kết hôn với nhau thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của một trong hai bên đương sự thực hiện đăng ký việc kết hôn.

- Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước tiếp nhận nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài cư trú tại nước đó.

Như vậy, về điều kiện kết hôn, bạn là người Việt Nam nên phải tuân theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, người chồng tương lai của bạn là người Thụy Điển thì bên cạnh việc tuân theo pháp luật của Thụy Điển cũng đồng thời phải tuân theo pháp luật của Việt Nam về điều kiện kết hôn. Các bạn phải làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi bạn thường trú. Trong trường hợp bạn không có hoặc chưa có hộ khẩu thường trú, nhưng đã đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về hộ khẩu thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi tạm trú có thời hạn của bạn thực hiện đăng ký việc kết hôn.

Câu hỏi 9: Pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định các trường hợp từ chối việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài như thế nào?

Trả lời:


Theo Điều 18 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thì việc đăng ký kết hôn bị từ chối trong các trường hợp sau đây:

- Một hoặc cả hai bên đương sự chưa đủ tuổi kết hôn theo pháp luật Việt Nam;

- Bên đương sự là người nước ngoài chưa đủ tuổi kết hôn theo pháp luật của nước mà người đó là công dân hoặc thường trú (đối với người không quốc tịch);

- Việc kết hôn không do nam, nữ tự nguyện quyết định;

- Có sự lừa dối, cưỡng ép kết hôn;

- Một hoặc cả hai bên đương sự là người đang có vợ, đang có chồng;

- Một hoặc cả hai bên đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự;

- Các đương sự là những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ trong phạm vi ba đời;

- Các đương sự đang hoặc đã từng là cha, mẹ nuôi và con nuôi, bố chồng và con dâu, mẹ vợ và con rể, bố dượng và con riêng của vợ, mẹ kế và con riêng của chồng;

- Các đương sự cùng giới tính (nam kết hôn với nam, nữ kết hôn với nữ).

Việc đăng ký kết hôn cũng bị từ chối, nếu kết quả thẩm tra, xác minh cho thấy việc kết hôn là giả tạo, không nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững; kết hôn nhằm mục đích mua bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác.

Câu hỏi 10: Tôi là công dân Việt Nam kết hôn với một người Hàn Quốc. Chúng tôi đã nộp đủ hồ sơ xin đăng ký kết hôn đến Sở Tư pháp thành phố H – nơi thường trú của tôi nhưng đã gần 2 tháng mà chúng tôi vẫn chưa nhận được Giấy chứng nhận kết hôn. Tôi muốn biết trình tự giải quyết việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam được quy định như thế nào? Thời hạn là bao lâu?

Trả lời:


Theo Điều 16 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thì trình tự giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam được quy định như sau:

- Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Sở Tư pháp có trách nhiệm:

+ Niêm yết việc kết hôn trong bảy ngày liên tục tại trụ sở Sở Tư pháp, đồng thời có công văn đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn của bên đương sự là công dân Việt Nam, nơi thường trú của người nước ngoài tại Việt Nam niêm yết việc kết hôn đó. Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết việc kết hôn trong 7 ngày liên tục tại trụ sở Uỷ ban. Nếu có khiếu nại, tố cáo về việc kết hôn thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải gửi văn bản báo cáo ngay cho Sở Tư pháp;

+ Nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn. Trong trường hợp nghi vấn hoặc có khiếu nại, tố cáo đương sự kết hôn giả tạo, lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích mua bán phụ nữ, kết hôn vì mục đích trục lợi khác hoặc xét thấy có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của đương sự hoặc giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn, Sở Tư pháp tiến hành xác minh, kể cả phỏng vấn các bên đương sự;

+ Báo cáo kết quả thẩm tra và đề xuất ý kiến giải quyết việc đăng ký kết hôn, trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, kèm theo 01 bộ hồ sơ đăng ký kết hôn.

- Trong trường hợp xét thấy vấn đề cần xác minh thuộc chức năng của cơ quan Công an thì Sở Tư pháp có công văn nêu rõ vấn đề cần xác minh, kèm theo 01 bộ hồ sơ đăng ký kết hôn gửi cơ quan Công an cùng cấp đề nghị xác minh.

Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được công văn của Sở Tư pháp, cơ quan Công an tiến hành xác minh vấn đề được yêu cầu và trả lời bằng văn bản cho Sở Tư pháp.

- Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trình của Sở Tư pháp và hồ sơ đăng ký kết hôn, nếu xét thấy các bên đương sự đáp ứng đủ điều kiện kết hôn, không thuộc một trong các trường hợp từ chối kết hôn quy định tại Điều 18 của Nghị định này thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ký Giấy chứng nhận kết hôn và trả lại hồ sơ cho Sở Tư pháp để tổ chức Lễ đăng ký kết hôn, ghi vào sổ đăng ký việc kết hôn và lưu trữ hồ sơ theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp từ chối đăng ký kết hôn thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản thông báo cho đương sự, trong đó nêu rõ lý do từ chối.

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam là 30 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp có yêu cầu của cơ quan Công an xác minh theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Nghị định này thì thời hạn trên được kéo dài thêm 20 ngày. Như vậy, theo quy định của pháp luật thì thời hạn tối đa để giải quyết việc đăng ký kết hôn ở Việt Nam là 50 ngày.

Câu hỏi 11: Pháp luật nước ta qui định công nhận việc kết hôn, ly hôn đã được tiến hành ở nước ngoài như thế nào?

Trả lời:


Điều 20 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP qui định về công nhận việc kết hôn, ly hôn đã được tiến hành ở nước ngoài như sau:

- Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, phù hợp với pháp luật của nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm kết hôn công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn.

Trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, nhưng vào thời điểm yêu cầu công nhận việc kết hôn, hậu quả của sự vi phạm đó đã được khắc phục hoặc công nhận việc kết hôn đó là có lợi cho việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em thì hôn nhân đó cũng được công nhận tại Việt Nam.

- Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài thì được công nhận tại Việt Nam, nếu không có đơn yêu cầu không công nhận việc ly hôn đó tại Việt Nam.

Câu hỏi 12: Vợ chồng chị gái tôi lấy nhau từ trước năm 1987 nhưng chưa đăng ký kết hôn, nay anh chị tôi muốn đăng ký kết hôn có được không? Pháp luật qui định về vấn đề này như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và Điều 2 Nghị định số 77/2001/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình, trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987, ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận tiện cho đăng ký kết hôn. Việc đăng ký kết hôn đối với những trường hợp này không bị hạn chế về thời gian.

Như vậy, vợ chồng anh chị của bạn được đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật, ngoài ra anh chị bạn còn được miễn lệ phí đăng ký kết hôn. Quan hệ hôn nhân của họ được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ vợ chồng hoặc chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế. Ngày công nhận hôn nhân có hiệu lực phải được ghi rõ trong Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.

Câu hỏi 13: Pháp luật quy định giải quyết việc đăng ký kết hôn đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà chưa đăng ký kết hôn như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại điểm b, mục 3 Nghị quyết số 35/2002/QH10 của Quốc hội và khoản 2, Điều 2 Nghị định số 77/2001/NĐ-CP thì nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003.

Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.

Thẩm quyền và thủ tục đăng ký kết hôn đối với trường hợp này được quy định như sau:

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của một trong hai bên thực hiện việc đăng ký kết hôn.

Trong trường hợp cả hai bên không có hộ khẩu thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi một trong hai bên đăng ký tạm trú có thời hạn, thực hiện việc đăng ký kết hôn.

Khi đăng ký kết hôn, các bên chỉ cần làm Tờ khai đăng ký kết hôn và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế.

Trong Tờ khai đăng ký kết hôn, các bên ghi bổ sung ngày, tháng, năm xác lập quan hệ vợ chồng hoặc chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế. Trong trường hợp vợ chồng không cùng xác định được ngày, tháng xác lập quan hệ vợ chồng hoặc chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế, thì cách tính ngày, tháng như sau:

- Nếu xác định được tháng mà không xác định được ngày, thì lấy ngày 01 của tháng tiếp theo;

- Nếu xác định được năm mà không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm tiếp theo.

Trong trường hợp một trong hai bên kết hôn không có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký kết hôn, thì Tờ khai đăng ký kết hôn phải được cơ quan, đơn vị nơi đang công tác (đối với cán bộ, công chức, người đang phục vụ trong lực lượng vũ trang) hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú có thời hạn xác nhận về tình trạng hôn nhân của người đó. Nếu cả hai bên cùng thường trú hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký kết hôn, thì không cần sự xác nhận nói trên.

Sau khi nhận Tờ khai đăng ký kết hôn, Uỷ ban nhân dân kiểm tra, nếu các bên đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, thì đăng ký kết hôn ngay. Khi có tình tiết chưa rõ là một trong hai bên hoặc cả hai bên có đủ điều kiện kết hôn hay không, thì Uỷ ban nhân dân yêu cầu họ làm giấy cam đoan và có xác nhận của ít nhất hai người làm chứng về nội dung cam đoan đó. Người làm chứng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của lời chứng.

Câu hỏi 14: Tài sản chung của vợ chồng là gì? Pháp luật quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như thế nào?

Trả lời:

Tài sản chung của vợ chồng là một nội dung quan trọng được quy định trong Bộ lu��t Dân sự năm 1995 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.

Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.

“Thu nhập hợp pháp khác” của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được coi là tài sản chung của vợ chồng có thể là tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng thưởng xổ số mà vợ, chồng có được hoặc tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ…trong thời kỳ hôn nhân.

Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận.

Thoả thuận chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân phải được lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung sau:

a) Lý do chia tài sản;

b) Phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản); trong đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia;

c) Phần tài sản còn lại không chia, nếu có;

d) Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung;

đ) Các nội dung khác, nếu có.

Văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thoả thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về việc chia tài sản chung, thì cả hai bên hoặc một bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

Câu hỏi 15: Tài sản riêng của vợ chồng là gì? Pháp luật quy định quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 32 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì vợ chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng khi họ có nhu cầu chia tài sản chung (trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác…); đồ dùng, tư trang cá nhân.

Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.

Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của vợ chồng, pháp luật cũng quy định vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thoả thuận cử người khác quản lý di sản.

Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Toà án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định; nếu hết thời hạn do Toà án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Toà án cho chia di sản thừa kế.

Câu hỏi 16: Pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam quy định như thế nào về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, con? Cách xác định con chung của vợ, chồng?

Trả lời:

Ở Việt Nam, việc coi trọng nền nếp, sự hoà hiếu, hoà thuận, kính trên nhường dưới…đã trở thành những chuẩn mực đạo đức mà mỗi gia đình hướng đến, đồng thời cũng góp phần bảo vệ quyền và nghĩa vụ của mỗi thành viên trong gia đình. Pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam đã có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, con.

Điều 34, 35 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định nghĩa vụ và quyền của cha mẹ, con như sau:

"1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội".

Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định nghĩa vụ và quyền của con như sau:

"Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

 Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ".

Liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của con cái, pháp luật hôn nhân và gia đình của nước ta cũng quy định một nội dung quan trọng là xác định con chung của vợ chồng. Theo đó, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng. Con sinh ra trong vòng ba trăm ngày, kể từ ngày người chồng chết hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật, thì được xác định là con chung của hai người.

Trong trường hợp vợ hoặc chồng không nhận đứa trẻ là con chung của hai người như các trường hợp trên thì phải có chứng cứ và phải được Toà án xác định.

Câu hỏi 17: Vợ chồng chị C lấy nhau đã hơn 10 năm và có 2 con chung. Gần đây, do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, anh H chồng chị quyết định lên biên giới làm ăn buôn bán. Tại đây, anh H đã gặp và chung sống như vợ chồng với một cô bạn hàng. Khi trở về quê, bỏ ngoài tai mọi khuyên bảo của gia đình, anh H quyết tâm ly dị vợ. Sau nhiều lần hoà giải không thành, Toà án quyết định cho vợ chồng anh H ly dị, chị C nuôi các con, anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng với mức cấp dưỡng 200.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, anh H đã không đồng ý với phán quyết của Toà án vì cho rằng việc cấp dưỡng cho các con là hoàn toàn tự nguyện, không được ép buộc. Việc làm của anh H là đúng hay sai? Pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam quy định vấn đề này như thế nào?

Trả lời:

Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình .

Điều 50 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 qui định nghĩa vụ cấp dưỡng như sau:

"1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng mà trốn tránh nghĩa vụ đó thì buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được qui định tại Luật này".

Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000: Khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Mức cấp dưỡng cho con do cha, mẹ thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong trường hợp gia đình anh H, việc anh H không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con không chỉ trái về đạo lý mà còn là hành vi trái pháp luật, không tuân thủ và chấp hành pháp luật, sẽ bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính hoặc chế tài hình sự để xử lý nếu xét thấy cần thiết.

Câu hỏi 18: Bà M 55 tuổi sống độc thân nên muốn nhận cháu T 11 tuổi làm con nuôi để có chỗ dựa khi về già, nhưng bà vẫn phân vân do chưa biết việc pháp luật quy định như thế nào về điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi, người được nhận làm con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi?

Trả lời:

Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi có các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi. Như vậy, trong trường hợp của bà M, theo Điều 68, 69 và Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì người được nhận làm con nuôi và người nhận nuôi con nuôi phải có những điều kiện sau:

* Đối với người được nhận làm con nuôi (Điều 68):

- Người được nhận làm con nuôi phải là người từ mười lăm tuổi trở xuống. Người trên mười lăm tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu, cô đơn.

- Một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là vợ chồng.

* Sự đồng ý của cha mẹ đẻ, người giám hộ và người được nhận làm con nuôi (Điều 71):

- Việc nhận người chưa thành niên, người đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự làm con nuôi phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ đẻ của người đó; nếu cha mẹ đẻ đã chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được cha, mẹ thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của người giám hộ.

- Việc nhận trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự đồng ý của trẻ em đó.

* Đối với người nhận nuôi con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

- Hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên;

- Có tư cách đạo đức tốt;

- Có điều kiện thực tế bảo đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi, giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi có các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Câu hỏi 19: Anh T và chị C lấy nhau đã 12 năm nhưng không có con, họ đã đi đến quyết định xin nhận cháu D 13 tuổi con một người hàng xóm đông con làm con nuôi. Được vài năm, do điều kiện kinh tế của hai vợ chồng gặp nhiều khó khăn nên anh chị quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi với cháu D và trả lại quyền nuôi dưỡng cho cha mẹ đẻ của cháu. Vậy hậu quả pháp lý của việc chấm dứt việc nuôi con nuôi sẽ được giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Điều 78 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 qui định:

- Khi chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của Toà án (cả trong trường hợp tự nguyện hay không tự nguyện), các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi cũng chấm dứt; nếu con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì Toà án ra quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom, nuôi dưỡng.

- Trong trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình cha mẹ nuôi thì được trích một phần từ khối tài sản chung đó theo thoả thuận giữa con nuôi và cha mẹ nuôi; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

- Khi việc nuôi con chấm dứt, theo yêu cầu của cha mẹ đẻ hoặc của người đã làm con nuôi, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định việc người đã làm con nuôi được lấy lại họ, tên mà cha mẹ đẻ đã đặt.

Câu hỏi 20: Tôi có người bà con sinh sống ở nước ngoài, vì không có con nên muốn về Việt Nam xin nhận con nuôi. Đề nghị cho chúng tôi biết cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết đăng ký nhận nuôi con nuôi trong trường hợp này?

 

 

Trả lời:

Đối với trường hợp bạn hỏi, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài qui định thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi như sau:

- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi có cơ sở nuôi dưỡng trẻ em thực hiện đăng ký việc người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam đang sống ở cơ sở nuôi dưỡng đó làm con nuôi.

- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của cha mẹ đẻ của trẻ em thực hiện đăng ký việc người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam đang sống tại gia đình làm con nuôi. Nếu cha mẹ đẻ của trẻ em có nơi thường trú khác nhau thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của người cha hoặc người mẹ đẻ đang nuôi dưỡng trẻ em đó thực hiện việc đăng ký nuôi con nuôi. Trong trường hợp trẻ em đang sống với người giám hộ thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của người giám hộ của trẻ em đó thực hiện việc nuôi con nuôi.

Trong trường hợp cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em không có hoặc chưa có hộ khẩu thường trú nhưng đã đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về hộ khẩu thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi đăng ký tạm trú có thời hạn của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ đang nuôi dưỡng trẻ em đó thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

Câu hỏi 21: Pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định căn cứ ly hôn và nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn như thế nào?

Trả lời:

Điều 89, 95 Luật Hôn nhân và Gia đình qui định căn cứ cho ly hôn và nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn như sau:

-  Căn cứ cho ly hôn (Điều 89):

+ Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn.

+ Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.

- Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn (Điều 95):

+ Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

+ Việc chia tài sản chung được giải quyết theo nguyên tắc sau đây:

Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

 Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

- Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

Câu hỏi 22: Chị Q kết hôn với anh H đã gần 10 năm, sống chung với gia đình chồng. Trong thời gian chung sống, anh chị đã cùng quản lý, điều hành cửa hàng kinh doanh của gia đình thay cho cha mẹ chồng. Nhờ sự nhanh nhẹn, tháo vát của chị mà công việc kinh doanh khá phát đạt, anh chị đã xây dựng được ngôi nhà mới khang trang, mua sắm nhiều vật dụng, tiện nghi đắt tiền. Gần đây do việc làm ăn thua lỗ, giữa hai vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng gay gắt nên anh chị quyết định ly hôn. Tuy nhiên chị còn băn khoăn vì chưa biết Toà án sẽ giải quyết phần tài sản như thế nào vì bố mẹ chồng chị cho rằng khi lấy anh chị không có bất kỳ tài sản nào thì khi ly hôn cũng không được mang theo bất kỳ tài sản nào. Pháp luật hôn nhân và gia đình của nước ta quy định về vấn đề này như thế nào?

Trả lời:

Để bảo vệ quyền lợi cho vợ, chồng khi sống chung với gia đình mà ly hôn, có tính đến công sức đóng góp thực tế của vợ, chồng, Điều 96 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định về việc chia tài sản trong trường hợp này như sau:

- Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia đình; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

- Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, chị Q sẽ được hưởng tài sản trong khối tài sản của gia đình. Tuy nhiên, mức tài sản cụ thể là bao nhiêu còn tuỳ thuộc vào thoả thuận giữa chị và gia đình chồng hoặc quyết định của Toà án.

Câu hỏi 23: Do mâu thuẫn gia đình kéo dài không hàn gắn được nên vợ chồng anh T chuẩn bị ra Toà để giải quyết việc ly hôn. Hai bên đã thoả thuận mỗi người nuôi một đứa con. Còn căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất và toàn bộ diện tích đất vườn là công sức tạo lập của cả hai người trong quá trình chung sống thì cả hai chưa thoả thuận được. Đề nghị cho biết pháp luật quy định như thế nào về việc chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn?

Trả lời:

Theo qui định tại khoản 1 Điều 97 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, quyền sử dụng đất của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó. Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

- Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thoả thuận của hai bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết theo qui định tại Điều 95 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng.

- Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia như trường hợp trên.

- Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo qui định tại Điều 95 của Luật này.

- Việc chia quyền sử dụng đối với các loại đất khác được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật dân sự.

Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 96 của Luật này.

Câu hỏi 24: Chúng tôi được biết quyền tự do kết hôn của nam nữ các dân tộc thiểu số được Nhà nước đảm bảo. Đề nghị cho chúng tôi rõ hơn về nội dung của quyền này? Việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình đối với công dân các dân tộc thiểu số được quy định như thế nào?

Trả lời:

Để tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, khuyến khích phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp và tiến tới xoá bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình của các dân tộc thiểu số, Điều 5, Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình đối với các dân tộc thiểu số như sau:

- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng; không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào.

Uỷ ban nhân dân cấp xã, Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và các tổ chức thành viên, các Già làng, Trưởng bản, các vị chức sắc tôn giáo vận động, thuyết phục các bậc cha mẹ hướng dẫn con xây dựng gia đình tiến bộ, không được cưỡng ép hoặc cản trở việc lấy vợ, lấy chồng của con; vận động mọi người xoá bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu cản trở quyền tự do kết hôn của nam và nữ.

- Nghiêm cấm tục cướp vợ để cưỡng ép người phụ nữ làm vợ. Không ai được lợi dụng việc xem tướng số hoặc các hình thức mê tín dị đoan khác để cản trở việc thực hiện quyền tự do kết hôn của nam và nữ.

