Chương I. Dục vọng của người này không thể tàn phá dục vọng của người kia: Đó là Công lý

 Chẳng lẽ, con người lại không muốn an toàn, nghĩa là lúc nào người ta cũng thích bị người khác rình rập săn đuổi, cưỡng bức bắt làm nô lệ, bị đánh đập, hắt hủi, đè nén, thậm chí thủ tiêu không khác gì một con sâu bị di mất tiêu? Chẳng lẽ, con người sống mà không muốn thoải mái, được làm việc, được nghỉ ngơi theo ý muốn của mình mà lúc nào cũng chỉ như con sen thằng ở phải trông chừng ý thích của ông chủ? Chẳng lẽ, mỗi người sống lại không mang hạnh phúc mà chỉ tìm cách hiện diện ở đời như một nô lệ, một cỗ máy phục vụ cho mục đích của người khác, trong khi bản thân mình không có mục đích nào hơn là sinh ra để làm phương tiện?

 

Chẳng cần lý sự dài dòng, điều hiển nhiên nhất nằm ngay trong máu thịt tự nhiên của con người đó là: cuộc đời không thể sống được nếu không mưu cầu hạnh phúc. Chẳng lẽ, người ta có thể sống khi nơm nớp bị săn như con thú, sống hay chết chỉ nằm trong gang tấc hiểm họa của những nòng súng săn, những cung tên, hay lưỡi dáo? Trước hết, muốn sống thì phải được tồn tại một cách an toàn, nghĩa là cuộc sống không bị cướp đi một cách vô cớ. Tiếp theo, cuộc sống không thể gọi là sống nếu chỉ được tồn tại như một hòn đá nằm vô tri bên bờ suối, hay như một con trâu đang kéo cày cho chủ, hoặc một con lợn đang vục miệng vào chậu cám đầy ú cơm thừa canh cặn để mau chóng trở thành thứ xúc xích cho bữa ăn của chủ hoặc tồn tại như một cỗ máy hoạt động đều đặn không có nổi một chút đời sống của là hồn.

 

Cái đầu tiên chứng tỏ con người được sống nhất, đó là quyền được hạnh phúc. Bởi nếu không có quyền hạnh phúc con người khác gì cỗ máy kia được chế tạo một cách khéo léo, tra dầu mỡ, chỉ để vận hành một cách vô tri vô giác, hay hay như con lợn kia được vỗ béo nhưng đâu có phải được ăn uống thoả thuê cho chính cuộc sống của mình mà là ăn uống cho mục đích tăng trọng nhằm biến thân xác mình làm thức ăn cho bàn tiệc của người khác.
Hạnh phúc là gì? Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau, vừa rất trần tục vừa rất cao siêu, chẳng hạn có người nghiêng về thân xác thì định nghĩa hạnh phúc như những lạc thú của ăn uống, tình ái, nhưng người nghiêng về tinh thần thì định nghĩa hạnh phúc như quyền sống chói lọi cao vời vợi của linh hồn, như các nhà tu thiền chẳng hạn, các vị đó bỏ lại phía sau cuộc đời trần tục lên núi cao đóng cửa ngồi thiền và coi đó là một quyền năng hạnh phúc không gì sánh nổi.

 

Dù các ý kiến về hạnh phúc có khác nhau thế nào đi nữa, nhưng quan niệm về hạnh phúc đều có mẫu số chung căn bản, đó là: ăn no, mặc ấm, được hưởng thụ tình yêu và tình thương, được sống thoải mái trong danh dự mà không bị ai ruồng rẫy khinh thị, có công ăn việc làm, thành công và thăng tiến trên con đường sự nghiệp của mình... Về hạnh phúc chung, người ta thấy, số đông hoặc hầu hết mọi người trong xã hội đề đua tranh mong muốn có được, chẳng hạn một nếp nhà khang trang, một chiếc xe hơi đẹp, một người vợ hiền và những đứa con vừa xinh vừa ngoan, công việc thì thăng tiến, thu nhập cao, danh giá nhiều...

 

Về những giá trị hạnh phúc căn bản như người Trung Quốc vẫn ví, chẳng hạn về ăn uống nuôi sống con người: “Nhân dân lấy gạo làm trời”. Có gạo thì mới có ăn, có ăn thì mới sống, con người có sống thì mới hưởng được lẽ trời đất. Hoặc như mong muốn thành đạt và tình ái, người Trung Quốc hay nói “Song hỉ lâm môn”. Hai cái vui vào cửa, thường bao gồm: Thứ nhất thủ khoa, thứ nhì động phòng hoa chúc. Nghĩa là, học trò đi thi đỗ đạt vinh quy về nhà, sau đó lấy được vợ hiền hưởng đam mê tình ái.

 

Về hạnh phúc, dù có nhiều ý kiến khác biệt nhau nhưng nhiều triết gia phương Tây đã bàn đến, hạnh phúc căn bản của con người như cuộc sống, nghề nghiệp gia đình là mẫu số chung khác hẳn với cái gọi về sở thích của mỗi người, như anh thích ăn thịt bò, tôi lại thích ăn thịt gà, anh uống được cà phê, còn tôi lại sợ mất ngủ, anh bán tất tài sản đổi lấy một chiếc vé xem bóng đá, tôi lại chẳng tiếc tiền mua chiếc vé xem hoà nhạc... như vậy, đến đây chúng ta cũng dễ đồng ý với nhau: hầu hết mọi người đều phải quan tâm mong muốn, và truy cầu cái hạnh phúc căn bản của mình.

