Hiệp ước tồn tại cùng chung sống không chỉ có ở loài người.Các nhà sinh học phát hiện, ngay cuộc sống mang bản năng của động vật, trên rừng, trong hồ, bên suối hay dưới biển, các con vật đều sống theo sự phân bố nào đó để cùng tồn tại. Loài cá dưới nước chẳng hạn, có những con cá ăn nổi ở mặt nước, lại có những con cá ăn lưng chừng, còn tôm cua thì kiếm thức ăn ở tầng đáy. Rõ ràng hơn là xã hội bầy đàn của loài tinh tinh, theo nghiên cứu, chúng chung sống rất hoà thuận, khi gặp bất kỳ cuộc xung đột nào về thức ăn, nơi ở, hay bạn tình, chúng đều thỏa hiệp giải quyết mâu thuẫn trong hoà bình một cách rất chóng vánh, chính thế mà bầy đàn của chúng mỗi ngày một đông và trình độ tiến hoá cao hơn hẳn các loài khác. Hoặc như loài dê núi, khi nảy ra mâu thuẫn hai con đực liền đọ sức, từ hai phía đối nghịch chúng lao vào nhau rất mạnh, nhưng chỉ dùng lực của phần trán để tỉ thí, chứ không dùng sừng nhọn hoắt để hạ thủ đối phương, sau cuộc va chạm nảy lửa đó, con nào cảm thấy mình yếu hơn thì đành rút lui, cam chịu lép vế. Như vậy qua cả cách xung đột loài vật cũng có những qui tắc bản năng nhất định để gìn giữ giống nòi. Vậy khi con người không có hiệp ước hoà bình cùng chung sống thì sao? Con người là một động vật có lý trí rất cao, lại cũng là động vật biết dùng phương tiện, giờ đây con người không chỉ có súng liên thanh, xe tăng, tàu chiến, máy bay, mà còn có cả tên lửa vượt đại châu, bom nguyên tử, bom vi trùng được điều khiển băng tia lade, nếu con người không biết tôn trọng chung sống hoà bình với người khác thì sẽ ra sao? Các chuyên gia tính rằng, nếu chiến tranh nguyên tử và hạt nhân xảy ra, chỉ cần sau vài nút bấm, cả thế giới sẽ tiêu tan thành một nấm mồ đầy chất phóng xạ. Chúng ta hãy thử xem lại, hai cuộc chiến tranh thế giới xảy ra trong thế kỷ XX, mà tác hại của nó vẫn còn in đậm trong cuộc sống thời hiện đại.
- Chiến tranh thế giới thứ nhất: 33 quốc gia lao vào tranh chiến, làm 8 triệu người chết, 21 triệu người bị thương, tiêu tốn 200 tỉ đô la.
 

- Chiến tranh thế giới thứ hai: hơn ba mươi quốc gia lâm chiến, nhưng lây lan thành cuộc chiến tranh trên phạm vi toàn thế giới, gây ra 28 triệu người chết, con số thủ tiêu không thể đánh giá chính xác vì quốc gia nào cũng giấu nhẹm tội ác này, con số bị thương lên đến hàng trăm triệu, số tiền tiêu tốn gấp mười lần chiến tranh thế giới thứ nhất, ước tính 2000 tỉ đô la(14)

 

Chiến tranh xảy ra, như chúng ta đã bàn, nó bắt nguồn từ dục vọng của cá nhân này hay cá nhân kia, gia tộc này hay gia tộc khác, quốc gia này với quốc gia nọ. Đáng tiếc thay, khi tìm cớ gây chiến, phía nào cũng tìm ra cái lý của mình, chẳng hạn đứng vào lúc nước Đức khủng hoảng, Hitler đã tìm các chấn hưng nước Đức bằng lời kêu gọi:”Chúng ta hãy tàn ác nếu cứu được nước Đức, chúng ta đã thực hiện một nghĩa cử cao đẹp nhất thế giới. Chúng ta hãy làm quấy. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta đã diệt trừ một việc quấy nhất thế giới. Chúng ta đã mở ra con đường phục hồi đạo lý (Mein kamf, tr. 686). Thật là vô cùng thiếu công lý. Tại sao có thể đánh thức lòng ích kỷ của dân chúng để nhân danh quyền lợi của một quốc gia khác bị người Đức đem máy bay, xe tăng, đại bác và những lò thiêu xác đến chà đạp lên quyền sống của muôn triệu người? Tại sao Hitler lai có thể nhâng nhâng dám nói rằng: ”nếu cứu được nước Đức, chúng ta đã thực hiện một nghĩa cử cao đẹp nhất thế giới”? Chỉ vì một lẽ rất đơn giản, Hitler hoàn toàn tin tưởng rằng, khi biết đánh thức dục vọng ích kỷ vụ lợi của mọi người thì người ta sẵn sàng tin vào ngay cả điều phi lý nhất. Đây cũng chính là nguyên lý đối địch mạnh nhất của công lý và phi lý, cái thiện và cái ác. Công lý ư? Có lẽ ai ai cũng sẵn sàng sống công lý để cùng tồn tại trong hoà bình, nhưng vì muốn chữ ”lợi” nên người ta sẵn sàng chà đạp hay tảng lờ công lý, để tìm kiếm cái lý riêng của mình, thực chất là tìm kiếm một lá chắn che đậy sự vụ lợi. Cùng sống chung ư? Những tên cướp nhìn thấy một đoàn thương gia giàu có đi qua, chúng liền nảy ra ý định đánh cướp tài sản để không phải làm cũng được giàu có, thế rồi chúng nổi hiệu lệnh, xông vào đoàn thương gia chém giết cướp của, khi đó chúng đã đổi công lý và bản hiệp ước chung sống hoà bình lấy của cải. Có vô vàn các kiểu đổi hiệp ước chung sống lấy vụ lợi như thế. Tên lừa đảo kia trộn thuốc độc vào thức ăn đầu độc vị khách nọ để nhẹ tay nẫng đi túi của. Ả giang hồ kia sau khi đã nhận thù lao, lòng tham thấy còn chưa đủ, bèn cho vị khách làng chơi một nhát dao để lấy đi cả túi bạc mới thấy đã nổi lòng tham. Tên quan lại kia sau khi thưởng thức món hàng trinh tiết sợ bị bại lộ sẽ ảnh hưởng đến con đường thăng quan tiến chức của mình bèn ra lệnh cho tay chân hạ thủ rồi ném xác cô gái trẻ trôi sông. Vì tham lợi rất nhiều người sẵn sàng bước qua công lý. Theo những kẻ vụ lợi thì công lý mới chỉ là quyền sống chung với mọi người, nhưng họ cho thế là chưa đủ mà muốn bất công để sống trên vai trên cổ người khác, hưởng những đặc quyền đặc lợi ưu tiên mà người khác phải nhịn ăn, nhịn mặc, sống trong nghèo hèn để trở thành phương tiện yếm thế phục vụ mục tính ưu tiên của những kẻ ăn trên ngồi trốc. Chính Hitler cũng nghĩ như vậy, và hắn đã đánh vào dục vọng vụ lợi đòi ưu tiên của một số người Đức, muốn được coi là siêu nhân, hay dân tộc đặc chủng và có quyền ”tiêu diệt” cả thế giới để làm lợi cho những tên Đức Quốc xã.