Liên quan đến việc đảm bảo hôn nhân tiến bộ đối với các dân tộc thiểu số, pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng quy định việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình. Cũng theo quy định của Nghị định số 32, phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình của các dân tộc thiểu số thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với những nguyên tắc quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì được tôn trọng và phát huy.

Phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình của các dân tộc thiểu số trái với những nguyên tắc quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì bị nghiêm cấm hoặc vận động xoá bỏ.

Câu hỏi 25: Chúng tôi sinh sống ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, gần đây được tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ “Phụ nữ và pháp luật” của xã. Trong các buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ, có một nội dung mà chúng tôi quan tâm đó là việc Nhà nước khuyến khích phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp cũng như nghiêm cấm áp dụng hoặc cần vận động xoá bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình. Đề nghị cho chúng tôi biết nội dung này được Nhà nước quy định ở đâu, cụ thể như thế nào?

Trả lời:

Tại các phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ đã quy định cụ thể như sau:

- Danh mục phong tục tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình của các dân tộc được khuyến khích phát huy

+ Chế độ hôn nhân một vợ, một chồng – hình thái hôn nhân cơ bản của hầu hết các dân tộc được pháp luật bảo vệ và khuyến khích phát huy.

+ Nam, nữ tự do tìm hiểu, tự do lựa chọn người bạn đời.

+ Sau khi kết hôn, tuỳ theo sự sắp xếp, thoả thuận giữa hai bên gia đình, vợ, chồng có thể cư trú ở nhà vợ hoặc ở nhà chồng (tục đổi sữa mẹ).

+ Cha, mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục con nên người, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con gây ra.

+ Con có nghĩa vụ nghe lời, phụng dưỡng ông, bà, cha, mẹ khi về già. Trong gia đình và xã hội, sinh hoạt có tôn ty, trật tự (có trên có dưới), các con được đối xử bình đẳng như nhau, không phân biệt đối xử giữa con gái và con trai, giữa con đẻ và con nuôi.

+ Phong tục cho phép được nhận người khác làm con nuôi hoặc làm con nuôi người khác mà không phân biệt họ hàng, dân tộc. Người nhận nuôi con nuôi phải là người có vợ hoặc có chồng. Người được nhận làm con nuôi phải là trẻ em không có nơi nương tựa và không tự nuôi sống được bản thân.

+ Phong tục, tập quán nhận trẻ em mồ côi cha, mẹ làm con nuôi, chăm sóc con nuôi, coi con nuôi như con đẻ, con nuôi và con đẻ coi nhau như anh, em ruột thịt, con nuôi được hưởng các quyền như con đẻ.

+ Phong tục, tập quán chấp nhận hôn nhân giữa người thuộc dân tộc mình với người thuộc dân tộc khác.

+ Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc nuôi dạy con, có sự quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau. Các bậc cha, mẹ dạy dỗ, chỉ bảo con bằng những lời nói dịu dàng, giáo dục con tinh thần lao động cần cù, tạo cho con có ý thức lao động và tự lập. Người phụ nữ có vai trò quan trọng trong gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình không có sự cách biệt.

+ Quan hệ hôn nhân và gia đình bền vững.

- Danh mục phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình bị nghiêm cấp áp dụng hoặc cần vận động xoá bỏ

* Các phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cần vận động xoá bỏ:

+ Kết hôn trước tuổi quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (tảo hôn).

+ Việc đăng ký kết hôn không do Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện.

+ Cưỡng ép kết hôn do xem “lá số” và do mê tín, dị đoan; cản trở hôn nhân do khác dân tộc và tôn giáo.

+ Cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi từ bốn đời trở lên.

+ Nếu nhà trai không có tiền cưới và đồ sính lễ, thì sau khi kết hôn, người con rể buộc phải ở rể để trả công cho bố, mẹ vợ.

+ Quan hệ gia đình theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu hệ, không bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái.

a. Chế độ phụ hệ:

● Khi ly hôn, nếu do người vợ yêu cầu ly hôn, thì nhà gái phải trả lại nhà trai toàn bộ đồ sính lễ và những phí tổn khác; nếu do người chồng yêu cầu ly hôn, thì nhà gái vẫn phải trả lại nhà trai một nửa đồ sính lễ. Sau khi ly hôn, nếu người phụ nữ kết hôn với người khác thì không được hưởng và mang đi bất cứ tài sản gì. Sau khi ly hôn, con phải theo bố.

● Khi người chồng chết, người vợ goá không có quyền hưởng phần di sản của người chồng quá cố để lại. Nếu người vợ goá tái hôn với người khác thì không được hưởng và mang đi bất cứ tài sản gì.

● Khi người cha chết, chỉ các con trai có quyền còn các con gái không có quyền hưởng phần di sản của người cha quá cố để lại.

b. Chế độ mẫu hệ:

● Khi người con bị bắt buộc phải mang họ của người mẹ.

● Khi người vợ chết, người chồng goá không có quyền hưởng phần di sản của người vợ quá cố để lại và không được mang tài sản riêng của mình về nhà.

● Khi người mẹ chết, chỉ các con gái có quyền còn các con trai không có quyền hưởng phần di sản của người mẹ quá cố để lại.

● Sau khi ở rể, người con rể bị “từ hôn” hoặc sau khi ăn hỏi, nhận đồ sính lễ, người con trai bị “từ hôn” thì không được bù trả lại.

+ Không kết hôn giữa người thuộc dân tộc này với người thuộc dân tộc khác và giữa những người khác tôn giáo.

* Các phong tục, tập quán lạc hậu, trái với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình bị nghiêm cấp áp dụng:

+ Chế độ hôn nhân đa thê.

+ Kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có liên quan dòng họ trong phạm vi ba đời.

+ Tục cướp vợ để cưỡng ép người phụ nữ làm vợ.

+ Thách cưới cao mang tính chất gả bán (như đòi bạc trắng, tiền mặt, của hồi môn, trâu, bò, chiêng ché…để dẫn cưới).

+ Phong tục “nối dây”: Khi người chồng chết, người vợ goá bị ép buộc kết hôn với anh trai hoặc em trai của người chồng quá cố; khi người vợ chết, người chồng goá bị ép buộc kết hôn với chị gái hoặc em gái của vợ quá cố.

+ Bắt buộc người phụ nữ goá chồng hoặc người đàn ông goá vợ, nếu kết hôn với người khác, thì phải trả lại tiền cưới cho nhà chồng cũ hoặc nhà vợ cũ.

+ Đòi lại của cải, phạt vạ khi vợ, chồng ly hôn.

 

III- PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỐ

Câu hỏi 26: Cơ quan, tổ chức, cá nhân và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm gì trong việc thực hiện chính sách dân số? Điều 10 Pháp lệnh Dân số quy định "mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con của cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng" có mâu thuẫn với Điều 4 của Pháp lệnh Dân số và Điều 6 của Nghị định số 104/2003/NĐ-CP quy định về nghĩa vụ của các cặp vợ chồng và cá nhân "phải thực hiện kế hoạch hoá gia đình, xây dựng quy mô gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững'' không?

Trả lời: Về vấn đề này pháp luật quy định như sau:

a) Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm sau:

- Tổ chức thực hiện pháp luật về dân số:

Điều 29, 30, 31, 32 Nghị định số 104/2003/NĐ-CP ngày 16/9/2003 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Dân số đã qui định trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về dân số. Theo đó, các cơ quan, tổ chức thực hiện công tác dân số trong cơ quan, hệ thống tổ chức của mình bằng hình thức phù hợp; ban hành các nội qui, quy chế hoặc bằng các hình thức khác để thực hiện mục tiêu chính sách dân số…

- Tạo điều kiện cho cá nhân, các thành viên gia đình thực hiện chính sách về dân số.

- Lồng ghép các yếu tố dân số vào trong quy hoạch, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế, xã hội.

- Thực hiện chính sách xã hội hoá công tác dân số.

b) Trách nhiệm của cá nhân, các thành viên gia đình trong việc thực hiện chính sách dân số:

- Thực hiện mục tiêu chính sách dân số trên cơ sở chuẩn mực gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững;

- Tạo điều kiện giúp đỡ cá nhân thực hiện mục tiêu chính sách dân số phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập, nuôi dạy con, phù hợp với chương trình kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của địa phương và nhà nước;

- Thực hiện luật pháp, chính sách về dân số; quy chế, điều lệ hoặc các hình thức khác của cơ quan, tổ chức; quy ước, hương ước của cộng đồng.

c) Về quy định của Điều 4 và Điều 10 Pháp lệnh Dân số:

Sau khi Pháp lệnh Dân số được ban hành, đã có ý kiến tranh luận về việc "Nhà nước cho phép sinh lúc nào, bao nhiêu con, thời gian nào là tuỳ quyền của mình" và "Pháp lệnh Dân số không quy định cụ thể số con, nên "ít con" có thể là 1, 2 hoặc 3 con, thậm chí không hạn chế số con, có thể sinh "thoải mái" hoặc "Nếu sinh con một bề có thể sinh con thứ 3..."

Điều 10 của Pháp lệnh quy định: "Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con của cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng" và Điều 14 của Pháp lệnh quy định: "Phải thực hiện kế hoạch hoá gia đình, xây dựng quy mô gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững''.

Theo nội dung các điều luật trên, khi nói về quyền quyết định thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh của mỗi cặp vợ chồng và cá nhân không có nghĩa quyền đó được thực hiện một cách tuỳ tiện, sinh con sớm, sinh dày và sinh bao nhiêu theo ý muốn chủ quan của mình. Nhà nước dành cho mỗi cặp vợ chồng và cá nhân quyền quyết định về thời gian sinh con, số con, khoảng cách giữa các lần sinh nhưng Nhà nước cũng yêu cầu họ phải thực hiện quyền đó sao cho phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con cái trên cơ sở bình đẳng; phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chính sách dân số và lợi ích của cơ quan, tổ chức, đoàn thể, cộng đồng. Chỉ khi nào quyền quyết định sinh sản phù hợp với các điều kiện đã nêu trên của cộng đồng và xã hội thì quyết định ấy mới được tôn trọng. Nhìn chung, Nhà nước không khuyến khích việc sinh con thứ ba, vì điều này ảnh hưởng xấu tới sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước.

Chuẩn mực quy mô gia đình ít con (mỗi cặp vợ chồng có một hoặc hai con) đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta kiên trì thực hiện trong suốt những năm qua và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện nhằm giảm tỷ lệ sinh, giảm tốc độ tăng dân số. Công tác dân số đã góp phần đáng kể vào công cuộc xoá đói giảm nghèo xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục bảo đảm các quyền và điều kiện thuận lợi để các cặp vợ chồng, cá nhân thực hiện chính sách dân số. Mọi người hãy tự nhận thức ý nghĩa của kế hoạch hoá gia đình để xây dựng gia đình ít con, ấm no, hạnh phúc và bền vững. Vì gia đình là tế bào của xã hội và như Bác Hồ đã dạy: "Gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Xã hội tốt thì tạo điều kiện cho việc xây dựng gia đình tốt".

Câu hỏi 27: Các hành vi nào bị nghiêm cấm trong lĩnh vực dân số? Hành vi viết, xuất bản các tài liệu sách, báo phổ biến về phương pháp tạo giới tính thai nhi có vi phạm quy định của Pháp lệnh Dân số không?

Trả lời:

Theo Điều 9, 10, 11, 12 Nghị định số 104/2003/NĐ-CP thì các hành vi sau bị nghiêm cấm:

- Nghiêm cấm các hành vi cản trở, cưỡng bức thực hiện kế hoạch hoá gia đình, bao gồm:

+ Đe doạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; xâm phạm thân thể người sử dụng biện pháp tránh thai, người sinh toàn con trai hoặc sinh toàn con gái;

+ Ép buộc, áp đặt sử dụng biện pháp tránh thai, mang thai, sinh sớm, sinh dày, sinh nhiều con, sinh con trai, sinh con gái;

+ Gây khó khăn cho người tự nguyện sử dụng biện pháp tránh thai.

- Nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi, bao gồm:

+ Tuyên truyền, phổ biến, phương pháp tạo giới tính thai nhi dưới các hình thức: tổ chức nói chuyện, viết, dịch, nhân bản các loại sách, báo, tài liệu, tranh, ảnh, ghi hình, ghi âm; tàng trữ, lưu truyền tài liệu, phương tiện và các hình thức tuyên truyền, phổ biến khác về phương pháp tạo giới tính thai nhi;

+ Chẩn đoán để lựa chọn giới tính thai nhi bằng các biện pháp phá thai, cung cấp, sử dụng các hoá chất, thuốc và các biện pháp khác.

- Nghiêm cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu và cung cấp một số phương tiện tránh thai, bao gồm:

+ Phương tiện tránh thai không đúng tiêu chuẩn chất lượng và nhãn hiệu hàng hoá theo quy định của pháp luật hiện hành;

+ Phương tiện tránh thai kém chất lượng đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra chất lượng, kiểm định và kết luận bằng văn bản;

+ Phương tiện tránh thai quá hạn sử dụng ghi trên sản phẩm, bao bì sản phẩm hoặc tuy chưa quá hạn sử dụng ghi trên sản phẩm, bao bì sản phẩm, nhưng đã có thông báo không được tiếp tục sử dụng của cơ quan có thẩm quyền;

+ Phương tiện tránh thai chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép lưu hành ở Việt nam.

- Nghiêm cấm một số hành vi tuyên truyền, phổ biến thông tin về dân số, bao gồm:

+ Tuyên truyền, phổ biến thông tin về dân số trái với đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước;

+ Tuyên truyền, phổ biến thông tin về dân số không chính xác, sai lệch, gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện công tác dân số, đời sống xã hội và các lĩnh vực khác;

+ Lợi dụng tuyên truyền, phổ biến thông tin về dân số, sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình để phát tán tài liệu, vật phẩm hoặc có các hành vi khác trái với thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội.

Quy định các hành vi bị nghiêm cấm thể hiện tính lô gích, nhất quán của chính sách dân số: bảo đảm việc chủ động, tự nguyện của công dân trong công tác dân số, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo đảm sự cân bằng giới tính, bảo đảm sự ổn định xã hội, hạn chế việc lợi dụng công tác dân số để thực hiện những hành vi có ảnh hưởng xấu đến công tác dân số và đời sống xã hội, ngăn chặn các hành vi trái với quy định luật tự nhiên…

Như vậy, bên cạnh các hành vi bị nghiêm cấm trên thì hành vi tuyên truyền, phổ biến phương pháp tạo giới tính thai nhi dưới các hình thức viết, xuất bản các tài liệu tuyên truyền về phương pháp tạo giới tính thai nhi là vi phạm quy định của Pháp lệnh Dân số. Những hành vi vi phạm này, tuỳ theo tính chất, mức độ bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi 28: Mục tiêu của kế hoạch hoá gia đình là gì? Biện pháp thực hiện kế hoạch hoá gia đình?

Trả lời:

Khoản 1 - Điều 9 Pháp lệnh Dân số năm 2003 quy định mục tiêu của kế hoạch hoá gia đình là biện pháp chủ yếu để điều chỉnh mức sinh góp phần bảo đảm cuộc sống ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

Kế hoạch hoá gia đình được thực hiện thông qua các biện pháp như sau:

- Tuyên truyền, tư vấn, giúp đỡ, bảo đảm để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện thực hiện kế hoạch hoá gia đình;

- Cung cấp các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình bảo đảm chất lượng, thuận tiện, an toàn đến tận người dân;

- Khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần, thực hiện các chính sách bảo hiểm để tạo động lực thúc đẩy việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình sâu rộng trong nhân dân.

Ngoài ra, Nhà nước hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chương trình, dự án về kế hoạch hoá gia đình; ưu tiên đối với vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và người chưa đến tuổi thành niên.

Câu hỏi 29: Mục tiêu chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình cần đạt được là gì? Biện pháp chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình được quy định trong pháp luật về dân số nước ta như thế nào?

Trả lời:

Điều 14, 15 Nghị định số 104/2003/NĐ-CP đã đề ra mục tiêu, biện pháp chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình như sau:

a) Mục tiêu:

- Bảo đảm các điều kiện để cá nhân, các cặp vợ chồng thực hiện mục tiêu chính sách dân số; phụ nữ sinh con trong độ tuổi từ hai mươi hai tuổi đến ba mươi lăm tuổi; lựa chọn khoảng cách lần sinh từ ba năm đến năm năm; sử dụng các biện pháp tránh thai phù hợp với điều kiện kinh tế, sức khoẻ, tâm lý và các điều kiện khác của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng.

- Nâng cao sức khoẻ cho mọi người dân, đặc biệt là người chưa thành niên, phụ nữ mang thai, phụ nữ nuôi con nhỏ; giảm tỷ lệ bệnh tật, tử vong đối với người mẹ và trẻ sơ sinh; thực hiện các biện pháp phòng, chống và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS.

b) Biện pháp:

- Tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, đặc biệt tuyên truyền, giáo dục cho người chưa thành niên về chăm sóc sức khoẻ sinh sản.

- Cung cấp đến tận tay nguời dân các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình đa dạng, chất lượng, thuận tiện, an toàn.

- Khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần; thực hiện các chính sách xã hội để thúc đẩy việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình trong nhân dân.

- Nâng cao năng lực tổ chức, thực hiện chương trình, dự án, kế hoạch về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình trong nhân dân.

- Phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình.

Câu hỏi 30: Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền và nghĩa vụ gì trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình?

Trả lời:

Điều 17 Nghị định số 104/2003/NĐ-CP của Chính phủ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng và cá nhân trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình như sau:

a) Quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân không tách rời nhau  trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình. Mỗi cặp vợ chồng, cá nhân có trách nhiệm thực hiện quyền và phải làm tròn bổn phận trách nhiệm của mình đối với nhà nước và xã hội.

b) Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền:

- Quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với quy mô gia đình ít con, mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội và chính sách dân số của nhà nước trong từng giai đoạn; phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trên cơ sở bình đẳng.

- Lựa chọn, sử dụng các biện pháp tranh thai phù hợp với điều kiện kinh tế, sức khoẻ, tâm lý và các điều kiện khác.

- Được cung cấp thông tin và dịch vụ về kế hoạch hoá gia đình.

 c) Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có nghĩa vụ:

- Thực hiện quy mô gia đình ít con (có một hoặc hai con), no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững.

- Sử dụng các biện pháp tránh thai, thực hiện kế hoạch hoá gia đình

- Tôn trọng lợi ích của nhà nước, xã hội, cộng đồng và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức trong việc kiểm soát sinh sản và điều chỉnh quy mô dân số.

- Thực hiện các quy định về pháp luật dân số; các quy chế, điều lệ hoặc các hình thức khác của cơ quan, tổ chức; quy ước, hương ước của cộng đồng về dân số, kế hoạch hoá gia đình;

- Thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình.

Câu hỏi 31: Hiện nay có nhiều cơ sở cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình. Vậy Nhà nước có quy định như thế nào về điều kiện đối với người sử dụng biện pháp tránh thai và điều kiện đối với người và cơ sở cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 104/2003/NĐ-CP, người và cơ sở cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Người cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình phải có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng phù hợp với từng biện pháp tránh thai theo quy định của Bộ Y tế.

- Cơ sở cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình phải đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, vệ sinh, trình độ chuyên môn của cán bộ, trang thiết bị theo quy định của Bộ Y tế.

Đối với người sử dụng biện pháp tránh thai phải có các điều kiện:

- Tự nguyện sử dụng biện pháp tránh thai;

- Có hiểu biết và nhận thức về biện pháp tránh thai;

- Không có chống chỉ định về y tế.

Câu hỏi 32: Nhà nước ta có những biện pháp nào để nâng cao chất lượng dân số?

Trả lời:

Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số.

Nâng cao chất lượng dân số là chính sách cơ bản của Nhà nước trong sự nghiệp phát triển đất nước. Nhà nước thực hiện chính sách nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần nhằm nâng cao chỉ số phát triển của con người Việt Nam lên mức tiến tiến của thế giới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để nâng cao chất lượng dân số Nhà nước ta đã đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng dân số đồng thời quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc nâng cao chất lượng dân số.

- Các biện pháp nâng cao chất lượng dân số gồm:

+ Bảo đảm quyền cơ bản của con người; quyền phát triển đầy đủ, bình đẳng về thể chất, trí tuệ, tinh thần; hỗ trợ nâng cao những chỉ số cơ bản về chiều cao, cân nặng, sức bền; tăng tuổi thọ bình quân; nâng cao trình độ học vấn và tăng thu nhập bình quân đầu người;

+ Tuyên truyền, tư vấn và giúp đỡ nhân dân hiểu và chủ động, tự nguyện thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số;

+ Đa dạng hóa các loại hình cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng, đặc biệt về giáo dục, y tế để cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao chất lượng dân số;

+ Thực hiện chính sách và biện pháp hỗ trợ đối với vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn để nâng cao chất lượng dân số.