 

Về hạnh phúc, triết gia Kinh quan niệm một cách hết sức mạnh lạc rằng, đó là ham muốn của cá nhân phải được thoả mãn nhờ đối tượng thực hành, giống như “Người nào muốn ăn bánh mì thì phải nghĩ đến chiếc cối xay” (Celui quy voudrai manger du pain, aurait à imagier moulin)(l). Thật là một ý tưởng đích đáng của một triết gia được mệnh danh là "ông hoàng của Phúc Âm mới". Chúng ta muốn uống thì phải nghĩ đến nước cho dù nước sông, nước máy hay nước mưa, hơn nữa là bia, rượu vang, hay rượu mạnh. Chúng ta muốn ăn no thì phải nghĩ đến đồ ăn, đó là gạo thì phải đến từ những cánh đồng lúa nước, đó là lúa mì thì phải nghĩ đến những cánh đồng ôn đới, thức ăn chỉ được dọn lên bàn sau khi đã được đun nấu từ trong bếp! Còn muốn mặc quần áo người ta phải nghĩ đến thợ dệt, thợ may, một cách nghĩ rất hiển nhiên như người ta cần một chiếc áo chẳng hạn. Người ta nhất khoát phải để ý đến mặt vải mịn hay sần sùi, tức là cách dệt vải, và ngắm kỹ kiểu cách có làm mình thích không - đó là cách cắt may của người thợ may. Còn muốn đeo một chiếc nhẫn vàng, hiển nhiên người ta phải để ý đến vàng bao nhiêu tuổi, vàng chín hay vàng mười hoặc bao nhiêu ca-ra, rồi đến cách của người thợ kim hoàn làm ra chiếc nhẫn! Còn muốn trở thành một người được thăng quan tiến chức, người ta buộc lòng phải nghĩ đến một nhóm người nào đó, một cơ quan, một tổ chức, một nhà máy hay một thành bang, từ đó mới có thể mong muốn mình làm xếp nhất hay xếp nhì.

 
 

Mong muốn đều đối tượng của nó, và những đối tượng đó dẫu con người đến đâu? Các nhà xã hội học Mỹ phát hiện rằng, trước khi những người da trắng Châu Âu tràn sang Châu Mỹ - ở đó người da đỏ sống theo bộ lạc du canh du cư, họ luân chuyển không ngừng, họ không bao giờ coi đất trời là của họ, họ đến rồi lại đi, để cho những bộ lạc đến sau kế thừa chỗ của họ, cũng như họ đang di chuyển đến một vùng đất mà một bộ lạc khác mới dời đi, đó là tập quán không bộ lạc nào có ý định sở hữu một vùng đất nào dù rất đẹp hay mầu mỡ, vì vậy không có các cuộc xung đột giành đất xảy ra. Chiến tranh giành đất chỉ thực sự bắt đầu khi những người Châu Âu đến rào mảnh đất mình vừa đặt chân, và gán lên đó một tấm biển mang tên mình. Đất đai bị chiếm dụng làm sở hữu của riêng, thế là các cuộc đấu tranh giành đất tương tàn một mất một còn diễn ra liên miên.

 

Xung đột tranh giành diễn ra không chỉ đối với đất đai và đỏ mạc, những kẻ săn lông thú ở Bắc Ca-na-da cũng đã từng san đuổi giành giật với nhau từng hộ lông, hay những kẻ săn cửa cá ở vùng Xi-bi-ri nước Nga cũng đã từng thịt nhau chí tử để giành lấy từng bộ da không thấm nước quí như vàng, còn các cuộc xung đột tranh giành từng thùng bùn để đãi vàng đã diễn ra trên khắp thế giới, vàng tắm máu ở California, ở Nam Phi và miền Viễn Đông nước Nga, vàng không chỉ biến thành vòng xoáy cho các cuộc tránh giành bạo lực, súng ống, băng nhóm mà nó còn cuốn hút vào giữa xoáy lốc của nó những dòng người ham hố vừa đi vừa cuốn theo cờ bạc, lừa đảo, đĩ điếm và vô vàn các tệ nạn khác. Còn khao khát quyền lực, người Trung Quốc đã mô phỏng qua một câu nói: "Ở dưới một người và ở trên muôn người". Người khao khát quyền lực mong chỉ ở dưới một người là ông vua nào đó được gọi là thiên tử, còn thì ở trên muôn người là cả thiên hạ. Than ôi! ở đời còn gì sung sướng cho bằng được sống trên đầu trên cổ người khác, ta được làm ông chủ, còn người khác phải làm kẻ hầu người hạ cho mình thậm chí còn phải làm chó lợn. Nhà văn Vương Sóc trong cuốn sách "Người đẹp tặng ta thuốc bùa mê” (2) của mình đã lột tả đặc quyền của quan lại của Trung Quốc trong nước ông rằng: Đàn bà thì bị bó chân, đàn ông thì bị biến thành hoạn quan để nô dịch tuyệt đối cho chủ. Tóm lại người ta bó chân đàn bà để biến họ thành một thứ bàn chân bé, đùi nở, hông nở để trở thành một cỗ máy phục vụ tình dục một cách hữu hiệu nhất, còn đàn ông người ta vừa muốn dùng sức lực phục vụ của nó nhưng lại lo nó sàm sỡ vợ con mình, nên để yên tâm, người ta cắt béng cái giới tính của nó đi. Làm nô lệ như vậy còn nhục hơn làm trâu chó, vì trâu chó còn được giữ giới tính của nó, còn người bị thiến thì chẳng được sống cái quyền giới tính tự nhiên nhất của mình. Văn hào Dostoievski có nói về ham muốn quyền lực của con người rằng "Con người là một sinh vật thích quyền lực, quyền lực đó dù chỉ ở trên một con ruồi". Người ham muốn quyền lực là người sống trên lưng kẻ khác, càng nhiều càng tốt, người hùng mạnh hơn thì cố có quyền lực trên đầu cả thiên hạ, người yếu hơn thì muốn làm ông chủ của một nhóm người, người yếu hơn nữa thì nạt nộ vợ con mong trở thành ông chủ trong mái nhà của mình, như người Việt lột tả qua phương ngôn.