- Trách nhiệm nâng cao chất lượng dân số:

+ Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số, thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xây dựng hệ thống an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện công tác bảo vệ sức khỏe và rèn luyện thân thể, nâng cao trình độ giáo dục và phát triển trí tuệ, phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi xã hội, giữ gìn giá trị văn hóa, tinh thần và bảo vệ môi trường sinh thái.

+ Cơ quan quản lý nhà nước về dân số có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan xây dựng và triển khai thực hiện mô hình nâng cao chất lượng dân số với phát triển gia đình bền vững, mô hình tác động nâng cao chất lượng dân số cộng đồng; cung cấp thông tin, tuyên truyền, tư vấn và giúp đỡ gia đình, cá nhân thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số.

+. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được cung cấp thông tin, hướng dẫn, giúp đỡ và tự nguyện thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số.

Câu hỏi 33: Chị H và anh K chuẩn bị kết hôn, trong gia đình anh K có một người em bị di chứng chất độc màu da cam do bố anh K có thời gian đi chiến trường, vì thế hai người rất băn khoăn sợ sẽ bị ảnh hưởng tới việc sinh con sau này. Xin hỏi Nhà nước ta có những biện pháp gì hỗ trợ việc sinh sản?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 23 Pháp lệnh Dân số năm 2003, để nâng cao chất lượng dân số, Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho nam, nữ kiểm tra sức khỏe trước khi đăng ký kết hôn, xét nghiệm gen đối với người có nguy cơ bị khuyết tật về gen, nhiễm chất độc hóa học; tư vấn về gen di truyền; giúp đỡ về vật chất và tinh thần đối với người bị khuyết tật về gen, nhiễm chất độc hóa học, nhiễm HIV/AIDS. Đồng thời, Nhà nước đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công nghệ hỗ trợ sinh sản nhằm giúp đỡ người vô sinh, người triệt sản và những người có nhu cầu theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp của anh K và chị H, để kịp thời phát hiện và chữa chạy những căn bệnh có thể ảnh hưởng tới việc sinh con sau này (nếu có), hai người có thể đi kiểm tra sức khỏe, xin tư vấn về gien di truyền và làm xét nghiệm (nếu thấy cần thiết) trước khi đăng ký kết hôn.

Câu hỏi 34: Nhà nước ta có những chính sách và biện pháp gì để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững?

Trả lời:

Để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững, Điều 24 Pháp lệnh Dân số quy định:

- Nhà nước có chính sách và biện pháp nhằm loại trừ mọi hình thức phân biệt giới, phân biệt đối xử giữa con trai và con gái, bảo đảm phụ nữ và nam giới có quyền lợi, nghĩa vụ như nhau trong việc xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững.

- Nhà nước có chính sách khuyến khích duy trì gia đình nhiều thế hệ; mở rộng các dịch vụ xã hội phù hợp với các hình thái gia đình, bảo đảm cho mọi thành viên trong gia đình được hưởng các quyền lợi và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tuyên truyền, tư vấn, giúp đỡ gia đình nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và xây dựng cuộc sống no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững.

- Các thành viên trong gia đình có trách nhiệm hỗ trợ nhau trong việc thực hiện các biện pháp chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho từng thành viên.

Câu hỏi 35: Xin cho biết pháp luật dân số quy định về quyền bình đẳng giới như thế nào?

Trả lời:

Để góp phần thực hiện quyền bình đẳng giới, đảm bảo nam nữ bình đẳng như Hiến pháp 1992 quy định, Điều 23 Nghị định số 104/2003/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định về quyền bình đẳng giới như sau:

Tuyên truyền về bình đẳng giới; Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử dựa trên cơ sở giới tính; tạo điều kiện cho nữ giới chủ động thực hiện chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và được tiếp cận bình đẳng về giáo dục, đào tạo, nâng cao trình độ mọi mặt và tham gia vào các họat động xã hội; nam giới có trách nhiệm thực hiện kế hoạch hóa gia đình; loại bỏ mọi sự phân biệt đối xử với trẻ em gái; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em gái trong sinh hoạt, khám bệnh, chữa bệnh, học tập, vui chơi giải trí và phát triển toàn diện.

Câu hỏi 36: Chúng tôi chuẩn bị kết hôn, người yêu tôi bị bệnh tim, vì thế nhiều người khuyên chúng tôi nên kiểm tra sức khỏe trước khi kết hôn. Xin hỏi, pháp luật nước ta có quy định về việc kiểm tra sức khỏe trước khi kết hôn không? Kiểm tra sức khỏe trước khi kết hôn gồm các nội dung gì?

Trả lời:

Để nâng cao chất lượng dân số, pháp luật của nhà nước ta đã quy định về việc kiểm tra sức khỏe trước khi đăng ký kết hôn. Điều 25 Pháp lệnh Dân số quy định về vấn đề này như sau:

- Khuyến khích nam, nữ kiểm tra sức khỏe trước khi đăng ký kết hôn.

- Kiểm tra sức khỏe trước khi đăng ký kết hôn gồm: kiểm tra những nội dung liên quan đến bệnh di truyền, bệnh lây qua đường tình dục, nhiễm HIV/AIDS.

Đối tượng sau cần vận động, khuyến khích kiểm tra sức khỏe trước khi đăng ký kết hôn hoặc trước khi có ý định sinh con:

- Những người có tiền sử gia đình có người mắc bệnh tâm thần, bệnh di truyền;

- Người có nguy cơ bị khuyết tật về gen;

- Người bị nhiễm chất độc hóa học;

- Người thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại và các bệnh lây nhiễm.

Cơ quan Dân số, Gia đình và Trẻ em cấp xã, phường có trách nhiệm tuyên truyền, vận động và tạo điều kiện cho những người có nguy cơ cao về bệnh di truyền đi kiểm tra bệnh di truyền; cơ sở thực hiện kiểm tra sức khoẻ và bệnh di truyền có trách nhiệm thông báo kết quả kiểm tra, tư vấn cho người được kiểm tra hoặc người trong gia đình của người được kiểm tra về ảnh hưởng của bệnh tật đối với việc sinh con, nuôi con và bảo đảm bí mật kết quả kiểm tra theo qui định của pháp luật.

Câu hỏi 37: Chúng tôi sinh sống ở vùng dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế - xã hội và đời sống sinh hoạt hàng ngày rất khó khăn. Được biết Đảng và Nhà nước đã dành nhiều sự quan tâm đầu tư, ưu đãi về kinh tế, văn hoá, xã hội cho đồng bào dân tộc, trong đó có chính sách về bảo vệ các dân tộc thiểu số trong lĩnh vực dân số. Đề nghị cho chúng tôi biết cụ thể nội dung này?

Trả lời:

Điều 15 của Pháp lệnh Dân số và Điều 24 Nghị định số 104/2003/NĐ-CP của Chính phủ đã cụ thể hoá nội dung về bảo vệ các dân tộc thiểu số trong lĩnh vực dân số như sau:

- Mở rộng tuyên truyền, giáo dục cung cấp các dịch vụ về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình cho mọi người dân thuộc các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.

- Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ưu tiên đầu tư chương trình, dự án, kế hoạch chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình cho mọi người dân thuộc các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.

- Thực hiện chính sách, biện pháp giúp đỡ, hỗ trợ về vật chất và tinh thần trong việc thực hiện chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân thuộc các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.

 

IV- PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM

Câu hỏi 38: Trẻ em Việt Nam có những quyền cơ bản gì?

Trả lời:

Hiến pháp nước Cộng hoà xã chủ nghĩa Việt Nam khẳng định tại Điều 65 “Trẻ em được gia đình, nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”. Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 đã cụ thể hoá quy định này về trách nhiệm quản lý của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, các quyền cơ bản và bổn phận của chính trẻ em. Luật đã quy định rõ 10 quyền cơ bản của trẻ em Việt Nam, đó là:

- Quyền đ��ợc khai sinh và có quốc tịch;

- Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức;

- Quyền được sống chung với cha mẹ;

- Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự;

- Quyền được chăm sóc, bảo vệ về sức khoẻ;

- Quyền được học tập, trẻ em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí;

- Quyền được vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi;

- Quyền được khuyến khích, tạo thuận lợi để phát triển năng khiếu;

- Quyền có tài sản, quyền thừa kế theo quy định của pháp luật;

- Quyền được tiếp cận thông tin phù hợp với sự phát triển của trẻ em; được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề mà trẻ em quan tâm; được tham gia các hoạt động xã hội phù hợp nhu cầu và năng lực của trẻ em.

Câu hỏi 39: Theo quy định của pháp luật, trẻ em Việt Nam có những bổn phận gì? Những việc nào trẻ em không được làm?

Trả lời:

Theo Điều 21 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, trẻ em Việt Nam có những bổn phận sau đây:

- Yêu quý, kính trọng, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; kính trọng thầy giáo, cô giáo, lễ phép với người lớn, thương yêu em nhỏ, đoàn kết với bạn bè; giúp đỡ người già yếu, người khuyết tật, tàn tật, người gặp hoàn cảnh khó khăn tuỳ theo khả năng của mình;

- Chăm chỉ học tập, giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, thực hiện trật trự công cộng và an toàn giao thông, giữ gìn của công, tôn trọng tài sản của người khác, bảo vệ môi trường;

- Yêu lao động, giúp đỡ gia đình làm những việc vừa sức mình;

- Sống khiêm tốn, trung thực và có đạo đức; tôn trọng pháp luật, tuân theo nội quy của nhà trường, thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hoá; tôn trọng, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc;

- Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đoàn kết quốc tế.

Bên cạnh những bổn phận của trẻ em, Luật cũng quy định rõ những việc trẻ em không được làm, đó là:

- Tự ý bỏ học, bỏ nhà sống lang thang;

- Xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác; gây rối trật tự công cộng;

- Đánh bạc, sử dụng rượu, bia, thuốc lá, chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ;

- Trao đổi, sử dụng văn hoá phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi truỵ; sử dụng đồ chơi hoặc trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh.

Câu hỏi 40: Để toàn xã hội cùng có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, pháp luật quy định những hành vi nào bị nghiêm cấm?

Trả lời:

Để toàn xã hội cùng có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, pháp luật nghiêm cấm các hành vi sau đây:

- Cha mẹ bỏ rơi con, người giám hộ bỏ rơi trẻ em được mình giám hộ;

- Dụ dỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang; lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi;

- Dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ em mua, bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý; lôi kéo trẻ em đánh bạc; bán, cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá, chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ;

- Dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm, xâm hại tình dục trẻ em;

- Lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc trẻ em mua bán, sử dụng văn hoá phẩm kích động bạo lực, đồi truỵ; làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, tàng trữ văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em; sản xuất, kinh doanh đồ chơi, trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ em;

- Hành hạ, ngược đãi, làm nhục, chiếm đoạt, bắt cóc, mua bán, đánh tráo trẻ em; lợi dụng trẻ em vì mục đích trục lợi, xúi giục trẻ em thù ghét cha mẹ, người giám hộ hoặc xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của người khác;

- Lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc trái với quy định của pháp luật về lao động;

- Cản trở việc học tập của trẻ em;

- Áp dụng biện pháp có tính chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm hoặc dùng nhục hình đối với trẻ em vi phạm pháp luật;

- Đặt cơ sở sản xuất, kho chứa thuốc trừ sâu, hoá chất độc hại, chất dễ gây cháy, nổ gần cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em.

Câu hỏi 41: Pháp luật quy định như thế nào về trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em?

Trả lời:

Điều 5 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em như sau:

- Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân. Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu.

- Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân ở trong nước và nước ngoài góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Tại các Điều 23 đến Điều 37 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã quy định trách nhiệm cụ thể của cha mẹ (hoặc người giám hộ), gia đình, nhà trường, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể và toàn xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đó là:

- Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn; chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khoẻ cho trẻ em; bảo đảm quyền dân sự của trẻ em; cha mẹ có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em sống chung với mình.

- Gia đình, nhà trường và xã hội có trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự và quyền được học tập của trẻ em; bảo đảm điều kiện vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch cho trẻ em; phát hiện, khuyến khích, bồi dưỡng, phát triển năng khiếu của trẻ em; tạo điều kiện, giúp đỡ trẻ em được tiếp cận thông tin phù hợp, được phát triển tư duy sáng tạo và bày tỏ nguyện vọng; lắng nghe và giải quyết nguyện vọng chính đáng của trẻ em.

- Các cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động, giáo dục về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; phát triển phúc lợi xã hội cho trẻ em, tạo cơ hội thuận lợi để trẻ em thực hiện quyền, bổn phận và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức.

- Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục đoàn viên, hội viên và nhân dân chấp hành tốt pháp luật về trẻ em; vận động gia đình, xã hội thực hiện tốt việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; chăm lo, bảo vệ quyền lợi của trẻ em, giám sát việc chấp hành pháp luật về trẻ em, đưa ra những kiến nghị cần thiết đối với các cơ quan nhà nước hữu quan để thực hiện những nhiệm vụ đó; ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em…

Câu hỏi 42: Xin cho biết thế nào là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt? Nhà nước ta thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh này như thế nào?

Trả lời:

Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm: trẻ em mồ côi không nơi nương tựa; trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật.

Để bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được tốt, Điều 41 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em qui định:

- Trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em phải coi trọng việc phòng ngừa, ngăn chặn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; kịp thời giải quyết, giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em; kiên trì trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt phục hồi sức khoẻ, tinh thần và giáo dục đạo đức; phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi để trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt;

- Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được thực hiện chủ yếu tại gia đình hoặc gia đình thay thế. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại cơ sở trợ giúp trẻ em chỉ áp dụng cho những trẻ em không được chăm sóc, nuôi dưỡng tại gia đình hoặc gia đình thay thế;

- Tạo điều kiện cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được học tập hoà nhập hoặc được học tập cơ sở giáo dục chuyên biệt.

Câu hỏi 43: Nhà nước có những chính sách và hình thức trợ giúp gì đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 42, 43 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, Nhà nước có chính sách và hình thức trợ giúp như sau:

a) Chính sách của Nhà nước đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:

- Nhà nước có chính sách tạo điều kiện để trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng các quyền của trẻ em; hỗ trợ cá nhân, gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia trợ giúp trẻ em, thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em để bảo đảm cho mọi trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt không còn nơi nương tựa được chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc, nuôi dưỡng tại gia đình, gia đình thay thế hoặc tại cơ sở trợ giúp trẻ em công lập, ngoài công lập.

- Các bộ, ngành có liên quan có trách nhiệm hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với cơ sở trợ giúp trẻ em trong việc giải quyết, giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em, phục hồi sức khoẻ, tinh thần và giáo dục đạo đức cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

b) Hình thức trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:

Đóng góp tự nguyện bằng tiền hoặc hiện vật; nhận làm con nuôi, nhận đỡ đầu hoặc nhận làm gia đình thay thế để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; tham gia chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại cơ sở trợ giúp của trẻ em; tổ chức các hoạt động để hỗ trợ trẻ em giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt, phục hồi sức khoẻ, tinh thần và giáo dục đạo đức.

 

V- PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ

Câu hỏi 44: Thời gian qua, tôi được nghe các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền về đảm bảo quyền làm việc, được đào tạo nghề của phụ nữ khi lao động. Vậy tôi xin hỏi, các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm gì trong việc bảo đảm quyền làm việc và được đào tạo nghề cho lao động nữ ?

Trả lời:

Bình đẳng nam nữ là vấn đề được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và được quy định trong Hiến pháp năm 1992. Đảm bảo quyền làm việc cho phụ nữ và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong đào tạo nghề cho lao động nữ được quy định cụ thể tại Điều 109 và Điều 110 Bộ luật Lao động năm 1994, theo đó:

- Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới, có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để người lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, không trọn tuần, giao việc làm tại nhà.

- Nhà nước có chính sách và biện pháp từng bước mở mang việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hoà cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình.

- Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ để ngoài nghề đang làm người lao động nữ còn có thêm nghề dự phòng và để việc sử dụng lao động nữ được dễ dàng, phù hợp với đặc điểm về cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ.

- Nhà nước có chính sách ưu đãi, xét giảm thuế đối với những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ.

Câu hỏi 45: Pháp luật quy định như thế nào về sự bình đẳng và ưu tiên về việc làm cho lao động nữ ?

Trả lời:

Tại khoản 1 và khoản 2 Điều 111 của Bộ luật Lao động năm 1994 (được sửa đổi, bổ sung năm 2002) đã quy định về sự bình đẳng và ưu tiên về việc làm cho lao động nữ như sau:

- Nghiêm cấm người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ.

Người sử dụng lao động phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương và trả công lao động.

- Người sử dụng lao động phải ưu tiên nhận phụ nữ vào làm việc khi người đó đủ điều kiện tuyển chọn làm công việc phù hợp với cả nam và nữ mà doanh nghiệp đang cần.

Câu hỏi 46: Tuần trước Công ty trách nhiệm hữu hạn X đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chị Nguyễn Thị H vì chị đang mang thai chuẩn bị nghỉ thai sản, sẽ không thể đảm đương được công việc theo yêu cầu của công ty. Công ty X muốn tuyển người khác vào làm thay chị H, biết chuyện nhiều công nhân trong công ty đã phản đối việc làm này của lãnh đạo Công ty. Đề nghị cho chúng tôi biết việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chị H của Công ty X có đúng không? Pháp luật lao động của nước ta quy định về vấn đề này như thế nào?

 

Trả lời:

Việc công ty trách nhiệm hữu hạn X. đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chị Nguyễn Thị H, chỉ vì chị đang có thai là vi phạm pháp luật lao động. Theo quy định tại Khoản 3, Điều 111 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động (năm 2002) thì người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng.

Mặt khác, trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, người lao động nữ được tạm hoãn việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, kéo dài thời hiệu xem xét xử lý kỷ luật lao động, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.

Câu hỏi 47: Đề nghị cho biết quyền lợi và chế độ của lao động nữ khi nghỉ thai sản?

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 1994 (được sửa đổi, bổ  sung năm 2002) và Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ thì lao động nữ khi nghỉ thai sản được hưởng các quyền lợi và chế độ sau đây:

a) Về thời gian nghỉ thai sản:

- Thời gian nghỉ việc trước và sau khi sinh con qui định như sau:

+ 04 tháng đối với người làm việc trong điều kiện bình thường;

+ 05 tháng đối với người làm các nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại; làm việc theo chế độ ba ca; làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,5 và 0,7;

+ 06 tháng đối với người làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 1; người làm nghề hoặc công việc đặc biệt theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành;

- Nếu sinh đôi trở lên, thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm ba mươi ngày.

Trong trường hợp khi sinh con, nếu con dưới 60 ngày tuổi bị chết (kể cả trường hợp đẻ thai chết lưu) thì người mẹ được nghỉ việc 75 ngày tính từ ngày sinh; nếu con từ 60 tuổi trở lên bị chết thì được nghỉ việc 15 ngày tính từ khi con chết, nhưng không vượt quá 6 tháng.

- Hết thời hạn nghỉ việc sinh con theo quy định như trên, nếu có nhu cầu thì sản phụ có thể nghỉ thêm với điều kiện được người sử dụng lao động chấp thuận nhưng không được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội.

- Lao động nữ có thể đi làm việc trước khi hết thời gian nghỉ thai sản (từ bốn đến sáu tháng trước và sau khi sinh con), nếu đã nghỉ sáu mươi ngày trở lên tính từ khi sinh con và phải có chứng nhận của thầy thuốc về việc trở lại làm việc sớm không có hại cho sức khoẻ và phải báo cho người sử dụng lao động biết trước một tuần lễ. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương, lao động nữ vẫn được hưởng trợ cấp thai sản đến hết thời gian nghỉ theo qui định.

b) Chế độ đối với phụ nữ nghỉ thai sản:

Phụ nữ nghỉ thai sản được hưởng trợ cấp cho đến khi nuôi con đủ bốn tháng tuổi. Mức trợ cấp thai sản trong thời gian nghỉ theo quy định của pháp luật lao động bằng 100% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ. Ngoài ra khi sinh con được trợ cấp một lần bằng một tháng tiền lương đóng bảo hiểm xã hội.

Câu hỏi 48: Xin cho biết quy định của pháp luật đối với người sử dụng lao động nữ làm các công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm và cách tính thời giờ làm việc đối với lao động nữ khi làm những công việc này ?

Trả lời:

Điều 113 Bộ luật Lao động năm 1994 (được sửa đổi, bổ sung năm 2002) và Điều 13 Nghị định số 195/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đã quy định cụ thể việc bảo vệ sức khoẻ lao động nữ khi làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có thể làm ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ hoặc nuôi con. Cụ thể là:

- Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.

Doanh nghiệp nào đang sử dụng lao động nữ làm các công việc nói trên phải có kế hoạch đào tạo nghề, chuyển dần người lao động nữ sang công việc khác phù hợp, tăng cường các biện pháp bảo vệ sức khoẻ, cải thiện điều kiện lao động hoặc giảm bớt thời giờ làm việc.

- Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ bất kỳ độ tuổi nào làm việc thường xuyên dưới hầm mỏ hoặc ngâm mình dưới nước.

Trong trường hợp người sử dụng lao động đang sử dụng lao động nữ làm các công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh hưởng tới chức năng sinh đẻ và nuôi con mà chưa chuyển được họ sang làm công việc khác thì người lao động nữ được giảm ít nhất hai giờ làm việc hàng ngày so với số giờ làm việc đã quy định mà vẫn được trả đủ lương. Cách tính thời giờ làm việc đối với lao động nữ trong trường hợp này nhằm bảo vệ sức khoẻ sinh sản của người lao động nữ.

Câu hỏi 49: Chị Q là công nhân bao bì xuất khẩu đang nuôi con 08 tháng tuổi. Do xí nghiệp gần nhà nên hàng ngày chị xin Giám đốc xí nghiệp cho nghỉ tranh thủ  từ 15 - 20 phút giữa giờ để về cho con bú. Giám đốc xí nghiệp không đồng ý và nói rằng: Trong giờ làm việc không ai được phép về nhà dù là cho con bú. Nếu nghỉ thì phải trừ lương.

Hỏi Giám đốc xí nghiệp đúng hay sai? Chị Q có được nghỉ cho con bú không?

Trả lời:

Bộ Luật lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002), quy định:

Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới, có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để người lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, không trọn tuần, giao việc tại nhà (khoản 1 Điều 109).

Người lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày ba mươi phút; trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc, mà vẫn hưởng đủ lương (khoản 3 Điều 115).

 Như vậy, đối chiếu với những qui định này thì Giám đốc xí nghiệp đã vi phạm pháp luật lao động.

Chị Q có quyền được nghỉ mỗi ngày sáu mươi phút trong thời gian làm việc mà vẫn hưởng đủ lương. Xí nghiệp có trách nhiệm tạo điều kiện để chị nghỉ cho con bú, không được trừ mà phải trả đủ lương cho chị theo đúng qui định của Bộ luật Lao động.

Câu hỏi 50: Chị B là công nhân làm việc ở công ty xây dựng của nhà nước. Chị có thai lần đầu nên không được khỏe và thai cũng yếu. Đi khám thai thì được bác sỹ bệnh viện tỉnh yêu cầu cứ 2 tuần phải đến khám một lần. Chị đã trực tiếp báo cáo việc này với lãnh đạo xí nghiệp và xuất trình cả giấy yêu cầu của bác sỹ. Đến lần xin đi khám thứ tư thì lãnh đạo công ty không đồng ý vì cho rằng đã bước vào thời vụ xây dựng, cần tập trung lao động, không ai được nghỉ. Chị rất lo lắng nhưng không dám phản đối vì không biết ý kiến của lãnh đạo công ty đúng hay sai ?

Trả lời :

Đang thời vụ xây dựng nên lãnh đạo doanh nghiệp tập trung cao độ nguồn lực lao động cho công việc là việc làm chính đáng. Tuy nhiên, không thể vì thế mà tập trung, huy động tất cả, bất kể ai, bất kể lý do gì, kể cả đối với lao động nữ đang trong thời kỳ có thai.

Trường hợp chị B đang có thai, sức khoẻ không tốt và thai yếu; bác sỹ yêu cầu 2 tuần đến khám một lần thì việc đi khám thai theo yêu cầu của bác sỹ là rất cần thiết và phải được thực hiện để bảo đảm sức khỏe, tính mạng cho chị và cho thai nhi.

Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002) quy định: "Trong thời gian nghỉ việc để đi khám thai, để thực hiện biện pháp kế hoạch hoá gia đình hoặc do sảy thai; nghỉ để chăm sóc con dưới bảy tuổi ốm đau, nhận trẻ sơ sinh làm con nuôi, người lao động nữ được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc được người sử dụng lao động trả một khoản tiền bằng mức trợ cấp bảo hiểm xã hội "( khoản 1 Điều 117).

Như vậy, lãnh đạo công ty không cho chị B nghỉ đi khám thai là việc làm không hợp tình, sai về lý, là hành vi vi phạm pháp luật lao động.

Câu hỏi 51: Xin cho biết trong thời gian nghỉ chăm sóc con ốm người lao động nữ có được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội không? Nếu được hưởng thì thời gian tối đa được hưởng trợ cấp và mức trợ cấp là bao nhiêu?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002) và Điều 8, Điều 9 của Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ thì người lao động có con thứ nhất, thứ hai (kể cả con nuôi theo quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình) dưới bảy tuổi bị ốm đau, có yêu cầu của tổ chức y tế phải nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau, được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội.

Thời gian tối đa được hưởng trợ cấp để chăm sóc con ốm đau như sau:

- Hai mươi ngày trong 1 năm, đối với con dưới ba tuổi;

- Mười lăm ngày trong 1 năm, đối với con từ ba tuổi đến dưới bảy tuổi.

Mức trợ cấp nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau bằng 75% mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ việc.

Câu hỏi 52: Chị M là công nhân của xí nghiệp may mặc phụ trách phần đứng máy, chị đang mang thai tháng thứ bảy. Gần đây, để đảm bảo thực hiện hợp đồng dịch vụ may xuất khẩu mà công ty đã ký kết với đối tác nước ngoài, lãnh đạo công ty quyết định huy động toàn bộ 100% công nhân đi làm thêm giờ, làm ca đêm, trong đó có cả chị M. Vậy quyết định của lãnh đạo công ty đối với trường hợp của chị M là đúng hay sai? Theo quy định của pháp luật lao động chị M có được hưởng sự ưu tiên nào không?

Trả lời:

Theo Điều 115 Bộ luật Lao động năm 2002, người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ có thai từ tháng thứ bảy hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ, làm việc ban đêm và đi công tác xa.

Người lao động nữ làm công việc nặng nhọc, khi có thai đến tháng thứ bảy, được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt một giờ làm việc hàng ngày mà vẫn hưởng đủ lương.

Căn cứ vào những quy định trên thì quyết định của lãnh đạo công ty đối với chị M là sai. Chị cần được hưởng chế độ ưu tiên để đảm bảo sức khoẻ sinh sản và chế độ thai nghén khi chuẩn bị sinh cháu bé.

Câu hỏi 53: Chị D là công nhân xí nghiệp bao bì xuất khẩu, sinh con thứ nhất được hai tháng rưỡi. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chị xin Giám đốc xí nghiệp cho đi làm sớm hơn thời gian quy định. Giám đốc xí nghiệp đề nghị chị xuất trình giấy chứng nhận sức khoẻ mới cho đi làm. Chị D cho rằng Giám đốc gây khó dễ cho mình và thắc mắc không biết Giám đốc đúng hay sai? Chị có thể được đi làm trong thời gian đang nghỉ sinh không?

Trả lời:

Tại khoản 2 Điều 114 Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002) quy định: “...Người lao động nữ có thể đi làm việc trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, nếu đã nghỉ ít nhất được hai tháng sau khi sinh và có giấy của thầy thuốc chứng nhận việc trở lại làm việc sớm không có hại cho sức khoẻ và phải báo cho người sử dụng lao động biết trước. Trong trường hợp này, người lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản, ngoài tiền lương của những ngày làm việc”.

Đối chiếu với quy định này thì Giám đốc xí nghiệp bao bì xuất khẩu nơi chị D làm việc đã thực hiện đúng pháp luật về lao động. Chị có thể được đi làm trong thời gian nghỉ thai sản và vẫn được hưởng trợ cấp thai sản ngoài tiền lương của những ngày làm việc với điều kiện chị phải có giấy của thầy thuốc chứng nhận việc đi làm việc sớm không có hại cho sức khoẻ và phải báo cho giám đốc xí nghiệp biết trước, để Giám đốc xí nghiệp sắp xếp, bố trí.

Câu hỏi 54: Cách đây gần hai năm, Chị K công nhân nhà máy xi măng N được nhà máy cho đi đào tạo nâng cao tay nghề và sau đó bố trí về làm việc tại nhà máy. Đầu năm 2004 chị cưới chồng và nay chị đang mang thai được 4 tháng. Nhận thấy làm việc ở môi trường rất độc hại có khả năng ảnh hưởng lớn đến thai nhi, chị quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (như yêu cầu của bác sỹ trong giấy xác nhận khám thai định kỳ của chị). Lãnh đạo nhà máy không đồng ý với lý do đã cho chị đi đào tạo thì phải tiếp tục làm việc cho nhà máy. Chị không chịu vì cho rằng chị có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước. Hỏi trong trường hợp này chị K đúng hay sai?

Trả lời :

Đối với trường hợp này, Điều 112 Bộ luật Lao động năm 1994(đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002), quy định: Người lao động nữ có thai có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải bồi thường theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật này (bồi thường nửa tháng lương, phụ cấp lương và phí đào tạo – nếu có), nếu có giấy của thầy thuốc chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi. Thời hạn mà người lao động nữ phải báo trước cho người sử dụng lao động trong trường hợp này tùy thuộc vào thời hạn do thầy thuốc chỉ định.

Như vậy, nếu chị K có giấy của thầy thuốc chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì chị có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải bồi thường phí đào tạo. Tuy nhiên chị phải báo cáo rõ, xuất trình giấy chứng nhận nói trên của thầy thuốc cho lãnh đạo nhà máy. Thời hạn chị phải báo trước theo thời hạn thầy thuốc chỉ định.

 

VI- PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH

Câu hỏi 55: Pháp luật quy định như thế nào về thẩm quyền và thời hạn đăng ký khai sinh?

Trả lời:

Về thẩm quyền đăng ký khai sinh, Điều 17 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch quy định như sau:

- Việc đăng ký khai sinh được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người mẹ có hộ khẩu thường trú, hoặc nơi trẻ em sinh ra.

- Trong trường hợp người mẹ thường trú ở một nơi, nhưng lại đăng ký khai sinh cho con ở một nơi khác, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký phải gửi thông báo kèm theo một bản sao Giấy khai sinh cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người mẹ có hộ khẩu thường trú để ghi vào Sổ đăng ký khai sinh. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký phải lập một quyển Sổ đăng ký khai sinh riêng cho những trường hợp này, không đưa vào số liệu thống kê số trẻ em sinh của địa phương.

- Trong trường hợp người mẹ không có hộ khẩu thường trú, đã cắt chuyển hộ khẩu tại nơi thường trú cũ, nhưng chưa đủ thủ tục, điều kiện để được đăng ký hộ khẩu thường trú tại nơi thực tế đang cư trú, thì việc đăng ký cho trẻ em được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người mẹ đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn.

Về thời hạn đăng ký khai sinh, Điều 18 Nghị định số 83 quy định: Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày sinh trẻ em, cha, mẹ, hoặc người thân thích, người có trách nhiệm phải khai sinh cho trẻ em; đối với các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, thì thời hạn trên không quá sáu mươi ngày.

Câu hỏi 56: Thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký khai sinh đối với trẻ em sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em sinh ra rồi mới chết được pháp luật về hộ tịch quy định như thế nào?

Trả lời:

Theo Điều 19 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, ngày 10-10-1998 của Chính phủ các vấn đề nêu trên được quy định như sau:

a) Về thủ tục đăng ký khai sinh:

- Người đi khai sinh nộp Giấy chứng sinh do cơ sở y tế nơi trẻ em sinh ra cấp và xuất trình các giấy tờ sau đây:

+ Giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ trẻ em (nếu có);

+ Sổ hộ khẩu gia đình hoặc Giấy đăng ký tạm trú của người mẹ;

+ Chứng minh nhân dân của người đến đăng ký khai sinh.

Trong trường hợp không có đủ các giấy tờ nêu trên, thì phải có giấy tờ hợp lệ thay thế.

Nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế thì Giấy chứng sinh được thay thế bằng văn bản xác nhận của người làm chứng hoặc của người chỉ huy, người điều khiển phương tiện giao thông, nếu sinh con trên các phương tiện giao thông.

Nếu có đủ các giấy tờ hợp lệ thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp ngay một bản chính Giấy khai sinh cho trẻ em, cán bộ hộ tịch tư pháp ghi vào Sổ đăng ký khai sinh. Bản sao và số lượng bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.

- Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, phần khai về cha, mẹ khi chưa xác định được thì trong Giấy khai sinh và trong Sổ đăng ký khai sinh để trống. Nếu có người nhận làm cha, mẹ của trẻ em, thì căn cứ vào Quyết định công nhận việc cha, mẹ nhận con của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà ghi tên của người được công nhận là cha, mẹ vào phần khai về cha, mẹ trong Giấy khai sinh và trong Sổ đăng ký khai sinh của người con.

- Người làm chứng phải có đầy đủ những điều kiện sau đây:

+ Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực và hành vi dân sự đầy đủ;

+ Biết rõ sự việc liên quan đến việc làm chứng;

+ Không có quyền, lợi ích liên quan đến việc làm chứng.

Người làm chứng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung mà họ đã làm chứng.

Những giấy tờ có được do hành vi làm chứng sai sự thật sẽ bị thu hồi.

b) Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra rồi mới chết được quy định tại Điều 20 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10 - 10 - 1998 của Chính phủ  như sau:

Trẻ em sinh ra sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết, thì cũng phải đăng ký khai sinh theo quy định của Nghị định này, nếu chết trước khi sinh (chết lưu) hoặc sinh ra mà sống chưa được 24 giờ, thì không phải đăng ký khai sinh.

c) Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sơ sinh bị bỏ rơi được quy định tại Điều 21 Nghị định 83/1998/NĐ-CP như sau:

- Người phát hiện thấy trẻ em bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ em đó và báo ngay cho Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cơ sở nơi gần nhất để lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ sơ sinh bị bỏ rơi. Uỷ ban nhân dân tìm người hoặc tổ chức nhận nuôi dưỡng trẻ em đó.

Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cơ sở nơi có trẻ sơ sinh bị bỏ rơi phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm cha, mẹ đẻ của trẻ em đó. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ khi phát hiện trẻ em sơ sinh bị bỏ rơi, nếu không tìm được cha, mẹ đẻ, thì cá nhân hoặc tổ chức nhận nuôi dưỡng phải khai sinh cho trẻ em đó tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản.

- Khi khai sinh cho trẻ em, người đi khai sinh phải nộp biên bản xác nhận tình trạng trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và xuất trình Sổ hộ khẩu gia đình hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế.

- Khi đăng ký khai sinh cho trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, nếu không có cơ sở để xác định ngày sinh và nơi sinh, thì ngày phát hiện trẻ em bị bỏ rơi là ngày sinh, nơi sinh là nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi. Phần khai về cha, mẹ của trẻ em trong Giấy khai sinh và trong Sổ đăng ký khai sinh được để trống. Trong trường hợp có người nhận trẻ em làm con nuôi, thì căn cứ vào Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi của Uỷ ban nhân dân cấp xã, cán bộ hộ tịch tư pháp ghi tên của người được công nhận là cha, mẹ nuôi vào phần khai về cha, mẹ trong Giấy khai sinh của con nuôi, nhưng phần ghi chú trong Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ "cha, mẹ nuôi". Nội dung ghi chú này phải được đảm bảo bí mật tuyệt đối, chỉ những người có thẩm quyền mới có quyền khai thác và sử dụng thông tin này.

Câu hỏi 57: Pháp luật quy định như thế nào về thời hạn và thủ tục đăng ký khai tử?

Trả lời: Về vấn đề này pháp luật quy định như sau:

a) Về thời hạn đăng ký khai tử, pháp luật quy định như sau:

Khi có người chết tại nhà hoặc khi nhận được giấy báo tử, người thân thích của người chết phải đi khai tử. Nếu người chết không có người thân thích, thì chủ nhà hoặc người có trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức nơi người đó chết đi khai tử.

Đối với khu vực thành phố, thị xã, thị trấn, thì thời hạn đăng ký khai tử là 48 giờ, kể từ khi người đó chết.

Đối với khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, thì thời hạn trên không quá mười lăm ngày (Điều 28 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP).

b) Về thủ tục đăng ký khai tử, pháp luật quy định như sau:

Người đi khai tử phải nộp Giấy báo tử và xuất trình các giấy tờ sau đây:

- Sổ hộ khẩu gia đình của người chết;

- Chứng minh nhân dân của người đi khai tử.

Trong trường hợp không có đủ các giấy tờ nêu trên, thì phải có giấy tờ hợp lệ thay thế.

Nếu có đủ hồ sơ hợp lệ, thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp ngay cho người đến khai tử một bản chính Giấy chứng tử và Giấy cho phép mai táng, cán bộ hộ tịch tư pháp ghi vào Sổ đăng ký khai tử. Bản sao và số lượng bản sao Giấy chứng tử được cấp theo yêu cầu của người đi khai tử.

Nếu một người cư trú một nơi, nhưng chết ở một nơi khác mà không có điều kiện mai táng tại nơi cư trú, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết có trách nhiệm cấp Giấy cho phép mai táng.

Trong trường hợp đăng ký khai tử cho người chết không rõ tung tích, nếu không có cơ sở để xác định ngày chết và nơi chết, thì ngày phát hiện ra người đó chết là ngày chết, nơi chết là nơi lập biên bản, nguyên nhân chết được ghi theo văn bản xác định nguyên nhân chết của cơ quan Công an. Những phần còn lại trong Giấy chứng tử và trong Sổ đăng ký khai tử được để trống. Phần ghi chú trong Sổ đăng ký khai tử phải ghi rõ "người chết không rõ tung tích" và ghi chính xác địa điểm đã mai táng người chết (Điều 34 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP).

Trẻ em sinh ra mà sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết thì vừa phải đăng ký khai sinh, vừa phải đăng ký khai tử, nếu chết trước khi sinh (chết lưu) hoặc sinh ra mà chết ngay thì không phải đăng ký khai tử.

Câu hỏi 58: Pháp luật quy định như thế nào về thẩm quyền và thủ tục đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn?

Trả lời: Về vấn đề này pháp luật quy định như sau:

a) Thẩm quyền đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn được quy định tại Điều 60 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ như sau:

Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đương sự cư trú thực hiện việc đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn.

Việc đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn phải được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đương sự đăng ký hộ khẩu thường trú. Trong trường hợp đương sự không có hoặc chưa có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nhưng có nơi đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đương sự đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn, thực hiện việc đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn.

b)Thủ tục đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn được quy định như sau:

- Khi đăng ký khai sinh quá hạn, người đi khai sinh nộp Giấy chứng sinh do cơ sở Y tế nơi trẻ em sinh ra cấp và xuất trình các giấy tờ sau đây:

+ Giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ trẻ em (nếu có);

+ Sổ hộ khẩu gia đình hoặc Giấy đăng ký tạm trú của người mẹ;

+ Chứng minh nhân dân của người đến đăng ký khai sinh.

Trong trường hợp không có đủ các giấy tờ nêu trên, thì phải có giấy tờ hợp lệ thay thế. Ngoài ra, người đi khai sinh còn phải nộp đơn xin đăng ký khai sinh quá hạn, trong đơn phải nói rõ lý do về việc không đăng ký đúng hạn.

Nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở Y tế, thì Giấy chứng sinh được thay thế bằng văn bản xác nhận của người làm chứng hoặc của người chỉ huy, người điều khiển phương tiện giao thông, nếu sinh con trên các phương tiện giao thông.

- Khi đăng ký khai tử quá hạn, người đi khai tử phải nộp Giấy báo tử và xuất trình các giấy tờ sau đây:

+ Sổ hộ khẩu gia đình của người chết;

+ Chứng minh nhân dân của người đi khai tử.

Trong trường hợp không có đủ các giấy tờ nêu trên, thì phải có giấy tờ hợp lệ thay thế. Ngoài ra, người đi khai tử còn phải nộp đơn xin đăng ký khai tử quá hạn, trong đơn phải nói rõ lý do về việc không đăng ký đúng hạn.

c) Thời hạn đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn được quy định tại Điều 62 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP như sau:

Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, nếu xét thấy việc xin đăng ký quá hạn là đúng sự thật, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho đương sự một bản chính Giấy khai sinh hoặc Giấy chứng tử, cán bộ hộ tịch tư pháp ghi vào sổ đăng ký theo từng loại việc và ghi "Đăng ký quá hạn" vào cột "ghi chú" của hai loại sổ nói trên. Bản sao và số lượng bản sao Giấy khai sinh, Giấy chứng tử được cấp theo yêu cầu của đương sự.