 

Cha nói oan
Quan nói tiếp
Chồng có nghiệp nói thừa

 

Còn kẻ yếu hơn, không xưng hùng xưng bá với ai được thì muốn làm chủ từ con chó, con mèo, thậm chí trên cả lưng một con ruồi: có ít còn hơn không. Quyền lực là gì mà con người ham vậy. Như người Việt nói: “Một người làm quan cả họ được nhờ”. Người có quyền lực, không chỉ mình họ sướng vì được quyền sống ưu tiên trên vai những kẻ phải phục dịch mình, mà ngay cả họ hàng thân thích, bạn bè, đồng môn của họ cũng nhờ quyền lực mà được sống theo. Và người có chức có quyền muốn bảo vệ quyền lợi cho mình thì cũng muốn kéo bè kéo cánh, làm sao để nhiều người hưởng sự ưu tiên do mình ban phát sẽ trở thành thế lực ủng hộ và bảo vệ mình, người ta tập trung thành cánh hầu để sống ưu tiên hơn người theo cách mà người Việt vẫn nói: “Ăn cây nào rào cây đấy”. Quyền lực là thứ săn đuổi một mất một còn đến mức, tuần nào chúng ta cũng được chứng kiến những nhân vật dã sử trong các phim truyền hình, anh giết em, con giết cha, thái hậu đẩy con xuống giếng để tiếm lấy quyền. Đúng như lời Dostoievski đã nói, con người đi săn quyền lực trên lưng cả mỗi con ruồi, còn trên lưng, trên vai, trên cổ, trên đầu đồng loại thì sao, đâu đâu người ta cũng thấy những xiềng xích, những máy chém, những song sắt, những liều thuốc độc, 'những thùng thuốc súng, những cung tiền giáo mác dồn đuổi lẫn nhau để giành quyền lực, sự tranh giành đó không từ cả triết gia Socrate hiền như hiền triết đã thoái vị cả chức thủ tướng để làm người áo vải, cũng không từ cả Chúa Jesus người đến chỉ để tuyên xưng “Không phải để được phục vụ mà đế làm giá cứu chuộc con người”. Triết gia Hobbes đã lột tả cuộc săn đuổi chiếc ghế thống trị của con người như sau: “Mỗi người đều cố công phá hoại hay thống trị người khác” (chacun s’eforce de détruire ou de dominer l’autre) (3) . Tại sao người ta lại phải một là thống trị hai là phá hoại người khác? Bởi vì có mỗi một chiếc ghế thiên tử, mà cả triệu người săn đuổi, thậm chí có tỉ người vào cuộc tranh giành. mình chưa thể ngồi được vào vào chiếc ghế đó thì phải tìm cách níu chân, phá hoại, đạp đổ, nặng hơn là ra tay hạ sát để cho những kẻ không phải là mình, không được ngồi vào đó.

 

Muốn làm vua thì phải hiểu được người ta ra không có ai có thể ngồi vào ngai thiên tử.
Quyền lực là thứ trăm người, nghìn người vạn người, triệu người, tỉ người giành nhau một chiếc ghế cao nhất mà triết gia J.Stuart Mill, còn nói cách hóm hỉnh rằng, ngày xưa người ta tranh nhau làm vua ngồi ngai vàng thì giờ đây người ta tranh nhau làm vua ngồi ghế da. Thực ra, quyền lực chỉ là một trong các cuộc truy cầu của con người, ngoài quyền lực ra, người ta còn truy cầu vật chất, các của ngon vật lạ, của qúy của hiếm, rồi mỹ nữ, tóm lại tất cả những gì thuộc về quyền lợi giúp cho người ta sống và hưởng thụ đều trở thành miếng mồi để săn đuổi, tranh giành. Nhà văn Tương Hiền Lượng, người Trung Quốc đã viết: “Cùng một mối lo người ta trở thành những người che chở nhau, cùng một mối lợi người ta trở thành kẻ thù của nhau”. Lịch sử đã nhiều lần chứng kiến khi gặp cảnh lũ lụt, mùa màng thất bát, những kẻ tha phương cầu thực phải tụ tập lại với nhau để bảo vệ lẫn nhau qua những vùng có chủ đất cát cứ, hay trong rừng thẳm lẫn non cao có các toán cướp rập rình, thậm chí bị dồn vào bước đường cùng người ta cũng sẵn sàng cấu kết nhau thành thảo khấu trộm cắp, cướp bóc, cấu kết thành đám đông để vừa bảo vệ lẫn nhau vừa tạo thành sức mạnh tập đoàn để hà hiếp những tập đoàn bé hơn. Đó là lúc cần sự liên kết để vượt qua cảnh khốn cùng, còn lúc vinh hoa thì sao? Chao ôi, thi hào Shakespear đã lột tả vấn nạn đó qua bi kịch của “Vua Lia” khi phải tranh giành ngôi báu, chỉ có một cái nhưng anh em, chị em sao mà đông vậy, họ sẵn lòng quăng cha già ra ngoài mưa gió và cát bụi. Đãy là một sự thật không chỉ diễn ra dưới thời phong kiến, muôn người đòi chiến lĩnh ngai vàng, mà diễn ra ở mọi thời đại, chẳng hạn sau thời cách mạng Pháp, chính Robespierre đã đưa các đồng chí từng sát cánh của mình là Dantoniste và Hébertiste lên máy chém cửa toà án cách mạng (3/4/1794), rồi chính Roberpierre cũng không tránh khỏi bị xử lử như tội đồ vào cuối tháng bảy năm 1794 ngay ở Tòa đô sảnh Paris (4) . Ở Nga, các vụ thanh trừng lẫn nhau giữa Stalin và các đồng chí của mình diễn ra không kém mưu mô và tàn khốc, kết cục, lực lượng bảo vệ thép của Stalin cũng không thể bảo đảm cho ông được ngồi trên ghế lãnh đạo đến hơi thở cuối cùng của tự nhiên, mà ông phải ra đi trong sự can thiệp của bàn tay nhân tạo. Ở Trung Quốc, với cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá, sự thanh trừng diễn ra trên một quy mô rộng đến mức có đến vài chục triệu cán bộ và dân thường trở thành nạn nhân bị tố và chính trong bối cảnh đó, nhà văn Trương Hiền Lượng đã ngậm ngùi viết lên: “Cùng một mối lo người ta trở thành đồng chí của nhau, cùng một mối lợi người ta cắn xé lẫn nhau”. Ở Việt Nam, tình trạng đó cũng không thể được gột sạch, mà ở nhiều nơi nhiều lúc, nó cũng chứng tỏ quyền lực là chiếc ghế tranh giành nhau tàn khốc đến mức nào. Rõ hơn cả, là sau cuộc kháng chiến chống Mỹ, trước đó có biết bao đồng chí nhường cơm xẻ áo cho nhau trong những chuồng cọp ở nhà tù Côn Đảo. Vậy mà khi chiến thắng, tiếp quản Sài Gòn - hòn ngọc Viễn Đông, ai ngồi ghế nào, đã trở thành nhiều cuộc giành giật hạ bệ khá đau lòng thậm chí người ta còn gán tội cho nhau anh này đã đầu hàng, anh kia đã khai báo, còn anh nọ đã chiêu hồi, nhằm vô hiệu hoá lẫn nhau. Việt Phương là một quan chức cao cấp trong Chính phủ đã lột tả tình trạng đấm đá của các quý vị đồng chí như sau:

 

Ta cứ nghĩ đồng chí rồi còn ai xấu nữa
Hàng ngũ ta chỉ có chỗ của yêu thương

 

Vậy mà:

 

Một phần tư thế kỷ cũng đã trôi qua
Đến bây giờ ta mới biết
Thế nào là yêu thương thế nào là chém giết

 

Ta đã thấy chỗ lõm lồi trên mặt trăng sao
Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao
Đâu phải rắn nằm phục giữa vườn hoa
Tất cả những kẻ tốt đến yếu mềm
Chỉ là đồ giẻ rách
Rắn còn nằm cuộn khúc giữa lòng ta.

 

Bài thơ này muốn nói, tác giả vỡ mộng về những đồng chí của mình, mới đầu những tưởng "đồng chí rồi còn ai xấu nữa",“Rắn còn nằm cuộn khúc giữa lòng ta”, thế mà bên ngoài vẫn trông củ mỉ củ mì theo kiểu: “Tốt đến yếu mềm”, thật đúng như người Việt bảo: người ta sẽ chia ngọt xẻ bùi cho nhau từng tấm áo, từng miếng bánh như đã đùm bọc nhau trong chuồng cọp không, đấy mới chỉ là cảnh khốn cùng. Người ta dễ trở thành những người đùm bọc lẫn nhau. Nhưng khi đã có chức quyền, trở thành quan cách mạng người ta đã sống âm mưu giành giật, chờ cơ hội hất cẳng nhau theo kiểu

 

“Bề ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong nhan hiểm giết người không dao”

 

Ganh đua là sự thật, hơn thế nó là một quy luật được bắt rễ sâu từ trong tự nhiên. Về mặt xã hội, nếu không có ganh đua sẽ không có tiến bộ vì tất cả mọi người sẽ sống và làm việc như những con người vật vờ ngái ngủ, chẳng hạn mới đây, nhiều dân tộc có phương ngôn "biến chiến trường thành thị trường", chiến trường là nơi đua tranh bằng vũ khí và máu, chém giết lẫn nhau, anh còn thì tôi chết, tôi còn thì anh phải chết, nhưng khi chiến trường biến thành thị trường, sự ganh đua của vũ khí lắng xuống, ngay đó sự ganh đua của những quy luật kinh doanh xuất hiện, người ta giành nhau từng thị phần, từng khách hàng, người thắng thì giàu có vinh hoa phú quý, kẻ bại thì phá sản phải nhường bước cho người khác. Đó là sự ganh đua sạch sẽ, nó tạo ra động lực tiến bộ cho xã hội, và sắp đặt đúng chỗ. Ai có tài đua tranh đến đâu thì được hưởng vị trí đó.

 

Với quyền lực cũng vậy, xã hội cũng không thể vắng bóng hệ thống quản lý điều hành. Nhưng cái đáng bàn là làm sao phải tạo ra hệ thống đua tranh lành mạnh, như các cuộc bầu cử hoặc lấy phiếu tín nhiệm chẳng hạn, để bầu ra những người xứng đáng dẫn đầu đất nước, cũng như các ông Giám đốc quản lý Xí nghiệp. Có thể nói con người cũng như mỗi sinh vật đã mang dòng máu đua tranh ngay từ trong trứng nước chẳng hạn khi các con vật rượt đuổi con mồi, con vật nào nhanh hơn sẽ bắt được mồi ăn, khi con Kăngguru sinh đẻ, ngay khi chưa mở mắt, những con mới sinh phải quẫy đạp tiêu diệt lẫn nhau, và chỉ có một con chiến thắng cuối cùng mạnh nhất và nhanh nhất bò từ lỗ đẻ của mẹ lên chiếc túi ở trước bụng, được nấp và nuôi dưỡng trong chiến túi đó mới có hy vọng sống, với con người cũng chẳng khác mấy, trước khi tạo thành phôi thai, ước có khoảng năm chục triệu tinh trùng của cha lao vào tử cung của mẹ, chỉ duy nhất một con mạnh nhất, nhanh nhất trong số năm mươi triệu con đó mới đến được vỏ trứng, một quả trứng cũng đã được đặc tuyển sau khi loại bỏ những quả trứng khác, tách vỏ ra để đón nhà quán quân duy nhất chui vào, để tạo thành thai nhi. Mặc dù, con người mang từ trong máu cuộc chạy đua giành cuộc sống như các loài khác của tự nhiên, nhưng con người đã khác hẳn các loài khi biến mình thành một xã hội có giáo dục, có văn hoá, có văn minh, con người vượt đến tầm vóc đó bởi lẽ đã biết đào luyện cho mình một cuộc sống của lý trí công lý, và đạo đức vượt thoát khỏi đời sống sơn lâm dã thú nơi thiên nhiên an bài.