Trong trường hợp cần phải xác minh thêm, thì thời hạn kéo dài không quá bảy ngày.

Câu hỏi 59: Thẩm quyền và thủ tục đăng ký việc nhận cha, mẹ, con được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời: Về nội dung nêu trên, pháp luật quy định như sau:

a) Về thẩm quyền đăng ký việc nhận cha, mẹ, con pháp luật quy định như sau:

Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người con công nhận và đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, nếu việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp.

Việc đăng ký nhận cha, mẹ, con phải được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người con đăng ký hộ khẩu thường trú. Trong trường hợp người con không có hoặc chưa có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nhưng có đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người con đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn, thực hiện việc đăng ký nhận cha, mẹ, con. Trong trường hợp người con không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cũng không có nơi đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người con thực tế đang sinh sống, thực hiện việc đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Việc đăng ký nhận cha, mẹ, con chỉ được thực hiện trong trường hợp người xin nhận và người được nhận là cha, mẹ, con phải còn sống vào thời điểm đăng ký.

b) Về thủ tục đăng ký việc cha, mẹ nhận con pháp luật quy định như sau:

- Người xin nhận con phải nộp đơn và xuất trình các giấy tờ sau đây:

+ Giấy khai sinh của người con;

+ Sổ hộ khẩu gia đình của người con;

+ Chứng minh nhân dân của người có đơn yêu cầu.

Trong trường hợp không có đủ các giấy tờ kể trên, thì phải có giấy tờ hợp lệ thay thế. Ngoài ra, người xin nhận con phải nộp các giấy tờ cần thiết khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con.

Cha hoặc mẹ đăng ký nhận con, thì đơn xin nhận con phải có ý kiến đồng ý của người kia, trừ trường hợp người này đã bị Toà án tuyên bố mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự.

Đơn xin nhận con phải có sự đồng ý của người hiện đang nuôi dưỡng trẻ em đó. Nếu người được nhận làm con từ chín tuổi trở lên, thì phải được sự đồng ý của người con đó.

Trong trường hợp một người mà tính mạng bị cái chết đe doạ do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác, không thể đến Uỷ ban nhân dân cấp xã yêu cầu công nhận người khác là con mình, thì đơn được thay thế bằng văn bản có xác nhận của hai người làm chứng về nguyện vọng nhận con của người đó. Trong trường hợp người đó đã có đơn xin nhận con, thì người thân thích hoặc người được uỷ quyền thay mặt người đó làm thủ tục đăng ký việc cha, mẹ nhận con.

- Người xin nhận cha, mẹ phải nộp đơn và xuất trình các giấy tờ sau đây:

+ Giấy khai sinh của người xin nhận cha, mẹ;

+ Sổ hộ khẩu gia đình của người xin nhận cha, mẹ.

Trong trường hợp không có đủ các giấy tờ kể trên đây, thì phải có giấy tờ hợp lệ thay thế. Ngoài ra, người xin nhận cha, mẹ phải nộp các giấy tờ cần thiết khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con.

Con đăng ký nhận cha hoặc mẹ, thì đơn xin nhận cha hoặc mẹ phải có ý kiến đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc cha và của người được nhận là cha hoặc mẹ; nếu người hiện đang là mẹ hoặc cha đã bị Toà án tuyên bố mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự, thì không phải có ý kiến của người này.

Trong trường hợp người xin nhận cha hoặc mẹ dưới mười lăm tuổi, thì đơn do mẹ, cha, hoặc người đang nuôi dưỡng viết, nếu trẻ em từ chín tuổi trở lên, thì phải có sự đồng ý của người đó, nếu từ đủ mười lăm tuổi trở lên, thì đơn phải do chính người đó viết.

Câu hỏi 60: Thẩm quyền và thủ tục đăng ký việc thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc được quy định như thế nào?

Trả lời: Về những nội dung nêu trên, pháp luật quy định như sau:

a) Về thẩm quyền đăng ký việc thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc được pháp luật quy định như sau:

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú hoặc nơi đã đăng ký khai sinh của người có đơn yêu cầu có thẩm quyền cho thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh (sau đây gọi chung là thay đổi, cải chính hộ tịch); xác định lại dân tộc đã được đăng ký trong bản chính Giấy khai sinh.

Trong trường hợp đương sự không có hoặc chưa có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nhưng có đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu, thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, nơi đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn, cũng có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc của người đó.

b) Về thủ tục đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc được pháp luật quy định:

Người xin thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc phải nộp đơn và xuất trình các giấy tờ sau đây:

- Bản chính Giấy khai sinh (nếu đã mất bản chính Giấy khai sinh, thì có thể thay thế bằng bản sao Giấy khai sinh từ sổ gốc được cấp chưa quá 3 tháng. Trong trường hợp này chỉ có Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh mà tại địa hạt của tỉnh đó đương sự đã đăng ký khai sinh trước đây mới thực hiện việc đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc);

- Sổ hộ khẩu gia đình của người có đơn yêu cầu;

- Chứng minh nhân dân.

Trong trường hợp không có đủ các giấy tờ kể trên, thì phải có giấy tờ hợp lệ thay thế. Ngoài ra, người xin thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc phải nộp các giấy tờ cần thiết khác chứng minh đủ điều kiện theo quy định tại Điều 29 của Bộ Luật Dân sự năm 1995 (đối với trường hợp xin thay đổi họ, tên), và Điều 30 của Bộ Luật Dân sự năm 1995 (đối với trường hợp xin xác định lại dân tộc).

Đơn xin thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc phải nói rõ lý do và các nội dung xin thay đổi, cải chính, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người có đơn yêu cầu cư trú. Trong trường hợp xin thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc tại Uỷ ban nhân dân cấp xã không phải nơi đã đăng ký khai sinh, thì phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh trước đây.

Việc thay đổi, cải chính hộ tịch, đối với người dưới 18 tuổi được thực hiện theo đơn yêu cầu của cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp. Đối với người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, nếu xét thấy việc xin thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc không trái với các quy định của pháp luật, thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ký và cấp cho đương sự một bản chính Quyết định cho phép thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc. Căn cứ vào Quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp ghi rõ nội dung thay đổi vào Sổ đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch và bản chính Giấy khai sinh của đương sự. Sở Tư pháp có trách nhiệm gửi một bản sao Quyết định cho phép thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc cho cơ quan Công an cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh để ghi chú nội dung thay đổi vào Sổ đăng ký khai sinh của đương sự. Bản sao và số lượng bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của đương sự.

Trong trường hợp không có đủ cơ sở để đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh từ chối đăng ký và giải thích rõ lý do bằng văn bản.

Cơ quan, tổ chức hữu quan hiện đang quản lý hồ sơ cá nhân của đương sự căn cứ vào Quyết định cho phép thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và bản chính Giấy khai sinh đã ghi chú sự thay đổi để điều chỉnh các giấy tờ, hồ sơ cá nhân của đương sự.

 

 

 

 

VII- MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

 HÀNH CHÍNH VÀ HÌNH SỰ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO PHỤ NỮ

 

Câu hỏi 61: Tuần trước, tôi cùng một số người trong bản lên rừng chặt cây lấy gỗ về làm củi bán, chúng tôi đã bị lực lượng kiểm lâm kiểm tra phát hiện và cho biết chúng tôi đã vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, vì vi phạm lần đầu với số lượng ít nên sẽ bị xử phạt hành chính. Hiện nay, tôi đang mang thai tháng thứ tư, vậy tôi có được hưởng sự ưu tiên nào khi bị xử phạt hành chính không?

Trả lời:

Để bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, thể hiện sự quan tâm, ưu ái của Nhà nước và xã hội đối với đối tượng này, nhất là khi họ đang mang thai, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (số 44/2002/PL-UBTVQH10 ngày 02/7/2002) đã qui định về các tình tiết giảm nhẹ khi xử phạt vi phạm hành chính, trong đó khẳng định: Người vi phạm là phụ nữ có thai, người già yếu, người có bệnh hoặc tàn tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình…thì được coi là tình tiết giảm nhẹ khi xem xét các biện pháp xử phạt hành chính. Trong trường hợp của bạn, việc bạn đang mang thai được coi là tình tiết giảm nhẹ, đây sẽ là cơ sở để cơ quan kiểm lâm xem xét, chiếu cố và áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện hiện có của bạn.

Câu hỏi 62: Đề nghị cho biết trong trường hợp người phụ nữ đang có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi có được hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng không?

Trả lời:

Theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, việc hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh được thực hiện đối với phụ nữ đang có thai có chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên hoặc phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi có đơn đề nghị và được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

Phụ nữ đang có thai có chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên hoặc phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi có đơn đề nghị được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư­ trú xác nhận thì được miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng.

Khi điều kiện hoãn chấp hành không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành.

Câu hỏi 63: Vừa qua, nhân dịp về quê dự đám cưới đứa cháu ngoại, tôi được nghe họ hàng bàn tán xôn xao về chuyện nhà ông H đã tổ chức cưới vợ cho con khi cô dâu vừa mới bước qua tuổi 16 với lý do ông nội chú rể đang ốm nặng, cần cưới gấp. Được biết, vì là đám cưới “chui” nên uỷ ban nhân dân xã không hề hay biết và có biện pháp xử lý kịp thời. Xin hỏi hành vi của gia đình ông H có vi phạm pháp luật hành chính không? Nếu có thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo mức như thế nào?

Trả lời:

Vì cô dâu chưa đủ tuổi kết hôn (theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì tuổi kết hôn của nữ là 18) nên gia đình ông H. đã vi phạm pháp luật hành chính do hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn như trên. Theo quy định tại Điều 6 - Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

- Cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Toà án buộc chấm dứt quan hệ đó.

- Tổ chức việc kết hôn cho người chưa đến tuổi kết hôn.

Câu hỏi 64: Anh Th và chị L yêu nhau đã được gần 3 năm. Tuy nhiên, khi anh chị quyết định tổ chức đám cưới thì bất ngờ gặp phải sự phản đối quyết liệt của gia đình hai bên. Mọi chuyện bắt đầu khi ông nội anh Th tuyên bố từ mặt đứa cháu đích tôn nếu anh Th lấy chị L, vì theo ông, từ lâu giữa hai họ Vũ (của anh Th) và họ Đào (nhà chị L) vốn tồn tại mối bất hoà, ông chị L đã từng tuyên bố không thèm nhìn mặt và kết giao với bất cứ thành viên nào của họ Vũ. Để phản đối đôi bạn trẻ, gia đình hai bên đã dùng nhiều biện pháp cả thuyết phục lẫn đe doạ đôi trai gái nếu họ cố tình không nghe. Sau khi biết sự việc xảy ra, Uỷ ban nhân dân xã đã cử người xuống gia đình hai bên thuyết phục nhiều lần nhưng không được và đã quyết định sẽ tiến hành xử phạt vi phạm hành chính vì hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Đề nghị cho biết việc xử phạt của Uỷ ban nhân dân xã có đúng không? Nếu đúng, theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính thì hành vi đó bị xử phạt như thế nào?

Trả lời:

Đối với hành vi cản trở hôn nhân của gia đình anh Th và chị L như trên, việc xử phạt của UBND xã là hoàn toàn đúng đắn và kịp thời. Theo Điều 7 - Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình qui định về hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ thì: Phạt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

- Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.

- Cản trở người khác kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.

Câu hỏi 65: Mặc dù đã có hai đứa con ngoan ngoãn, xinh xắn nhưng gần đây anh Nh lại hay đi sớm về muộn thất thường, nhiều khi lấy lý do công tác mà anh đi qua đêm không về nhà. Nghe mọi người bàn tán nhiều nên chị L vợ anh cũng sinh nghi, qua dò hỏi thì được biết đã mấy tháng nay anh Nh thường hay qua lại quan hệ với cô S đã bỏ chồng, làm nghề cắt tóc gội đầu. Chị L sau nhiều lần khuyên nhủ chồng không được, đã báo cáo lên lãnh đạo cơ quan anh Nh. Thủ trưởng cơ quan cũng đã tiến hành kiểm điểm khiển trách anh Nh. Chi hội phụ nữ nơi anh chị cư trú cũng đã đến nhà thuyết phục anh quay về với vợ con. Tuy nhiên, anh Nh không những không nghe mà còn bỏ đến ở hẳn với cô bồ của mình. Theo quy định của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, hành vi của anh Nh có bị xử phạt không? Nếu có thì xử phạt theo hành vi vi phạm gì?

Trả lời:

Theo quy định của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính và Nghị định số 87/2001/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, hành vi của anh Nh là hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. Điều 8 của Nghị định số 87 quy định việc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng;

- Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có vợ hoặc đang có chồng nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng.

Ngoài ra còn có thể áp dụng hình thức xử phạt bổ sung buộc chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật đối với những trường hợp vi phạm ở trên.

Câu hỏi 66: Tại Đại hội phụ nữ vừa qua của xã, chị Nguyễn Thị C đã được Đại hội tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội phụ nữ xã. Khi biết tin này, anh H chồng chị đã ra sức ngăn cấm, đánh đập không cho chị tham gia hoạt động xã hội, khiến chị phải vào bệnh viện điều trị. Mặc dù đã được chính quyền địa phương và các đoàn thể khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh H vẫn cố tình vi phạm. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, hành vi của anh H đã phạm vào tội gì và bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Điều 63 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định:

"Công dân nam và nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình.

Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ..."

Việc anh H cố tình ngăn cản, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của vợ là vi phạm pháp luật.

Điều 130 của Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ, theo đó: Người nào dùng vũ lực hoặc có hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Câu hỏi 67: Người bị xử phạt tù là phụ nữ có thể được hoãn, tạm đình chỉ thi hành trong trường hợp nào?

Trả lời:

Khi bị xử phạt tù, người phụ nữ có thể được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt khi: có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn hoặc tạm đình chỉ cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi.

Thời hạn tạm đình chỉ không được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

Câu hỏi 68: Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt đối với tội mua bán phụ nữ như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật Hình sự năm 1999, thì:  

- Người nào mua bán phụ nữ thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm:

+ Mua bán phụ nữ vì mục đích mại dâm;

+ Có tổ chức;

+ Có tính chất chuyên nghiệp;

+ Để đưa ra nước ngoài;

+ Mua bán nhiều người;

+ Mua bán nhiều lần.

- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.   

 Câu hỏi 69: Việc một người lấy quyền làm cha, làm mẹ uy hiếp tinh thần để ép buộc con cái lấy chồng, lấy vợ trái với sự tự nguyện của họ thì bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Việc kết hôn là sự tự nguyện của đôi bên, không bên nào được ép buộc bên nào. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chính sách và các biện pháp tạo điều kiện để công dân nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Nghiêm cấm các hành vi xâm phạm đến quyền tự do kết hôn của họ.

Việc những người có địa vị trong gia đình, dòng tộc dùng quyền của mình để ép buộc con cháu phải lấy vợ, lấy chồng hoặc có hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện là vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước pháp luật.

Người có hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Câu hỏi 70: Anh B và chị H kết hôn được 5 năm (có đăng ký kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã cấp) và có một con chung 3 tuổi. Năm 1998 anh B đi xuất khẩu lao động đến nay không về và cũng không có tin báo về cho vợ và con. Năm 2003, Chị H quyết định kết hôn với anh T là người cùng cơ quan (chị H chưa ly hôn, anh T là thanh niên chưa vợ). Anh T và chị H có vi phạm nguyên tắc một vợ, một chồng không? Nếu vi phạm thì bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam là: hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng.

Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình, cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó (điểm 3 của Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25 tháng 9 năm 2001 của Bộ Tư pháp - Bộ Công an - Toà án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình" của Bộ luật Hình sự năm 1999).

Như vậy, việc Anh T kết hôn với chị H là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước pháp luật.

Trong trường hợp nếu đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà vẫn cố tình vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 147 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Điều 147 Bộ luật Hình sự quy định:

-  Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

-  Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Để đảm bảo quyền và lợi ích của mình, chị H có thể yêu cầu Toà án tuyên bố chồng chị mất tích. Chị H chỉ có thể kết hôn với anh T sau khi chồng chị đã bị Toà án tuyên bố là mất tích và Toà án đã giải quyết cho chị ly hôn với người chồng đó.

PHỤ LỤC: MỘT SỐ VĂN BẢN VỀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ

 

1- CÔNG ƯỚC CEDAW

(Đã được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1979 và được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký ngày 29 tháng 7 năm 1980 và Hội đồng Nhà nước phê chuẩn ngày 19/3/1982)

Những quốc gia tham gia Công ước này:

- Lưu ý rằng, Hiến chương Liên Hợp Quốc khẳng định lại niềm tin và các quyền cơ bản của con người, nhân phẩm và giá trị của mỗi con người và các quyền bình đẳng giữa nam và nữ,

- Lưu ý rằng, Tuyên bố chung về Nhân quyền khẳng định nguyên tắc không thể chấp nhận sự phân biệt đối xử và tuyên bố rằng mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền lợi, và mọi người đều được hưởng mọi quyền lợi và tự do ghi trong văn kiện ấy mà không có sự phân biệt nào, kể cả phân biệt về giới tính,

- Lưu ý rằng, các nước tham gia Công ước quốc tế về nhân quyền có nghĩa vụ bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong việc được hưởng các quyền về kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự và chính trị,

- Xem xét các Công ước quốc tế đã được ký kết dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc và các cơ quan chuyên môn nhằm đẩy mạnh việc thực hiện các quyền bình đẳng giữa nam và nữ,

- Lưu ý đến các nghị quyết, tuyên bố, kiến nghị do Liên Hợp Quốc và các cơ quan chuyên môn thông qua nhằm thúc đẩy sự bình đẳng về quyền lợi giữa nam và nữ,

- Tuy nhiên lo ngại rằng bất chấp những công cụ kể trên sự phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nơi,

- Nhắc lại rằng, sự phân biệt đối xử với phụ nữ vi phạm các nguyên tắc về quyền bình đẳng và xúc phạm tới phẩm giá con người, là một trở ngại đối với việc phụ nữ tham gia bình đẳng với nam giới vào đời sống chính trị, xã hội và gia đình, và gây khó khăn cho sự phát triển đầy đủ các khả năng tiềm tàng của phụ nữ trong việc phục vụ đất nước và loài người,

- Lo ngại rằng, trong tình trạng nghèo khổ, phụ nữ là những người bị thiệt thòi nhiều nhất về ăn uống, sức khoẻ, giáo dục, đào tạo, cơ hội có việc làm và các nhu cầu khác,

- Tin tưởng rằng, việc thiết lập một trật tự kinh tế quốc tế mới dựa trên sự công bằng và công lý sẽ góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy thực hiện quyền bình đẳng nam nữ,

- Nhấn mạnh rằng, việc thủ tiêu chủ nghĩa A-pác-thai, mọi hình thức của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, sự xâm lược, chiếm đóng, thống trị của người nước ngoài, việc thủ tiêu sự can thiệt của nước ngoài vào công việc nội bộ của các nước là hết sức cần thiết để nam cũng như nữ đều có thể hưởng một cách đầy đủ các quyền của họ,

- Khẳng định rằng, việc củng cố hoà bình và an ninh quốc tế, giảm căng thẳng quốc tế, sự hợp tác giữa các quốc gia với nhau không phân biệt chế độ kinh tế, xã hội, việc giải trừ quân bị toàn diện và triệt để, đặc biệt đối với vũ khí hạt nhân dưới sự kiểm soát quốc tế chặt chẽ và có hiệu quả, việc khẳng định các nguyên tắc công bằng, bình đẳng và cùng có lợi trong quan hệ giữa các nước, việc thực hiện quyền tự quyết và độc lập của các dân tộc còn phải sống dưới ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân và dưới sự chiếm đóng của nước ngoài cũng như việc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, sẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội và sự phát triển và do đó sẽ đóng góp vào việc đạt được sự bình đẳng hoàn toàn giữa nam và nữ,

- Tin tưởng rằng, sự phát triển đầy đủ và toàn diện của một đất nước, sự giàu mạnh của một thế giới và sự nghiệp hoà bình đòi hỏi sự tham gia tối đa của phụ nữ trong mọi lĩnh vực một cách bình đẳng với nam giới,

- Ghi nhớ sự đóng góp rất lớn của phụ nữ vào phúc lợi của gia đình và sự phát triển của xã hội mà lâu nay chưa được công nhận đầy đủ, ý nghĩa xã hội của việc sinh đẻ, và vai trò của cả bố lẫn mẹ trong gia đình và trong việc nuôi dạy con cái, và nhận thức rằng vai trò của người phụ nữ trong việc sinh đẻ không thể được viện ra làm cơ sở cho việc phân biệt đối xử, và rằng việc nuôi dạy con cái đòi hỏi có sự chia sẻ trách nhiệm giữa cha, mẹ và xã hội nói chung,

- Nhận thức rằng, một sự thay đổi trong vai trò truyền thống của nam giới cũng như của phụ nữ trong xã hội và trong gia đình là cần thiết để đạt được sự bình đẳng đầy đủ giữa nam và nữ,

- Quyết tâm thực hiện các nguyên tắc đề ra trong Tuyên bố về thủ tiêu sự phân biệt đối xử đó dưới mọi hình thức biểu hiện,

Nhất trí như sau:

PHẦN I

Điều 1

Vì những mục tiêu của Công ước này, thuật ngữ “Phân biệt đối xử với phụ nữ” sẽ bao hàm bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hoá việc phụ nữ được công nhận, hưởng thụ, hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự và các lĩnh vực khác, bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào, và trên cơ sở bình đẳng giữa nam và nữ.

Điều 2

Các nước tham gia Công ước lên án sự phân biệt đối xử với phụ nữ thể hiện dưới mọi hình thức, đồng ý áp dụng mọi biện pháp thích hợp mà không chậm trễ thực hiện một chính sách loại trừ phân biệt đối xử với phụ nữ và nhằm mục đích đó cam kết:

a. Đưa nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ vào Hiến pháp nước họ hoặc vào các văn bản pháp lý thích hợp khác nếu chưa được đưa vào, và đảm bảo việc thực hiện các nguyên tắc này trong thực tế bằng pháp luật và các biện pháp thích hợp khác;

b. Thông qua biện pháp pháp luật và các biện pháp thích hợp khác kể cả việc trừng phạt trong những trường hợp cần thiết nhằm ngăn cấm mọi sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ;

c. Thiết lập sự bảo vệ về mặt luật pháp các quyền của phụ nữ trên cơ sở bình đẳng với nam giới và thông qua các toà án quốc gia có thẩm quyền và các cơ quan Nhà nước khác đảm bảo việc bảo vệ phụ nữ một cách có hiệu quả chống lại mọi hành động phân biệt đối xử;

d. Không tiến hành bất kỳ hành động hoặc hoạt động nào có tính chất phân biệt đối xử với phụ nữ và bảo đảm rằng các cấp chính quyền và cơ quan nhà nước sẽ hành động phù hợp với nghĩa vụ này;

e. Áp dụng mọi biện pháp thích hợp nhằm loại trừ sự phân biệt đối xử với phụ nữ do bất kỳ người nào, tổ chức hoặc xí nghiệp nào tiến hành;

f. Áp dụng mọi biện pháp thích hợp, kể cả những biện pháp pháp luật, nhằm sửa đổi hoặc xoá bỏ mọi điều khoản, qui định, tập quán và hoạt động mang tính chất phân biệt đối xử với phụ nữ;

g. Hủy bỏ mọi điều khoản hình sự mang tính chất phân biệt đối xử với phụ nữ.

Điều 3

Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp kể cả biện pháp pháp luật trên tất cả các lĩnh vực kể cả các lĩnh vực đặc biệt là chính trị, xã hội, kinh tế và văn hoá, để đảm bảo sự phát triển và tiến bộ đầy đủ của phụ nữ, bảo đảm cho họ có thể thực hiện và được hưởng các quyền con người và tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng với nam giới.

Điều 4

1. Việc các nước tham gia Công ước thông qua những biện pháp đặc biệt tạm thời nhằm thúc đẩy nhanh sự bình đẳng trong thực tế giữa nam và nữ sẽ không bị coi là phân biệt đối xử theo định nghĩa đề ra trong Công ước này, nhưng sẽ hoàn toàn không vì thế mà đưa đến việc duy trì những tiêu chuẩn không bình đẳng hoặc khác nhau. Những biện pháp này sẽ chấm dứt khi các mục tiêu bình đẳng về cơ hội và đối xử đã đạt được.

2. Việc các nước tham gia Công ước thông qua những biện pháp đặc biệt, kể cả các biện pháp nêu trong Công ước này, nhằm bảo vệ người mẹ sẽ không bị coi là phân biệt đối xử.

Điều 5

Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp nhằm:

a. Sửa đổi khuôn mẫu văn hoá, xã hội về hành vi của nam giới và nữ giới nhằm đạt được việc loại trừ các thành kiến và những phong tục tập quán dựa trên tư tưởng cho giới này là hơn, cho giới kia là kém, hoặc dựa trên những kiểu mẫu rập khuôn về vai trò của đàn ông và đàn bà;

b. Bảo đảm rằng giáo dục về gia đình bao gồm một sự hiểu biết thích đáng về tính chất xã hội của chức năng làm mẹ và công nhận trách nhiệm chung của cả vợ và chồng đối với việc nuôi dạy và sự phát triển của con cái với nhận thức rõ ràng lợi ích của con cái là điều cần đặt lên hàng đầu trong mọi trường hợp.

Điều 6

Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp kể cả biện pháp pháp luật để loại bỏ mọi hình thức buôn bán phụ nữ và bóc lột phụ nữ làm nghề mại dâm.

PHẦN II

Điều 7

Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong đời sống chính trị và công cộng của đất nước và đặc biệt là phải đảm bảo cho phụ nữ trên cơ sở bình đẳng với nam giới, được các quyền sau:

a. Tham gia bỏ phiếu trong mọi cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân và được quyền ứng cử vào tất cả các cơ quan dân cử;

b. Được tham gia xây dựng và thực hiện các chính sách của Chính phủ, tham gia các chức vụ nhà nước và thực hiện mọi chức năng công cộng ở mọi cấp của Chính phủ;

c. Tham gia các tổ chức và hiệp hội phi Chính phủ liên quan đến đời sống công cộng và chính trị của đất nước.

Điều 8

Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp nhằm đảm bảo cho phụ nữ trên cơ sở bình đẳng với nam giới và không có bất cứ sự phân biệt nào, có cơ hội đại diện Chính phủ của họ trên diễn đàn quốc tế và tham gia công việc của các tổ chức quốc tế.

Điều 9

1. Các nước tham gia Công ước phải cho phụ nữ được quyền bình đẳng với nam giới trong việc nhập, thay đổi hay giữ nguyên quốc tịch của mình. Các nước phải đặc biệt bảo đảm là việc kết hôn với người nước ngoài, hay sự thay đổi quốc tịch của người chồng trong thời gian hôn nhân sẽ không mặc nhiên làm thay đổi quốc tịch của người vợ, biến người vợ thành người không có quốc tịch hay ép buộc người vợ phải lấy quốc tịch của chồng.

2. Các nước tham gia Công ước phải cho phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trong vấn đề quốc tịch của con họ.

PHẦN III

Điều 10

Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để loại trừ sự phân biệt đối xử với phụ nữ nhằm bảo đảm cho họ được quyền bình đẳng với nam giới trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt nhằm bảo đảm trên cơ sở bình đẳng nam nữ:

a. Những điều kiện như nhau đối với nghề nghiệp và hướng nghiệp, tham gia học tập và đạt được bằng cấp ở các cơ sở giáo dục thuộc các loại hình khác nhau ở vùng nông thôn cũng như thành thị; sự bình đẳng này phải được đảm bảo trong các trường mẫu giáo, trường phổ thông, trường kỹ thuật kể cả trường kỹ thuật cao cấp, trường dạy nghề, cũng như tất cả các trường đào tạo nghiệp vụ;

b. Những chương trình giảng dạy và kiểm tra thi cử như nhau, các giáo viên đối với trình độ chuyên môn như nhau, cơ sở vật chất và trang thiết bị của trường học có chất lượng như nhau;

c. Loại bỏ mọi quan niệm rập khuôn về vai trò của nam giới và nữ giới ở mọi cấp và trong mọi hình thức giáo dục bằng cách khuyến khích việc học sinh nam và nữ cùng học trong một lớp và bằng các hình thức giáo dục khác có thể giúp để đạt được mục tiêu này, đặc biệt là bằng cách sửa lại các sách giáo khoa và chương trình giảng dạy và điều chỉnh một cách thích hợp các phương pháp giảng dạy;

d. Nam nữ được tạo những cơ hội như nhau để được hưởng học bổng và các trợ cấp học tập khác;

e. Phụ nữ được tạo những cơ hội như nam giới trong việc tham gia các chương trình bổ túc văn hoá, kể cả các chương trình bổ túc cho người lớn và dạy chữ, đặc biệt là những chương trình nhằm thu hẹp trong thời gian ngắn nhất mọi khoảng cách tồn tại giữa trình độ văn hoá của nam giới và nữ giới;

f. Giảm bớt tỷ lệ nữ sinh bỏ học và tổ chức các chương trình dành cho những phụ nữ đã phải rời trường sớm;

g. Nam nữ được tạo cơ hội như nhau để tham gia tích cực các hoạt động thể dục thể thao;

h. Phụ nữ được phổ biến những thông tin giáo dục cụ thể giúp cho việc đảm bảo sức khoẻ và hạnh phúc của các gia đình, kể cả thông tin và hướng dẫn về kế hoạch hoá gia đình.

 

Điều 11

1. Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm nhằm đảm bảo những quyền như nhau trên cơ sở bình đẳng nam nữ, đặc biệt là:

a. Quyền được làm việc, một quyền không thể chối bỏ của mọi con người;

b. Quyền hưởng các cơ hội có việc làm như nhau, kể cả việc áp dụng những tiêu chuẩn như nhau khi tuyển dụng lao động;

c. Quyền tự do lựa chọn ngành nghề và việc làm, quyền được thăng chức, bảo đảm việc làm, mọi phúc lợi và điều kiện làm việc và quyền được theo học những chương trình đào tạo và bổ túc nghiệp vụ kể cả các lớp dạy nghề, các lớp nghiệp vụ cao cấp, lớp đào tạo định kỳ;

d. Quyền được hưởng thù lao như nhau, kể cả các phúc lợi, và được đối xử như nhau khi làm những việc có giá trị ngang nhau, cũng như được đối xử như nhau trong việc đánh giá chất lượng công việc;

e. Quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, đặc biệt trong các trường hợp về hưu, thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, tuổi già và các tình trạng mất khả năng lao động khác, cũng như quyền được nghỉ phép có hưởng lương;

f. Quyền được bảo vệ sức khoẻ và bảo đảm an toàn lao động, kể cả bảo vệ chức năng sinh đẻ.

2. Nhằm ngăn chặn sự phân biệt đối xử với phụ nữ vì lý do hôn nhân hay sinh đẻ, để bảo đảm thực sự cho phụ nữ có quyền làm việc, các nước tham gia Công ước phải áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm:

a. Ngăn chặn và trừng phạt trong trường hợp xảy ra việc sa thải phụ nữ với lý do có thai hay nghỉ đẻ và sa thải phụ nữ vì lý do hôn nhân;

b. Áp dụng chế độ nghỉ đẻ vẫn hưởng lương hoặc được hưởng các phúc lợi xã hội tương đương mà không bị mất việc làm cũ, mất thâm niên, hay các phụ cấp xã hội;

c. Khuyến khích việc cung cấp những dịch vụ xã hội cần thiết hỗ trợ cho các bậc cha mẹ để họ có thể kết hợp các nghĩa vụ gia đình với trách nhiệm công tác và tham gia sinh hoạt xã hội, đặc biệt bằng cách đẩy mạnh việc thiết lập và phát triển hệ thống nhà trẻ và trường mẫu giáo.

3. Các quy định pháp lý về việc bảo vệ liên quan đến những vấn đề được đề cập trong điều này phải được xem xét lại theo định kỳ dưới ánh sáng của các kiến thức khoa học và kỹ thuật và phải được sửa đổi, huỷ bỏ hoặc mở rộng nếu cần thiết.

Điều 12

1. Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ nhằm đảm bảo cho họ, trên cơ sở bình đẳng nam nữ, được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, kể cả các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình.

2. Ngoài những quy định ghi trong phần 1 của điều khoản này, các nước tham gia Công ước phải đảm bảo cho phụ nữ các dịch vụ thích hợp liên quan đến việc thai nghén, sinh đẻ và thời gian sau khi đẻ, cung cấp các dịch vụ không phải trả tiền nếu cần thiết, đảm bảo cho phụ nữ sự dinh dưỡng thích hợp trong thời gian mang thai và cho con bú.

Điều 13

Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội, nhằm đảm bảo trên cơ sở bình đẳng nam nữ những quyền như nhau, đặc biệt là:

a. Quyền được hưởng các phúc lợi gia đình;

b. Quyền vay tiền của ngân hàng, cầm cố tài sản và tham gia các hình thức tín dụng khác;

c. Quyền được tham gia các hoạt động giải trí, thể thao và mọi mặt của đời sống văn hoá.

 

Điều 14

1. Các nước tham gia Công ước phải quan tâm đến các vấn đề đặc biệt đặt ra đối với phụ nữ nông thôn và vai trò quan trọng của phụ nữ nông thôn trong đời sống kinh tế của gia đình họ, kể cả công việc của họ trong khu vực kinh tế không tính thành tiền và phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để đảm bảo việc thực hiện các điều khoản của Công ước này đối với phụ nữ ở các vùng nông thôn.

2. Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ các vùng nông thôn, để đảm bảo, trên cơ sở bình đẳng nam nữ, việc họ tham gia phát triển nông thôn và được hưởng lợi do sự phát triển đó, đặc biệt các nước tham gia Công ước phải đảm bảo cho phụ nữ nông thôn các quyền:

a. Tham gia xây dựng và thực hiện các kế hoạch phát triển ở các cấp;

b. Được tiếp cận các tiện nghi chăm sóc sức khoẻ thích hợp kể cả thông tin, tư vấn và dịch vụ kế hoạch hoá gia đình;

c. Được hưởng trực tiếp các chương trình bảo hiểm xã hội;

d. Được hưởng các loại hình đào tạo và giáo dục, chính quy và không chính quy, kể cả dạy chữ và được hưởng mọi hình thức dịch vụ khuyến nông và dịch vụ chung trong cộng đồng, để nâng cao trình độ kỹ thuật của họ;

e. Tổ chức các nhóm tương trợ và hợp tác xã nhằm đạt được sự bình đẳng về cơ hội kinh tế qua các việc làm công ăn lương, hoặc việc làm độc lập;

f. Tham gia mọi hoạt động của cộng đồng;

g. Được tiếp cận các loại hình tín dụng và khoản vay dành cho nông nghiệp, các phương tiện thị trường, công nghệ phù hợp và được đối xử bình đẳng trong cải cách ruộng đất cũng như trong các dự án quy hoạch lại nông thôn;

h. Được hưởng các điều kiện sống đầy đủ, nhất là về vấn đề nhà ở, điều kiện vệ sinh, cung cấp điện nước, vận chuyển giao thông và thông tin.

PHẦN IV

Điều 15

1. Các nước tham gia Công ước phải bảo đảm cho phụ nữ các quyền bình đẳng với nam giới trước pháp luật.

2. Các nước tham gia Công ước phải dành cho phụ nữ, trong các vấn đề dân sự, một tư cách pháp nhân giống như nam giới và những cơ hội như nhau để thực hiện tư cách đó. Đặc biệt các nước phải cho phụ nữ quyền bình đẳng trong việc ký kết các hợp đồng và quản lý tài sản, và phải đối xử với họ một cách bình đẳng trong mọi giai đoạn tố tụng trước các toà án.

3. Các nước tham gia Công ước nhất trí rằng mọi hợp đồng và giao dịch tư nhân khác dù thuộc loại nào có hiệu lực pháp lý dẫn đến việc hạn chế tư cách pháp nhân của phụ nữ sẽ bị coi là vô giá trị và không có hiệu lực thi hành.

4. Các nước tham gia Công ước phải cho nam và nữ những quyền như nhau về mặt pháp luật liên quan đến việc đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú và chỗ ở của họ.

Điều 16

1. Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong tất cả các vấn đề liên quan đến hôn nhân và quan hệ gia đình và đặc biệt, phải bảo đảm trên cơ sở bình đẳng nam nữ:

a. Quyền của mọi người bước vào hôn nhân như nhau;

b. Quyền tự do như nhau được lựa chọn người để kết hôn và chỉ kết hôn khi mình được tự do quyết định và hoàn toàn tự nguyện;

c. Quyền và trách nhiệm như nhau giữa vợ và chồng trong thời gian hôn nhân cũng như khi hôn nhân bị thủ tiêu;

d. Quyền và trách nhiệm như nhau trong vai trò làm cha mẹ, bất kể tình trạng hôn nhân của họ ra sao, về các vấn đề liên quan đến con cái của họ. Trong mọi trường hợp lợi ích của con cái họ là điều quan trọng nhất;

e. Quyền như nhau đối với việc quyết định một cách tự do và có trách nhiệm về số con của mình và khoảng cách giữa các con, quyền được cung cấp thông tin, giáo dục và các phương tiện cho phép họ thực hiện các quyền ấy;

f. Quyền và trách nhiệm như nhau đối với việc trông nom, giám hộ, bảo trợ, nhận sự uỷ thác và nhận con nuôi, hoặc những luật lệ tương tự ở những nơi mà các khái niệm này có trong luật lệ quốc gia. Trong mọi trường hợp lợi ích của con cái phải là điều quan trọng nhất;

g. Quyền cá nhân như nhau đối với vợ cũng như đối với chồng bao gồm quyền được lựa chọn tên họ của mình, chọn nghề nghiệp, việc làm của bản thân mình;

h. Quyền như nhau của cả vợ và chồng đối với việc sở hữu, thu nhận, kiểm soát, quản lý, hưởng thụ và sử dụng tài sản, dù đó là tài sản không phải trả tiền, hay đó là tài sản có giá trị lớn.

2. Việc hứa hôn và kết hôn của trẻ em phải bị coi là không có hiệu lực pháp lý và mọi hành động cần thiết, kể cả xây dựng luật lệ phải được tiến hành nhằm quy định tuổi tối thiểu có thể kết hôn và nhằm bắt buộc phải đăng ký kết hôn trong hồ sơ chính thức của Nhà nước.

PHẦN V

Điều 17

1. Để xem xét những tiến bộ trong việc thực hiện Công ước này, Uỷ ban về xoá bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ (dưới đây gọi tắt là Uỷ ban) phải được thành lập, gồm những chuyên gia có uy tín, đạo đức và thông thạo về lĩnh vực mà Công ước đề cập đến. Uỷ ban gồm 18 uỷ viên, khi Công ước bắt đầu có hiệu lực, và sau khi quốc gia thứ 35 phê chuẩn hoặc tham gia Công ước, số uỷ viên của Uỷ ban sẽ tăng lên 23. Các chuyên gia tham gia Uỷ ban sẽ do các quốc gia lựa chọn trong số các công dân của nước mình và các chuyên gia này đảm đương chức vụ với danh nghĩa cá nhân. Cần chú ý đến sự phân bố cân bằng về địa lý và đảm bảo có đại diện của nhiều hình thái văn minh cũng như của hệ thống pháp lý chủ yếu.

2. Các uỷ viên của Uỷ ban được bầu bằng phiếu kín. Các ứng cử viên do các quốc gia tham gia Công ước chỉ định. Mỗi quốc gia tham gia Công ước có quyền chỉ định 1 ứng cử viên trong số các công dân của nước mình.

3. Lần bầu cử đầu tiên sẽ được tiến hành 6 tháng sau khi Công ước này bắt đầu có hiệu lực. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc phải gửi thư cho các quốc gia tham gia Công ước trước mỗi lần bầu cử ít nhất là 3 tháng, đề nghị họ trong vòng hai tháng phải giới thiệu ứng cử viên. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ chuẩn bị một danh sách các ứng cử viên do các quốc gia giới thiệu theo thứ tự chữ cái, có ghi rõ quốc gia nào chỉ định, và danh sách này được gửi cho các quốc gia tham gia Công ước.

4. Các uỷ viên của Uỷ ban sẽ được bầu trong một cuộc họp các quốc gia tham gia Công ước do Tổng thư ký triệu tập tại trụ sở của Liên Hợp Quốc. Cuộc họp này phải có ít nhất 2/3 tổng số các nước tham gia Công ước có mặt thì mới có quyền quyết định. Các ứng cử viên được nhiều phiếu nhất và được đa số tuyệt đối phiếu bầu của các nước tham gia bầu cử sẽ trúng cử vào Uỷ ban.