 

Đó là mục đích chính của cuốn sách này. Trước hết, chúng ta đã bàn đến tính tất yếu của khao khát truy cầu hạnh phúc cho cuộc sống. Nếu không có lạc thú thì cuộc sống có được món quà tặng nào hoặc có bữa tiệc đời nào dễ mời gọi người ta sống? Nhưng con người sống không thể lấy hạnh phúc của người này làm bất hạnh của người kia, coi mình là ông chủ còn kẻ khác chỉ là nô dịch phục vụ mình, phải sống như trâu như chó, triết gia Mill đã nói: “Nhân loại tốt vì nhau chứ không phải tốt cho một số người”. Lịch sử đã minh chứng bất cứ thời nào, ở đâu, nếu có một nhóm người này đòi sống ưu tiên trên nhóm người khác thì đấu tranh tương tàn sẽ liên miên tiếp tục xảy ra cho đến khi nào kẻ đòi ưu tiên kia bị hạ bệ. Các cuộc chiến tranh lãnh thổ thuộc địa, giải phóng nô lệ đã chứng tỏ sự thật đó. Mạnh hơn tất là cuộc giải phóng phụ nữ diễn ra ngay thế kỷ XX. Một người phụ nữ, một người vợ dịu hiền, một đứa con xinh xắn, cùng chủng tộc, cùng đẳng cấp vậy mà khi bị đẩy vào thế lép vế đã đứng lên khước từ đàn ông kẻ trực tiếp chia sẻ lạc thú tình ái với mình, đòi quyền bình đẳng, làm sao không bị cư xử như máy đẻ hay con sen mà là bà hoàng của tình yêu. Và thế giới đàn ông đã chùn bước, chủ nghĩa lãng mạn ra đời chính là hồi chuông ngân nga chào đón những người đàn bà bước từ trong xó bếp ra ban công để được tấn phong thành nữ hoàng của tình yêu, chiếc tạp dề đã được tháo ra để đan thành một chiếc vương miện đội lên đầu những nàng cô-dét mới.

 

Công lý là cái lý của chung. Giản dị theo cách của người Trung Quốc nói "Mi không đụng đến ta, thì ta không đụng đến mi". Con người sẽ sống thế nào khi xung quanh là những kẻ rình rập đang chờ cơ hội để săn mình như con mồi? Không, chắc chắn là con người không thể sống mà không có xã hội, hoặc ở bên ngoài xã hội, câu chuyện thực về anh chàng Robinson kia thật là một minh chứng mạnh mẽ, anh là một thuỷ thủ đi theo một con tàu ngày kia con tàu đậu vào một hòn đảo hoang vu kiếm nước ngọt và nghỉ ngơi, trước khi tàu nhổ neo, dự cảm về con tàu sẽ gặp bão, anh liền xin với thủy thủ đoàn cho anh ở lại và được chấp thuận. Con tàu dời đi và sau đó gặp bão chẳng còn ai sống sót. Còn lại một mình Robinson sống trên đảo hoang, dù thức ăn nhiều, thịt thú rừng, tôm cá và măng rừng không thiếu, nhưng anh vẫn không ngừng ý thức về tình trạng cô đơn của mình, anh khắc dao vào gậy đánh dấu từng ngày phải xa loài người, anh cũng chào đón những ngày lễ tết, ngày Chúa Giáng sinh, ngày Chúa phục sinh, để tự mình chứng tỏ cho đến ngày nào ta còn sống theo tập tục của con người. Sự chứng minh này là một bằng cớ mỗi ngày lại quyết liệt hơn trong tâm hồn, bởi lẽ, tóc và râu của anh mỗi ngày mỗi dài hơn, và sống giữa đảo hoang, giữa muôn vàn cây cối và muông thú, vắng biệt bóng con người càng làm cho anh mỗi lúc một cảm giác hình như mình chỉ là một con thú đi hai chân giữa bầy thú hoang, điều đó càng tự thôi thúc anh suy nghĩ và sống theo tất cả những gì thuộc về tập tục của con người. Anh làm bè, tập nói, làm cờ hiệu để vẫy gọi những con tàu đi qua hòn đảo, cho đến một ngày sau vài nam, anh mới được một con tàu đón đi. Con người phải sống có đồng loại, điều đó đã được văn hào Exupery lột tả qua tác phẩm "Những chuyến bay đêm" một ngày chiếc máy bay trục trặc lao xuống sa mạc, viên phi công rơi xuống một biển cát mênh mông, không thức ăn, không nước uống, và anh bò đi đến khi sức cùng lực kiệt, chỉ còn chờ chết, chợt những người thổ dân đi qua. Chúa ơi, anh thấy họ như thấy các thiên sứ của sự sống, anh chồm người lên vẫy họ, và khi họ đến gần miệng anh kêu cầu chữ "nước" bằng tiếng Pháp là “l’eau”, sợ họ không hiểu, nào ngờ họ cho anh ăn, đắp chăn cho anh ngủ, họ làm tất cả những gì để cứu sống và hồi sức một người suy kiệt, không cần biết ngôn ngữ anh nói với họ là tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Ả rập, hay tiếng Latinh. Éxupery gọi, đó là ngôn ngữ của sự sống, của con người và của nhân loại. Chúng ta thử đặt câu hỏi, chàng phi công kia sẽ sống thế nào, khi đồng loại vừa nhìn thấy anh sức cùng lực kiệt, bèn xẻo thịt đưa lên bếp lửa nướng như một con mồi bất hạnh.