5. Nhiệm kỳ của các uỷ viên của Uỷ ban là 4 năm. Tuy nhiên nhiệm kỳ của 9 trong số các uỷ viên trúng cử trong lần bầu đầu tiên sẽ kết thúc sau 2 năm. Ngay sau khi bầu cử lần đầu, Chủ tịch Uỷ ban sẽ rút thăm tên 9 uỷ viên này.

6. Năm uỷ viên bổ sung sẽ được bầu theo quy định ở phần 2, 3 và 4 của Điều 17, sau khi quốc gia thứ 35 đã phê chuẩn hoặc tham gia Công ước. Nhiệm kỳ của 2 trong số 5 uỷ viên được bầu bổ sung là 2 năm. Chủ tịch Uỷ ban sẽ rút thăm tên 2 uỷ viên này.

7. Trong trường hợp đột xuất, khi một quốc gia tham gia Công ước có uỷ viên thôi không làm chức năng uỷ viên của Uỷ ban nữa, quốc gia này chỉ cần chỉ định người thay trong số các công dân của mình, với điều kiện được Uỷ ban thông qua.

8. Liên Hợp Quốc sẽ trích quỹ để trả thù lao cho các uỷ viên của Uỷ ban với điều kiện được Đại Hội Đồng thông qua. Hình thức và điều kiện trả thù lao do Đại Hội Đồng quy định căn cứ vào mức độ quan trọng của các trách nhiệm trong Uỷ ban.

9. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ cung cấp số nhân viên và phương tiện cần thiết để Uỷ ban có thể hoàn thành một cách hữu hiệu các chức năng của mình theo quy định của Công ước này.

Điều 18

1. Các quốc gia tham gia Công ước cam kết sẽ gửi cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, để Uỷ ban xem xét, bản báo cáo về các biện pháp luật pháp, tư pháp, hành chính hoặc các biện pháp khác mà quốc gia đã tiến hành nhằm thực hiện các điều khoản của Công ước này và thông báo về những tiến bộ đạt được về vấn đề này:

a. Trong thời gian 1 năm kể từ khi Công ước có hiệu lực đối với các quốc gia nói trên;

b. Sau đó ít nhất 4 năm một lần, và ngoài ra mỗi khi Uỷ ban yêu cầu.

2. Các báo cáo trên có thể nêu rõ những yếu tố và những khó khăn làm ảnh hưởng đến mức độ hoàn thành những nghĩa vụ do Công ước đặt ra.

Điều 19

Quy chế của Uỷ ban do chính Uỷ ban thông qua.

2. Uỷ ban sẽ bầu ra các quan chức của mình làm việc trong nhiệm kỳ 2 năm.

Điều 20

1. Uỷ ban họp thường kỳ mỗi năm một lần trong thời gian không quá 2 tuần để xem xét các báo cáo do các quốc gia tham gia Công ước gửi đến theo Điều 18 của Công ước này.

2. Các cuộc họp của Uỷ ban thông thường được tổ chức ở trụ sở của Liên Hợp Quốc, hoặc ở bất kỳ địa điểm thuận tiện nào do Uỷ ban quyết định.

Điều 21

1. Hàng năm, qua Hội đồng kinh tế và xã hội, Uỷ ban sẽ báo cáo về các hoạt động của mình với Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc, và có thể nêu những gợi ý hoặc kiến nghị có tính chất tổng quát trên cơ sở xem xét các báo cáo và thông tin nhận được từ các nước tham gia Công ước. Những gợi ý và kiến nghị ấy cần được nêu kèm theo báo cáo của Uỷ ban, cùng với ý kiến (nếu có) của các quốc gia tham gia Công ước.

2. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ chuyển các báo cáo của Uỷ ban cho Uỷ ban về địa vị của phụ nữ để nghiên cứu.

Điều 22

Các cơ quan chuyên môn có quyền được cử đại diện tham gia xem xét việc thực hiện những điều khoản liên quan đến hoạt động của mình trong Công ước này. Uỷ ban có thể mời các cơ quan chuyên môn trình bày báo cáo về việc thực hiện Công ước trong lĩnh vực liên quan đến phạm vi hoạt động của những cơ quan này.

PHẦN VI

Điều 23

Những điểm đã trình bày trong Công ước này không ảnh hưởng đến bất kỳ quy định nào có lợi hơn cho việc thực hiện bình đẳng nam nữ có thể có trong:

a. Luật pháp của mỗi quốc gia tham gia Công ước hoặc

b. Trong bất kỳ Công ước quốc tế, hiệp ước hoặc thoả thuận nào khác đang có hiệu lực ở nước đó.

Điều 24

Các quốc gia tham gia Công ước cam kết sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết ở tầm quốc gia nhằm thực hiện đầy đủ các quyền đã được công nhận trong Công ước này.

Điều 25

1. Tất cả các quốc gia đều có thể ký Công ước này.

2. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc được giao nhiệm vụ giữ bản Công ước này.

3. Công ước này phải được các quốc gia phê chuẩn. Các văn bản phê chuẩn phải được gửi cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.

4. Tất cả các quốc gia đều có thể tham gia Công ước này. Việc gia nhập sẽ có hiệu lực khi văn bản gia nhập Công ước được Tổng thư ký Liên Hợp Quốc lưu chiểu.

Điều 26

1. Bất kỳ lúc nào các quốc gia tham gia Công ước đều có thể đề nghị xét lại Công ước này bằng văn bản gửi cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.

2. Nếu cần Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc sẽ quyết định các biện pháp phải tiến hành trong trường hợp có đề nghị như trên.

Điều 27

1. Công ước này sẽ có hiệu lực kể từ ngày thứ 30 sau khi văn bản phê chuẩn hoặc xin tham gia Công ước của quốc gia thứ 20 được giao cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.

2. Đối với mỗi quốc gia phê chuẩn hoặc tham gia Công ước, sau khi văn bản phê chuẩn hoặc xin tham gia Công ước của quốc gia thứ 20 đã được giao cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc thì Công ước sẽ có hiệu lực từ ngày thứ 30 sau khi quốc gia nói trên giao văn bản phê chuẩn hoặc xin tham gia.

Điều 28

1. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ tiếp nhận văn bản về các ý kiến bảo lưu do các quốc gia đưa ra khi phê chuẩn hoặc xin tham gia Công ước và thông báo cho tất cả các quốc gia biết.

2. Ý kiến bảo lưu không phù hợp với mục đích của Công ước này sẽ không được chấp nhận.

3. Có thể xin rút lui ý kiến bảo lưu bất kỳ lúc nào bằng thông báo gửi cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ thông báo cho tất cả các quốc gia biết. Thông báo xin rút lui ý kiến bảo lưu sẽ có giá trị từ ngày nhận được.

Điều 29

1. Mọi tranh luận giữa hai hoặc nhiều quốc gia tham gia Công ước xung quanh việc giải thích hoặc thực hiện Công ước này, nếu không giải quyết được bằng thương lượng thì một trong số các quốc gia tranh chấp có thể yêu cầu đưa ra trọng tài quốc tế. Nếu trong vòng 6 tháng kể từ khi yêu cầu phân giải được đưa ra mà các bên vẫn không đi đến thống nhất được về cách phân giải của trọng tài thì một bên bất kỳ có thể đệ trình vấn đề tranh chấp với Toà án quốc tế bằng cách đệ đơn theo đúng quy chế của Toà án.

2. Mọi quốc gia có thể vào thời điểm ký hoặc phê chuẩn Công ước hoặc khi tham gia Công ước có thể tuyên bố không bị mục 1 Điều 29 của Công ước này ràng buộc. Các quốc gia khác tham gia Công ước sẽ không bị ràng buộc gì về phần này trong quan hệ với quốc gia đã tuyên bố như trên.

3. Bất kỳ quốc gia nào đã nêu ý kiến bảo lưu như trong phần 2 của điều khoản này đều có thể rút lui ý kiến bất kỳ lúc nào bằng cách thông báo cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.

Điều 30

Công ước này được uỷ thác cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc. Các bản tiếng A-Rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha của Công ước này đều có giá trị như nhau.

 

QUYẾT ĐỊNH SỐ 19/2002/QĐ-TTG

NGÀY 21/01/2002 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÊ DUYỆT

(Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010)

 

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Xét đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, với những nội dung chủ yếu sau đây:

1. Mục tiêu của Chiến lược.

a) Mục tiêu tổng quát:

Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ. Tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.

b) Các mục tiêu cụ thể:

- Mục tiêu 1: Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động, việc làm.

+ Chỉ tiêu 1: Hàng năm trong tổng số việc làm mới, tỷ lệ lao động nữ tăng dần để đạt 40% vào năm 2005 và 50% vào năm 2010.

+ Chỉ tiêu 2: Tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nữ ở khu vực nông thôn lên 75% vào năm 2005 và lên 80% vào năm 2010.

+ Chỉ tiêu 3: Giảm tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ ở khu vực thành thị xuống còn khoảng 5 – 6% vào năm 2005 và xuống dưới 5% vào năm 2010.

+ Chỉ tiêu 4: Đạt tỷ lệ 80% số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ được vay vốn từ chương trình xoá đói, giảm nghèo và 50% phụ nữ trong tổng số người được vay vốn tín dụng vào năm 2005.

- Mục tiêu 2: Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực giáo dục.

+ Chỉ tiêu 1: Phấn đấu xoá mù chữ cho 95% số phụ nữ bị mù chữ ở độ tuổi dưới 40 tuổi vào năm 2005 và 100% vào năm 2010.

+ Chỉ tiêu 2: Phấn đấu tăng tỷ lệ nữ lên trên 30% tổng số người được đào tạo trên đại học vào năm 2005 và lên trên 35% vào năm 2010.

+ Chỉ tiêu 3: Tăng tỷ lệ lao động nữ được đào tạo lên 30% vào năm 2005 (trong đó đào tạo nghề là 20%) và lên 40% vào năm 2010 (trong đó đào tạo nghệ là 26%).

+ Chỉ tiêu 4: Đạt tỷ lệ nữ cán bộ, công chức được bồi dưỡng về chính trị, hành chính, tin học và ngoại ngữ từ 30% trở lên vào năm 2005; đạt tỷ lệ nữ tham gia các khoá bồi dưỡng, huấn luyện, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ở trong và ngoài nước tương đương tỷ lệ nữ tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ trong các lĩnh vực tương ứng vào năm 2010.

- Mục tiêu 3: Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ.

+ Chỉ tiêu 1: Tăng tuổi thọ trung bình của phụ nữ lên 71 tuổi vào năm 2005 và lên 73 tuổi vào năm 2010.

+ Chỉ tiêu 2: Tăng tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thai đủ ba lần lên 55% vào năm 2005 và lên 60% vào năm 2010.

+ Chỉ tiêu 3: Giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản xuống 80/100.000 vào năm 2005 và xuống còn 70/100.000 vào năm 2010.

+ Chỉ tiêu 4: Tăng tỷ lệ nữ được tiếp cận với dịch vụ y tế lên 90% vào năm 2005 và lên 95% vào năm 2010.

+ Chỉ tiêu 5: Tất cả các trạm y tế có nữ hộ sinh, trong đó tỷ lệ nữ hộ sinh trung học đạt 50% vào năm 2005 và 80% vào năm 2010.

- Mục tiêu 4: Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội để tăng số phụ nữ được giới thiệu và bầu tham gia lãnh đạo các cấp, các ngành.

+ Chỉ tiêu 1: Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng thuộc nhiệm kỳ Đại hội Đảng X từ 15% trở lên.

+ Chỉ tiêu 2: Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ Đại biểu Quốc hội khoá XI là 30% và Khoá XII từ 33% trở lên.

+ Chỉ tiêu 3: Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2004 – 2009 là 28% và nhiệm kỳ tiếp theo là 30%; cấp quận, huyện nhiệm kỳ 2004 – 2009 là 23% và nhiệm kỳ tiếp theo là 25%; cấp xã, phường nhiệm kỳ 2004 – 2009 là 18% và nhiệm kỳ tiếp theo là 20%.

+ Chỉ tiêu 4: Phấn đấu đạt tỷ lệ 50% cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương và địa phương có nữ tham gia ban lãnh đạo vào năm 2010.

+ Chỉ tiêu 5: Tất cả các tổ chức giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội và doanh nghiệp với 30% lực lượng lao động nữ trở lên, phấn đấu có nữ tham gia ban lãnh đạo vào năm 2005.

- Mục tiêu 5: Tăng cường năng lực hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.

+ Chỉ tiêu 1: Đạt tỷ lệ 100% cán bộ hoạt động trong lĩnh vực vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp, các ngành được huấn luyện về kỹ năng hoạt động vào năm 2005.

+ Chỉ tiêu 2: Đạt tỷ lệ 100% lãnh đạo các bộ, ban, ngành và đoàn thể ở Trung ương được nâng cao nhận thức về bình đẳng giới vào năm 2005.

2. Các giải pháp chủ yếu.

a) Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và sự chỉ đạo của chính quyền các cấp đối với sự nghiệp vì sự tiến bộ của phụ nữ, bình đẳng giới, đặc biệt tại vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khó khăn.

b) Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, trong đó có chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ; ban hành chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ, giáo dục cho trẻ em gái và phụ nữ các gia đình nghèo, đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo và ở địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khó khăn. Nâng cao hiệu lực quản lý và hiệu quả thực hiện các quyền bình đẳng giới của các cơ quan nhà nước có liên quan.

c) Thực hiện lồng ghép có hiệu quả nội dung bình đẳng giới vào nội dung kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hàng năm và 5 năm của cả nước và của từng bộ, ngành, địa phương.

Gắn việc triển khai thực hiện Chiến lược này với việc triển khai các chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia khác có liên quan, các cam kết khu vực và quốc tế của Việt Nam về sự bình đẳng giới với việc triển khai thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) để đạt được mục tiêu bình đẳng giới.

d) Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục và vận động xã hội với nội dung và hình thức phù hợp với từng khu vực, từng vùng và từng nhóm đối tượng nhằm góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, gia đình và mọi công dân trong công tác bình đẳng giới.

đ) Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước, giữa cơ quan nhà nước với tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức xã hội khác ở Trung ương và địa phương trong việc tổ chức triển khai, kiểm tra, đôn đốc, đánh giá tình hình thực hiện các quyền cơ bản của phụ nữ và các mục tiêu của Chiến lược.

e) Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm học tập, chia sẻ kinh nghiệm và vận động nguồn lực hỗ trợ thực hiện Chiến lược.

g) Nâng cao năng lực thu nhập, phân tích, xử lý và cung cấp thông tin, dữ liệu về bình đẳng giới đáp ứng được yêu cầu đánh giá kết quả thực hiện quyền bình đẳng giới và các mục tiêu của Chiến lược.

h) Phát triển phong trào phụ nữ và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội phụ nữ các cấp.

i) Kinh phí thực hiện Chiến lược được bố trí thông qua các chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia có liên quan và được bố trí trong dự toán chi ngân sách hàng năm của các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương. Ngoài nguồn ngân sách nhà nước, các bộ, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương chủ động tạo mọi điều kiện nhằm huy động sự tài trợ của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.

Điều 2. Tổ chức thực hiện

Để tổ chức thực hiện tốt các mục tiêu của Chiến lược, phân công trách nhiệm đối với các bộ, ngành và địa phương như sau:

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

a) Chủ trì, phối hợp với Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, các bộ: Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tư pháp, Tài chính, Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ, các cơ quan khác có liên quan và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức triển khai thực hiện Chiến lược.

b) Chủ trì, phối hợp với Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, các bộ, ngành có liên quan và các địa phương bố trí mục tiêu về bình đẳng giới trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cấp quốc gia hàng năm và 5 năm của các bộ, ngành và các địa phương; hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá và tổng hợp tình hình thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của Chiến lược báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo định kỳ hàng năm; tổ chức sơ kết vào năm 2005 và tổng kết vào năm 2010 về tình hình thực hiện chiến lược.

2. Các bộ: Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động – Thương binh và Xã hội, Tư pháp, Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ và các cơ quan khác có liên quan, căn cứ vào Chiến lược này, xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch hoạt động hàng năm và 5 năm nhằm thực hiện các mục tiêu của Chiến lược, gửi kế hoạch về Bộ Kế hoạch và Đầu tư; đưa các mục tiêu về bình đẳng giới vào kế hoạch dài hạn và ngắn hạn của bộ, ngành mình; lồng ghép các hoạt động của chiến lược này với hoạt động của các Chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình khác có liên quan theo hướng dành ưu tiên đầu tư cho trẻ em gái và phụ nữ thuộc dân tộc thiểu số, các gia đình nghèo, bị nhiễm HIV/AIDS; Hàng năm, báo cáo định kỳ gửi Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chủ tịch Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam.

3. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, các bộ, ngành khác có liên quan và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch tài chính hàng năm để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược; hướng dẫn các bộ, ngành có liên quan và các địa phương sử dụng các nguồn kinh phí để thực hiện Chiến lược.

4. Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan tuyên truyền, vận động các tổ chức Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ nước ngoài và các tổ chức của Liên hợp quốc để hỗ trợ nguồn lực cho việc thực hiện Chiến lược.

5. Tổng cục Thống kê chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan định kỳ hàng năm và 5 năm thực hiện việc đánh giá phân tích tình hình thực hiện các mục tiêu của Chiến lược gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam để tổng hợp và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

6. Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam làm đầu mối trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về vấn đề bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ; phối hợp với các cơ quan có liên quan đề xuất trình Thủ tướng Chính phủ về xây dựng pháp luật, chính sách của nhà nước có liên quan đến sự bình đẳng giới; theo dõi, đôn đốc và kiểm tra tình hình thực hiện pháp luật, chính sách của nhà nước đối với phụ nữ; tuyên truyền, phổ biến và vận động thực hiện luật pháp, chính sách của nhà nước đối với phụ nữ và Công ước CEDAW.

7. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào Chiến lược này, bố trí các mục tiêu về bình đẳng giới trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch hoạt động hàng năm và 5 năm nhằm thực hiện các mục tiêu của Chiến lược; lồng ghép các hoạt động của Chiến lược này với hoạt động của các chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội khác có liên quan trên cùng một địa bàn; hàng năm, báo cáo định kỳ gửi Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Chủ tịch Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam.

8. Đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận và các tổ chức xã hội tham gia tổ chức triển khai thực hiện Chiến lược trong phạm vi hoạt động của mình.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký.

Điều 4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Chủ tịch Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Phó Thủ tướng

PHẠM GIA KHIÊM

 

 

 

MỤC LỤC

Chú dẫn của Nhà xuất bản

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ

câu hỏi 1: Khái niệm bình đẳng giới? Vấn đề bình đẳng của phụ nữ được quy định trong những văn bản pháp luật nào?

Câu hỏi 2: Công ước CEDAW là gì? Vì sao cần có Công ước này?

câu hỏi 3: Thế nào là phân biệt đối xử đối với phụ nữ? Theo Công ước CEDAW, các nước tham gia phải thực hiện các biện pháp gì để loại trừ mọi sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ?

câu hỏi 4: Những đảm bảo cơ bản về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, giáo dục, lao động, hôn nhân và gia đình, chăm sóc sức khoẻ, giao dịch dân sự theo Công ước và Hiến pháp Việt Nam được quy định như thế nào?

II- PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

câu hỏi 5: Pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định chế độ hôn nhân và gia đình phải tuân theo những nguyên tắc gì và được pháp luật bảo vệ như thế nào?

câu hỏi 6: Tôi mới tròn 17 tuổi được 5 ngày, hiện đang ở nhà phụ giúp mẹ bán hàng. Bố mẹ tôi ép tôi phải kết hôn với anh K – là con của bạn bố mẹ tôi. Xin hỏi, theo quy định của pháp luật thì tôi đã đủ tuổi kết hôn chưa, việc kết hôn phải tuân theo các điều kiện nào?

câu hỏi 7: Chúng tôi đều là công dân Việt Nam. Xin hỏi, chúng tôi phải đến cơ quan nào để đăng ký kết hôn và thủ tục đăng ký kết hôn được quy định như thế nào?

câu hỏi 8: Tôi là công dân Việt Nam sắp kết hôn với một đồng nghiệp người Thụy Điển. Hiện chúng tôi đang sống và làm việc tại Việt Nam. Tôi muốn biết quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và thẩm quyền đăng ký việc kết hôn có yếu tố nước ngoài để vận dụng trong trường hợp của mình?

câu hỏi 9: Pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định các trường hợp từ chối việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài như thế nào?

câu hỏi 10: Tôi là công dân Việt Nam kết hôn với một người Hàn Quốc. Chúng tôi đã nộp đủ hồ sơ xin đăng ký kết hôn đến Sở Tư pháp thành phố H – nơi thường trú của tôi nhưng đã gần 2 tháng mà chúng tôi vẫn chưa nhận được Giấy chứng nhận kết hôn. Tôi muốn biết trình tự giải quyết việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam được quy định như thế nào? Thời hạn là bao lâu?