Nhưng, con người sống công lý không phải chỉ vì phải sống chung với đồng loại, mà tự thiên khi con người sống lý trí con người đã tiến đến công lý, vì lẽ, bản thân lý trí luôn vận hành đến nguyên lý. Nói giản dị như triết gia Hegel: những chiếc cột dựng nghiêng sẽ đổ, vì thế khi dựng nhà người ta luôn phải có xu hướng dựng thẳng những chiếc cột lên. Vì thế nhà không ai bảo ai, đều nhất tam đồng lòng dựng cho cây cột đứng thẳng. Như vậy, khi lý trí của mỗi người biết đến cái lý phải làm, tự nhiên cái lý đó gặp nguyên lý chung - tức là công lý. Vậy thì, không chỉ có bản năng đòi hỏi hạnh phúc cho mình, mà lý trí luôn suy xét tìm một hạnh phúc lớn hơn, tốt lành hơn, ưu việt hơn. Tại sao chúng ta phải bàn một hạnh phúc có sự tham gia của lý trí? Điều đó không phải chúng ta vội vàng khiên cưỡng đem đến cho lạc thú một ông thầy lý trí khổ hạnh (trời ơi, lạc thú làm sao mà khai triển nếu có một thầy tu lý trí cứng nhắc khắc khổ đứng giám sát ngay bên?) nhưng như có một triết gia nói, chúng ta làm sao hình dung nổi lạc thú không có sự tham gia của lý trí cùng đòi hỏi. Bản thân dục vọng, đơn giản như ta muốn gặp bạn tình, về mặt cơ thể, các hóc-môn trong người tăng trưởng để tăng khao khát, thậm chí nó tăng vọt để bắt con người phải nổ tung trong cuộc tìm kiếm gặp gỡ, một thôi thú không đừng được, cơ thể mỗi lúc một kích thích thêm sự căng thẳng, những sợi dây thần kinh từ não nối đến các chi thể căng như những dây đàn đòi những tiếng tơ đàn ập đến nếu không chúng sẽ đứt.

Khoa học hiện đại càng chứng minh, bộ não con người không phải không biết hưởng lạc mà hơn bao giờ hết nó tham dự, chi phối vào các cuộc hưởng lạc, tâm trí càng căng thẳng thì lạc thú càng được dọn trên những dây thần kinh sẵn sàng lý tưởng nhất. Thể xác luôn dính với tâm hồn đến độ, người Pháp nói: "Khi bụng đói thì tai không muốn nghe", còn triết gia Bergson thì phát hiện, cho dù mắt người ta có nhìn qua cửa sổ có cả ngàn vạn sự kiện xảy ra người ta cũng không nhớ gì cả, chỉ khi nào tâm trí chú mục vào việc nào đó, cảm xúc mới trỗi dậy sự phấn khích được ấn tượng, và người ta mới ghi nhớ. Như vậy, khoái lạc không chỉ là việc của thể xác, mà còn là việc của lý trí, trong mối tương hỗ không thể tách dời khi muốn nhìn nhận khoái lạc một cách toàn thể. Có một câu chuyện biểu tượng rất dễ hiểu. Một ngày có hai chiếc bình cùng được người thợ gốm nặn lên. Nặn xong, cả hai đều mịn màng màu đất sét, rồi được vẽ hoa văn và được tráng men. Sau đó người thợ đưa hai chiếc bình vào lò cùng những đồ đất sét khác. Nhìn ngọn lửa cháy trong lò rừng rực bỏng rát một chiếc bình vẫn dấn bước còn chiếc bình kia thì lủi trốn phía sau những đồ vật.

 

Chiếc bình lủi trốn nhìn thấy chiếc bình kia phải cho vào lò thì tự đắc chắc mẩm rằng, đúng là kẻ dại dột, thân hình đẹp thế kia mà phải cho vào lò nướng thật bỏng rát, khủng khiếp làm sao! Trái lại, ta thật được mát mẻ vì đã khôn khéo thoát khỏi lò lửa đó. Rồi vài ngày sau, người thợ gốm lấy chiết bình đã nung ra, xếp vào kho, ông ta cũng xếp cả chiếc bình chưa qua lửa cạnh đó. Một ngày bão táp và mưa sa ào tới, mái kho bị dột, nước xối từ trên mái xuống. Trời ơi, chiếc bình đã qua lửa nhờ nước mưa gột trôi đi lớp bụi phủ, lộ ra lớp men đẹp tuyệt trần! Than ôi, còn chiếc bình không qua lửa bị nước xối, nhũn và mủn rồi nát thành đất sét. Câu chuyện trên đã hoàn toàn cho chúng ta thấy, cũng là đất sét, nhưng một chiếc bình đã tôi luyện qua lửa bỏng rát, thì đứng vững và càng đẹp hơn nhờ mưa sa bão táp, còn chiếc bình ngại rèn luyện kia đã bị tàn rữa thành bùn. Vậy thì có nên luyện lý trí hay mặc kệ cho bản năng tự hưởng, cái nào sẽ gặt hái nhiều hạnh phúc hơn? Không câu trả lời của nhân loại luôn luôn sẵn sàng là: đặc ân lớn nhất của loài người là được thừa hưởng nền "giáo dục". Giáo dục tức là giáo hoá bản năng, để biến những chiếc bình đất sét thành bình gốm, hơn cả thế những trình độ cao học còn có tham vong biến bình đất sét thành những bình bạc, bình vàng, bình ngọc, những chiếc bình không chỉ để đựng mà còn có thể ngân lên tiếng chuông tiếng khánh. Hạnh phúc đâu chỉ có thể là thân xác, ăn lắm uống nhiều, tình dục thả cửa là hạnh phúc. Như rất nhiều tỉ phú tiền chất đầy kho, nhà nhiều cái tòa ngang dãy dọc, xe hơi nhiều cái mỗi cái một kiểu, vậy mà chính những con người thừa mứa trong vật chất đó đã phải thốt lên: dù giàu có thế nào, người ta cũng không thể ngủ cùng lúc trên hai chiếc giường, đi cùng lúc trên hai chiếc xe và ăn cùng lúc ở hai nhà hàng đặc sản thú rừng hay cá biển. Vậy người ta có thể cùng lúc tình ái với hai người đàn bà. Đó là câu hỏi vừa trực tiếp vừa biểu tượng, xưa kia nhiều vua chúa có trăm nghìn cung nữ ở trong cung, vậy mà họ vẫn phải lập từng chỗ ở cho các phi tần và chọn mỗi người cho mỗi đêm, mặc dù vậy những cảnh ghen tuông, tàn sát, giết chóc liên tục xảy ra, người ta phải trả giá rất đắt cho thú vui đòi chung chạ đó. Cái giá mà nhà thơ Chi-ma Trung Quốc đã từng nêu lên: Đàn ông Trung Quốc vì hám năm thê bảy thiếp nên suốt ngày lụt lội trong chuyện chăn gối, xã hội không tiến triển được, lạc hậu, nghèo đói, lộn xộn. Đàn ông suy nhược không thể tiến thủ, bao nhiêu tinh hoa đều đã được đốt cả cho dục vọng háo sắc, Vua Chúa Trung Quốc yếu đến mức nào? chúng ta dễ thấy, ở Trung Quốc đầy núi non, mà người ta còn chơi giả sơn là những hòn đá được đặt trong nhà thay núi, vua chúa lúc nào cũng đi dưới mái nhà, đã thế phải có tàn che, chưa ngồi đã có người đến đấm bóp cơ thể, rồi cả vua cả các cận thần còn chú mục say sưa chơi trò "chọi dế”, hai con dế mèn đánh nhau trên mặt đất rộng bằng chiếc lá khoai, mọi người chúi mắt vào xem, chỉ để khỏi phải diễu cái thể xác ửng toàn sâm quý thuốc bổ ra ngoài trời. Còn vua chúa Việt Nam thì sao? Than ôi, mở sách sử ra đọc, thật khó tìm thấy ông vua nào thọ quá ba mươi tuổi. Không chỉ với các vua chúa theo các báo cáo khoa học của các nhà khoa học thế giới rất nhiều vùng ở châu Phi, vì con người sống buông thả theo dục vọng tự nhiên quá sớm, đàn bà ở trần, đàn ông đóng khố, mới lớn lên hóc môn giới tính vừa hoạt động, đã lao ngay vào các cuộc hoạt động đem hạt giống hóc môn, cũng chính là tiềm lực tăng trưởng và phát triển ra để tiêu xài, khiến tuổi thọ trung bình rất thấp, có nhiều nơi, người ta thật hiếm thay một cụ già nào trên năm mươi.