Câu hỏi 11: Pháp luật nước ta qui định công nhận việc kết hôn, ly hôn đã được tiến hành ở nước ngoài như thế nào?

Câu hỏi 12: Vợ chồng chị gái tôi lấy nhau từ trước năm 1987 nhưng chưa đăng ký kết hôn, nay anh chị tôi muốn đăng ký kết hôn có được không? Pháp luật qui định về vấn đề này như thế nào?

câu hỏi 13: Pháp luật quy định giải quyết việc đăng ký kết hôn đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà chưa đăng ký kết hôn như thế nào?

Câu hỏi 14: Tài sản chung của vợ chồng là gì? Pháp luật quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như thế nào?

Câu hỏi 15: Tài sản riêng của vợ chồng là gì? Pháp luật quy định quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng như thế nào?

câu hỏi 16: Pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam quy định như thế nào về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, con? Cách xác định con chung của vợ, chồng?

câu hỏi 17: Vợ chồng chị C lấy nhau đã hơn 10 năm và có 2 con chung. Gần đây, do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, anh H chồng chị quy���t định lên biên giới làm ăn buôn bán. Tại đây, anh H đã gặp và chung sống như vợ chồng với một cô bạn hàng. Khi trở về quê, bỏ ngoài tai mọi khuyên bảo của gia đình, anh H quyết tâm ly dị vợ. Sau nhiều lần hoà giải không thành, Toà án quyết định cho vợ chồng anh H ly dị, chị C nuôi các con, anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng với mức cấp dưỡng 200.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, anh H đã không đồng ý với phán quyết của Toà án vì cho rằng việc cấp dưỡng cho các con là hoàn toàn tự nguyện, không được ép buộc. Việc làm của anh H là đúng hay sai? Pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam quy định vấn đề này như thế nào?

câu hỏi 18: Bà M 55 tuổi sống độc thân nên muốn nhận cháu T 11 tuổi làm con nuôi để có chỗ dựa khi về già, nhưng bà vẫn phân vân do chưa biết việc pháp luật quy định như thế nào về điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi, người được nhận làm con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi?

câu hỏi 19: Anh T và chị C lấy nhau đã 12 năm nhưng không có con, họ đã đi đến quyết định xin nhận cháu D 13 tuổi con một người hàng xóm đông con làm con nuôi. Được vài năm, do điều kiện kinh tế của hai vợ chồng gặp nhiều khó khăn nên anh chị quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi với cháu D và trả lại quyền nuôi dưỡng cho cha mẹ đẻ của cháu. Vậy hậu quả pháp lý của việc chấm dứt việc nuôi con nuôi sẽ được giải quyết như thế nào?

câu hỏi 20: Tôi có người bà con sinh sống ở nước ngoài, vì không có con nên muốn về Việt Nam xin nhận con nuôi. Đề nghị cho chúng tôi biết cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết đăng ký nhận nuôi con nuôi trong trường hợp này?

câu hỏi 21: Pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định căn cứ ly hôn và nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn như thế nào?

câu hỏi 22: Chị Q kết hôn với anh H đã gần 10 năm, sống chung với gia đình chồng. Trong thời gian chung sống, anh chị đã cùng quản lý, điều hành cửa hàng kinh doanh của gia đình thay cho cha mẹ chồng. Nhờ sự nhanh nhẹn, tháo vát của chị mà công việc kinh doanh khá phát đạt, anh chị đã xây dựng được ngôi nhà mới khang trang, mua sắm nhiều vật dụng, tiện nghi đắt tiền. Gần đây do việc làm ăn thua lỗ, giữa hai vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng gay gắt nên anh chị quyết định ly hôn. Tuy nhiên chị còn băn khoăn vì chưa biết Toà án sẽ giải quyết phần tài sản như thế nào vì bố mẹ chồng chị cho rằng khi lấy anh chị không có bất kỳ tài sản nào thì khi ly hôn cũng không được mang theo bất kỳ tài sản nào. Pháp luật hôn nhân và gia đình của nước ta quy định về vấn đề này như thế nào?

câu hỏi 23: Do mâu thuẫn gia đình kéo dài không hàn gắn được nên vợ chồng anh T chuẩn bị ra Toà để giải quyết việc ly hôn. Hai bên đã thoả thuận mỗi người nuôi một đứa con. Còn căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất và toàn bộ diện tích đất vườn là công sức tạo lập của cả hai người trong quá trình chung sống thì cả hai chưa thoả thuận được. Đề nghị cho biết pháp luật quy định như thế nào về việc chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn?

câu hỏi 24: Chúng tôi được biết quyền tự do kết hôn của nam nữ các dân tộc thiểu số được Nhà nước đảm bảo. Đề nghị cho chúng tôi rõ hơn về nội dung của quyền này? Việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình đối với công dân các dân tộc thiểu số được quy định như thế nào?

Câu hỏi 25: Chúng tôi sinh sống ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, gần đây được tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ “Phụ nữ và pháp luật” của xã. Trong các buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ, có một nội dung mà chúng tôi quan tâm đó là việc Nhà nước khuyến khích phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp cũng như nghiêm cấm áp dụng hoặc cần vận động xoá bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình. Đề nghị cho chúng tôi biết nội dung này được Nhà nước quy định ở đâu, cụ thể như thế nào?

III- PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỐ

Câu hỏi 26: Cơ quan, tổ chức, cá nhân và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm gì trong việc thực hiện chính sách dân số? Điều 10 Pháp lệnh Dân số quy định "mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con của cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng" có mâu thuẫn với Điều 4 của Pháp lệnh Dân số và Điều 6 của Nghị định số 104/2003/NĐ-CP quy định về nghĩa vụ của các cặp vợ chồng và cá nhân "phải thực hiện kế hoạch hoá gia đình, xây dựng quy mô gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững'' không?

câu hỏi 27: Các hành vi nào bị nghiêm cấm trong lĩnh vực dân số? Hành vi viết, xuất bản các tài liệu sách, báo phổ biến về phương pháp tạo giới tính thai nhi có vi phạm quy định của Pháp lệnh Dân số không?

Câu hỏi 28: Mục tiêu của kế hoạch hoá gia đình là gì? Biện pháp thực hiện kế hoạch hoá gia đình?

câu hỏi 29: Mục tiêu chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình cần đạt được là gì? Biện pháp chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình được quy định trong pháp luật về dân số nước ta như thế nào?

Câu hỏi 30: Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền và nghĩa vụ gì trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình?

câu hỏi 31: Hiện nay có nhiều cơ sở cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình. Vậy Nhà nước có quy định như thế nào về điều kiện đối với người sử dụng biện pháp tránh thai và điều kiện đối với người và cơ sở cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình?

Câu hỏi 32: Nhà nước ta có những biện pháp nào để nâng cao chất lượng dân số?

Câu hỏi 33: Chị H và anh K chuẩn bị kết hôn, trong gia đình anh K có một người em bị di chứng chất độc màu da cam do bố anh K có thời gian đi chiến trường, vì thế hai người rất băn khoăn sợ sẽ bị ảnh hưởng tới việc sinh con sau này. Xin hỏi Nhà nước ta có những biện pháp gì hỗ trợ việc sinh sản?

Câu hỏi 34: Nhà nước ta có những chính sách và biện pháp gì để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững?

Câu hỏi 35: Xin cho biết pháp luật dân số quy định về quyền bình đẳng giới như thế nào?

Câu hỏi 36: Chúng tôi chuẩn bị kết hôn, người yêu tôi bị bệnh tim, vì thế nhiều người khuyên chúng tôi nên kiểm tra sức khỏe trước khi kết hôn. Xin hỏi, pháp luật nước ta có quy định về việc kiểm tra sức khỏe trước khi kết hôn không? Kiểm tra sức khỏe trước khi kết hôn gồm các nội dung gì?

câu hỏi 37: Chúng tôi sinh sống ở vùng dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế - xã hội và đời sống sinh hoạt hàng ngày rất khó khăn. Được biết Đảng và Nhà nước đã dành nhiều sự quan tâm đầu tư, ưu đãi về kinh tế, văn hoá, xã hội cho đồng bào dân tộc, trong đó có chính sách về bảo vệ các dân tộc thiểu số trong lĩnh vực dân số. Đề nghị cho chúng tôi biết cụ thể nội dung này?

V- PHÁP LUẬT VÈ BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM

Câu hỏi 38: Trẻ em Việt Nam có những quyền cơ bản gì?

câu hỏi 39: Theo quy định của pháp luật, trẻ em Việt Nam có những bổn phận gì? Những việc nào trẻ em không được làm?

Câu hỏi 40: Để toàn xã hội cùng có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, pháp luật quy định những hành vi nào bị nghiêm cấm?

Câu hỏi 41: Pháp luật quy định như thế nào về trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em?

Câu hỏi 42: Xin cho biết thế nào là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt? Nhà nước ta thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh này như thế nào?

Câu hỏi 43: Nhà nước có những chính sách và hình thức trợ giúp gì đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt?

V- PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ

câu hỏi 44: Thời gian qua, tôi được nghe các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền về đảm bảo quyền làm việc, được đào tạo nghề của phụ nữ khi lao động. Vậy tôi xin hỏi, các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm gì trong việc bảo đảm quyền làm việc và được đào tạo nghề cho lao động nữ?

câu hỏi 45: Pháp luật quy định như thế nào về sự bình đẳng và ưu tiên về việc làm cho lao động nữ ?

Câu hỏi 46: Tuần trước Công ty trách nhiệm hữu hạn X đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chị Nguyễn Thị H vì chị đang mang thai chuẩn bị nghỉ thai sản, sẽ không thể đảm đương được công việc theo yêu cầu của công ty. Công ty X muốn tuyển người khác vào làm thay chị H, biết chuyện nhiều công nhân trong công ty đã phản đối việc làm này của lãnh đạo Công ty. Đề nghị cho chúng tôi biết việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chị H của Công ty X có đúng không? Pháp luật lao động của nước ta quy định về vấn đề này như thế nào?

Câu hỏi 47: Đề nghị cho biết quyền lợi và chế độ của lao động nữ khi nghỉ thai sản?

câu hỏi 48: Xin cho biết quy định của pháp luật đối với người sử dụng lao động nữ làm các công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm và cách tính thời giờ làm việc đối với lao động nữ khi làm những công việc này?

câu hỏi 49: Chị Q là công nhân bao bì xuất khẩu đang nuôi con 08 tháng tuổi. Do xí nghiệp gần nhà nên hàng ngày chị xin Giám đốc xí nghiệp cho nghỉ tranh thủ  từ 15 - 20 phút giữa giờ để về cho con bú. Giám đốc xí nghiệp không đồng ý và nói rằng: Trong giờ làm việc không ai được phép về nhà dù là cho con bú. Nếu nghỉ thì phải trừ lương.

Hỏi Giám đốc xí nghiệp đúng hay sai? Chị Q có được nghỉ cho con bú không?

câu hỏi 50: Chị B là công nhân làm việc ở công ty xây dựng của nhà nước. Chị có thai lần đầu nên không được khỏe và thai cũng yếu. Đi khám thai thì được bác sỹ bệnh viện tỉnh yêu cầu cứ 2 tuần phải đến khám một lần. Chị đã trực tiếp báo cáo việc này với lãnh đạo xí nghiệp và xuất trình cả giấy yêu cầu của bác sỹ. Đến lần xin đi khám thứ tư thì lãnh đạo công ty không đồng ý vì cho rằng đã bước vào thời vụ xây dựng, cần tập trung lao động, không ai được nghỉ. Chị rất lo lắng nhưng không dám phản đối vì không biết ý kiến của lãnh đạo công ty đúng hay sai ?

câu hỏi 51: Xin cho biết trong thời gian nghỉ chăm sóc con ốm người lao động nữ có được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội không? Nếu được hưởng thì thời gian tối đa được hưởng trợ cấp và mức trợ cấp là bao nhiêu?

câu hỏi 52: Chị M là công nhân của xí nghiệp may mặc phụ trách phần đứng máy, chị đang mang thai tháng thứ bảy. Gần đây, để đảm bảo thực hiện hợp đồng dịch vụ may xuất khẩu mà công ty đã ký kết với đối tác nước ngoài, lãnh đạo công ty quyết định huy động toàn bộ 100% công nhân đi làm thêm giờ, làm ca đêm, trong đó có cả chị M. Vậy quyết định của lãnh đạo công ty đối với trường hợp của chị M là đúng hay sai? Theo quy định của pháp luật lao động chị M có được hưởng sự ưu tiên nào không?

câu hỏi 53: Chị D là công nhân xí nghiệp bao bì xuất khẩu, sinh con thứ nhất được hai tháng rưỡi. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chị xin Giám đốc xí nghiệp cho đi làm sớm hơn thời gian quy định. Giám đốc xí nghiệp đề nghị chị xuất trình giấy chứng nhận sức khoẻ mới cho đi làm. Chị D cho rằng Giám đốc gây khó dễ cho mình và thắc mắc không biết Giám đốc đúng hay sai? Chị có thể được đi làm trong thời gian đang nghỉ sinh không?

câu hỏi 54: Cách đây gần hai năm, Chị K công nhân nhà máy xi măng N được nhà máy cho đi đào tạo nâng cao tay nghề và sau đó bố trí về làm việc tại nhà máy. Đầu năm 2004 chị cưới chồng và nay chị đang mang thai được 4 tháng. Nhận thấy làm việc ở môi trường rất độc hại có khả năng ảnh hưởng lớn đến thai nhi, chị quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (như yêu cầu của bác sỹ trong giấy xác nhận khám thai định kỳ của chị). Lãnh đạo nhà máy không đồng ý với lý do đã cho chị đi đào tạo thì phải tiếp tục làm việc cho nhà máy. Chị không chịu vì cho rằng chị có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước. Hỏi trong trường hợp này chị K đúng hay sai?

VI- PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH

câu hỏi 55: Pháp luật quy định như thế nào về thẩm quyền và thời hạn đăng ký khai sinh?

câu hỏi 56: Thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký khai sinh đối với trẻ em sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em sinh ra rồi mới chết được pháp luật về hộ tịch quy định như thế nào?

câu hỏi 57: Pháp luật quy định như thế nào về thời hạn và thủ tục đăng ký khai tử?

câu hỏi 58: Pháp luật quy định như thế nào về thẩm quyền và thủ tục đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn?

câu hỏi 59: Thẩm quyền và thủ tục đăng ký việc nhận cha, mẹ, con được pháp luật quy định như thế nào?

câu hỏi 60: Thẩm quyền và thủ tục đăng ký việc thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc được quy định như thế nào?

 

VII. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH VÀ HÌNH SỰ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO PHỤ NỮ

câu hỏi 61: Tuần trước, tôi cùng một số người trong bản lên rừng chặt cây lấy gỗ về làm củi bán, chúng tôi đã bị lực lượng kiểm lâm kiểm tra phát hiện và cho biết chúng tôi đã vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, vì vi phạm lần đầu với số lượng ít nên sẽ bị xử phạt hành chính. Hiện nay, tôi đang mang thai tháng thứ tư, vậy tôi có được hưởng sự ưu tiên nào khi bị xử phạt hành chính không?

câu hỏi 62: Đề nghị cho biết trong trường hợp người phụ nữ đang có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi có được hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng không?

câu hỏi 63: Vừa qua, nhân dịp về quê dự đám cưới đứa cháu ngoại, tôi được nghe họ hàng bàn tán xôn xao về chuyện nhà ông H đã tổ chức cưới vợ cho con khi cô dâu vừa mới bước qua tuổi 16 với lý do ông nội chú rể đang ốm nặng, cần cưới gấp. Được biết, vì là đám cưới “chui” nên uỷ ban nhân dân xã không hề hay biết và có biện pháp xử lý kịp thời. Xin hỏi hành vi của gia đình ông H có vi phạm pháp luật hành chính không? Nếu có thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo mức như thế nào?

câu hỏi 64: Anh Th và chị L yêu nhau đã được gần 3 năm. Tuy nhiên, khi anh chị quyết định tổ chức đám cưới thì bất ngờ gặp phải sự phản đối quyết liệt của gia đình hai bên. Mọi chuyện bắt đầu khi ông nội anh Th tuyên bố từ mặt đứa cháu đích tôn nếu anh Th lấy chị L, vì theo ông, từ lâu giữa hai họ Vũ (của anh Th) và họ Đào (nhà chị L) vốn tồn tại mối bất hoà, ông chị L đã từng tuyên bố không thèm nhìn mặt và kết giao với bất cứ thành viên nào của họ Vũ. Để phản đối đôi bạn trẻ, gia đình hai bên đã dùng nhiều biện pháp cả thuyết phục lẫn đe doạ đôi trai gái nếu họ cố tình không nghe. Sau khi biết sự việc xảy ra, Uỷ ban nhân dân xã đã cử người xuống gia đình hai bên thuyết phục nhiều lần nhưng không được và đã quyết định sẽ tiến hành xử phạt vi phạm hành chính vì hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Đề nghị cho biết việc xử phạt của Uỷ ban nhân dân xã có đúng không? Nếu đúng, theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính thì hành vi đó bị xử phạt như thế nào?

câu hỏi 65: Mặc dù đã có hai đứa con ngoan ngoãn, xinh xắn nhưng gần đây anh Nh lại hay đi sớm về muộn thất thường, nhiều khi lấy lý do công tác mà anh đi qua đêm không về nhà. Nghe mọi người bàn tán nhiều nên chị L vợ anh cũng sinh nghi, qua dò hỏi thì được biết đã mấy tháng nay anh Nh thường hay qua lại quan hệ với cô S đã bỏ chồng, làm nghề cắt tóc gội đầu. Chị L sau nhiều lần khuyên nhủ chồng không được, đã báo cáo lên lãnh đạo cơ quan anh Nh. Thủ trưởng cơ quan cũng đã tiến hành kiểm điểm khiển trách anh Nh. Chi hội phụ nữ nơi anh chị cư trú cũng đã đến nhà thuyết phục anh quay về với vợ con. Tuy nhiên, anh Nh không những không nghe mà còn bỏ đến ở hẳn với cô bồ của mình. Theo quy định của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, hành vi của anh Nh có bị xử phạt không? Nếu có thì xử phạt theo hành vi vi phạm gì?

câu hỏi 66: Tại Đại hội phụ nữ vừa qua của xã, chị Nguyễn Thị C đã được Đại hội tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội phụ nữ xã. Khi biết tin này, anh H chồng chị đã ra sức ngăn cấm, đánh đập không cho chị tham gia hoạt động xã hội, khiến chị phải vào bệnh viện điều trị. Mặc dù đã được chính quyền địa phương và các đoàn thể khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh H vẫn cố tình vi phạm. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, hành vi của anh H đã phạm vào tội gì và bị xử lý như thế nào?

Câu hỏi 67: Người bị xử phạt tù là phụ nữ có thể được hoãn, tạm đình chỉ thi hành trong trường hợp nào?

Câu hỏi 68: Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt đối với tội mua bán phụ nữ như thế nào?

Câu hỏi 69: Việc một người lấy quyền làm cha, làm mẹ uy hiếp tinh thần để ép buộc con cái lấy chồng, lấy vợ trái với sự tự nguyện của họ thì bị xử lý như thế nào?

câu hỏi 70: Anh B và chị H kết hôn được 5 năm (có đăng ký kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã cấp) và có một con chung 3 tuổi. Năm 1998 anh B đi xuất khẩu lao động đến nay không về và cũng không có tin báo về cho vợ và con. Năm 2003, Chị H quyết định kết hôn với anh T là người cùng cơ quan (chị H chưa ly hôn, anh T là thanh niên chưa vợ). Anh T và chị H có vi phạm nguyên tắc một vợ, một chồng không? Nếu vi phạm thì bị xử lý như thế nào?

PHỤ LỤC: MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC PHỤ NỮ

1. Công ước CEDAW

2. Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg ngày 21-01-2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010
 

Chịu trách nhiệm xuất bản

TRỊNH THÚC HUỲNH

Chịu trách nhiệm nội dung

HOÀNG PHONG HÀ

Biên tập nội dung

PHẠM VIỆT - NGUYỄN THỊ THÀNH

Biên tập kỹ, mỹ thuật, bìa: PHẠM THUÝ LIỄU

Chế bản vi tính

HỒNG ANH

Sửa bản in: NGUYỄN THỊ THÀNH

Đọc sách mẫu: NGUYỄN THỊ THÀNH