Hạnh phúc chí ít là đặc ân cho cuộc đời, vậy thì làm sao có thể coi những lạc thú vô độ là hạnh phúc khi nó tiêu diệt chính cuộc sống của con người? Giờ chúng ta hãy thử nhìn lạc thú cực khoái mà không ít người tìm kiếm thú thuốc phiện hay dùng ma tuý chẳng hạn, đó là thứ móc-phin cực mạnh, có tác dụng đánh mạnh vào hệ thần kinh, khiến thần kinh mê mẩn, gây ra những phút đê mê, quên trời, quên đất, quên cuộc sống hiện tại, quên cả bổn phận làm người của mỗi cá nhân.

 

Một thú vui say sưa đến vậy, nhưng tại sao mọi người lại có con mắt thương hại khi nhìn thấy những người chót xa vào đam mê đó? Xã hội còn lập ra cả những trại cai nghiện để giúp những người nghiện ngập bỏ đi thú say sưa, mà lý trí bị đánh mất đến mức thân xác trông giống một cái gì khuyết tật, nó xanh xao, gầy mòn, ẻo lả, yếu ớt trông thật giống một cơ thể sống không ra sống, chết không ra chết, giống Pascal nói: “Tôi có thể nhận ra một người mất tay, mất chân, mất đầu. Nhưng tôi không tài nào nhận ra con người chẳng có tinh thần” (Je púi bien concevoir un homme sans mains, pieds, tête. Mais je ne púi concevoir l’hmme sán pensée)(5). Cuộc sống sao có thể được coi là hạnh phúc khi con người vì bạc nhược muốn ngủ vùi trong bổn phận của mình đã dùng nhưng toa thuốc mê liều cao đầu độc thần kinh làm cho thân xác định chôn vùi trong một ý thức đang cố tình lãng quên cuộc sống, cuộc sống còn có ý nghĩa gì khi người ta sống bằng cách quên sống, hoặc sống lay lắt vật vờ như chính con người không mang nổi trọng lượng của cuộc đời đã coi cuộc đời như một thứ có mặt đáng nguyền rủa, và phải dùng những liều thuốc mê để vùi quên cuộc đời! Nhưng oái oăm thay, vì thiếu tỉnh táo, người sử dụng các chất kích thích như thuốc phiện, cần sa, hay ma tuý, hoặc rượu đã không nhận ra rằng người ta muốn ngủ quên trước gánh nặng cuộc đời thì lại càng làm cho nó nặng hơn bao giờ hết, bởi vì đó là những thứ xa xỉ rất đắt, mà những người lười nhác không có nguồn thu nào để tiêu sài mãi những thứ đó, kết quả ma tuý đã cuốn người ta vào các vòng tội lỗi ghê tởm, ăn cắp, ăn cướp nhà băng, lừa đảo, đĩ điếm để lấy tiền trích ma tuý. Ma tuý kể cả kẻ mua người bán, kẻ sản xuất lần người tiêu dùng đều dẫn người ta vào những vòng lao lý, những án chung thân, những tội tử hình, đạo đức bại hoại, thân xác sụp đổ, cuộc đời tàn tạ chóng vánh. Đó cũng là cảnh mà trước đó những băng nhóm buôn rượu lậu và những người nghiện rượu mắc phải.

 

Những băng Mafia buôn rượu lậu vòng từ Italia qua Anh rồi qua Mỹ, những vụ thanh trừng giết hàng loạt xảy ra, những song sắt nhà giam chật ních tội phạm, những kẻ say ngất ngưởng nam vạ vật trên đường phố, nhà máy công sở đình trệ sản xuất, phố phường chất đầy tội phạm và đĩ điếm, theo một số người ngay cả việc Tổng thống Mỹ John Kennedy bị ám sát cũng là do việc bầu cử của ông ta có dính dáng đến một băng nhóm Mafia.

 

Thật trớ trêu, khi người ta muốn đánh đắm mình ở trong các cơn say để quên để gánh nặng của cuộc đời, thì lại càng sa xuống bùn để cho gánh nặng đó càng nặng hơn. Dại dột hơn thế, nhiều kẻ say sưa còn chặt đứt cả những phương tiện sống, những sở trường, những công việc giúp ích rất nhiều cho cuộc sống của mình. Chẳng hạn, mới đây cầu thủ tiền đạo Mutu rất tài năng, sút được cả hai chân, đầu quân cho đội Chelsea đang lên như diều trong giải bóng đá vô địch Anh quốc, cũng như cúp C1 của các câu lạc bộ hàng đầu châu Âu, đúng vào lúc đội bóng đang ôm những tham vọng to lớn, thì Mutu bị loại khỏi cuộc chơi vì dính vào ma tuý. Đáng tiếc thay, một tài năng đang độ nở rộ như vậy, lương cả triệu Euro mỗi năm, mà lại bị gạt ra ngoài rìa khỏi cuộc chơi của mọi người, vị huấn luyện viên của đội bóng nói: "Chúng tôi phải nói “không” với Mutu, vì một cầu thủ chuyên nghiệp thì phải biết mình được làm gì". Cái gì đang làm, cái gì không được làm, cái gì đáng thụ hưởng, cái gì không được thụ hưởng, đó là sự phân biết cái tốt, cái xấu của lý trí. Và một khi lý trí không còn biết phân biệt thì sẽ rơi vào tình trạng đáng tiếc, cầu thủ Mutu cũng chỉ là một thí dụ đáng tiếc trong vô vàn thí dụ, khi con người đã không biết dùng lý trí để cầm lái cuộc đời mình. Thế là vài lọn khơi móc - phin đã đốt cháy cả cuộc đời, thành thân bại danh liệt.

 

Giờ nói đến thú vui cờ bạc cũng được nhiều người đam mê không kém. Ở đời ai chẳng thích có nhiều tiền như người Việt nói: “Có tiền mua tiên cũng được”. Hay như cách nhiều người quan niệm, có tiền là có tất cả, nhà cao cửa rộng ư - mua được ngay, xe hơi hiện đại ư - sắm được liền, còn vợ trẻ và đẹp - chẳng lẽ nhiều tiền lại không cưới được.... Muốn có nhiều tiền thì hãy lao động nhiều, có trồng cây thì có ngày hái quả, nhưng còn có quá nhiều người dại dột cho rằng, họ có thể làm giàu chóng vách nhờ đánh bạc, trong chốt lát đặt một chút tiền vào cửa ru-lô đặt một ăn trăm, ăn nghìn, ăn vạn, hay ăn triệu, thế là nhoáng một cái nếu may mắn tiền sẽ đổ vào túi mình như thác lũ. Bỗng chốc tay trắng nổi cơ đồ. Ở đời, không làm mà muốn ăn nhiều, không chỉ có đánh bạc, mà nghề đạo chích chuyên khoét ngạch trèo tường, cũng có thể "Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm". Nhưng đi ăn trộm “đi đêm lắm có ngày gặp ma”, trước sau cũng bị người ta bắt được, tống giam vào ngục, bởi thế người ta thích lao vào cờ bạc hơn, vừa được bước vào nơi đèn đuốc lập loè trông vừa oai vừa danh giá, vừa không phải khoác lấy nỗi lo trở thành tội phạm, lại vừa có thể không cần một đêm mà chỉ trong thời gian chưa tàn điếu thuốc, giấc mơ triệu phú bỗng trở thành hiện thực. Đây là một đam mê thật dại dột được bắt nguồn từ những trí não lười biếng: muốn ăn nhiều có cả nhà lầu, xe hơi, quần áo đẹp, mà không muốn làm. Văn hào Oc tavio Paj đã có một phát hiện đầy chí lý: ở đời chưa từng có kẻ nào hy vọng sống sung túc vì cờ bạc rút cục lại không phải sống trong nghèo đói khốn khổ. Đó là nguyên lý nhân - quả tất yếu, mà từ xưa đến nay từ Chúa Trời đến Đứa Phật cũng không thể vượt qua việc, có trồng cấy có gặt hái, có làm mới có ăn như người Việt nói “tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”. Người Trung Quốc nói một cách tất yếu rằng: “Đồng tiền không phải của anh sẽ không bò vào túi anh”. Những kẻ không làm lại ôm giấc mộng làm giàu bằng những con bài không đổ mồ hôi ở nơi bài bạc, có thể lúc nào đó trúng nhiều tiền, nhưng đó chỉ là những đồng tiền vãng lai đến thăm trong nháy mắt rồi lại ra đi, chúng là những đồng tiền dạo chơi chứ không phải những đồng tiền sở hữu mà có thể nằm sâu trong túi những con bạc để giúp cho giấc mộng của họ trở thành hiện thực. Người Việt có câu:

 

“Của trời trời lại lấy đi
Giương đôi mắt ếch làm chi được trời!”

 

Cờ bạc không những chẳng nuôi sống người ta, mà còn làm cho lắm kẻ khuynh gia bại sản, bán vợ đợ con, thân gửi chốn lao tù làm bạn cùng song sắt với đồ ăn cơm hẩm cháo hiu. Quả thực những kẻ “há miệng chờ sung”, nếu sung có rụng đúng miệng thì cũng chỉ là qủa sung, chứ làm sao chó thể biến thành quả dưa hấu hay quả đào lại càng không thể nào biến thành cao lương mỹ vị. Lạc vào chốn cờ bạc là lạc vào nỗi đam mê cay cú say như điếu đổ, nhưng đó có phải hạnh phúc không khi nó nhấn chìm người ta trong nghèo túng, thiếu danh dự, và lao tù.

 (xem tiếp)