 

Chúng ta vẫn đang nhìn vào hiện thực để đặt ra tiền đề hiện thực về một nhân loại cần công lý để được cùng sống trong hoà bình. Rõ ràng từ ý thích hút thuốc lá của mỗi cá nhân đã liên quan đến tinh thần công lý của cộng đồng, cho đến trách nhiệm của mỗi quốc gia trong tinh thần công lý hoà bình, bởi lẽ, thế giới ngày nay nếu không nhận biết trách nhiệm công lý cùng tồn tại sẽ đứng trước thảm hoạ diệt vong chỉ trong nháy mắt bởi các nút bấm hạt nhân, nguyên tử. Bài học thất bại của nước Đức Quốc xã trong chiến tranh thế giới thứ hai đã chỉ ra quá rõ, khi một dân tộc muốn chà đạp quyền sống của các dân tộc khác để đòi quyền ưu tiên thượng đẳng, bản hiệp ước vô hình chung sống giữa loài người bị xé bỏ, người ta sẽ tìm cách đánh trả kẻ chà đạp đời sống của mình. Kết quả, nước Đức Quốc xã bị phe đồng minh đánh bại và phải ký hiệp ước đầu hàng vô điều kiện, phải ra toà án quốc tế, thật đáng soi thay!

 

Những điều vừa bàn đến như những bằng chứng hiện thực để chúng ta cùng nhận biết: con người muốn sống chung với nhau không thể không có công lý. Nhưng tất cả những điều đó chưa phải là khoa học về công lý, hay hệ thống công lý, giờ đây cả thế giới đang sống trong những điều luật buộc, không có quốc gia nào không có pháp luật cũng như không có sắc tộc nào dù mọi rợ đến đâu không có những lề luật và qui tắc xóm làng, mà pháp luật thì chỉ có thể ra đời trên nền tảng công lý và nhắm về công lý. Có nghĩa công lý vừa là khởi hành vừa là đích đến, vừa là nền móng vừa là đỉnh tháp của pháp luật. Tại sao vậy? Như trên chúng ta đã bàn ai ai cũng ham sống, vì thế, nhiều người sẵn sàng đổi cái lý lấy cái lợi, người ta ”gắp lửa bỏ tay người”, ăn không nói có, đổi trắng thay đen để làm gì? Để bánh hại địch thủ, hay đồng nghiệp, hoặc xóm giềng của mình, mong thanh toán người khác vụ lợi cho mình.

 

Người ta bóc lột ăn quịt tiền công để làm gì? Để biến người khác thành phương tiện phục vụ cho mình. Vậy vấn đề chính của tính vụ lợi là: biến người khác thành phương tiện phục vụ mình. Tên kẻ trộm biến người bị ăn trộm thành nạn nhân, làm lụng bấy lâu, để dành được ít vốn bị hắn nẫng mất. Tên kẻ cướp biến người bị ăn cướp thành nạn nhân cách thảm khốc hơn, có thể phải đổ máu hay trở thành thây ma dưới lưỡi gươm hay nòng súng của hắn, để lại toàn bộ của quí cho hắn cướp đi. Ông chủ biến kẻ làm công thành nạn nhân khi đè nén, ức hiếp, bắt làm quá sức, ăn quịt tiền công, rồi đuổi việc, đuổi ra khỏi nhà, không chốn nương thân. Kẻ làm công biến ông chủ thành nạn nhân, khi lười nhác làm công, rồi đánh xoáy đồ đạc, tiền bạc của chủ. Nhà vua bốn nhân dân thành nạn nhân khi sống xa hoa trác táng trên thuế má, đè đầu cắt cổ dân lành, cướp vợ người, con gái người về làm cung phi, thiến - hoạn đàn ông thành quan hoạn để phục vụ mình, rồi ra tay tàn bạo treo cổ, chặt đầu, đánh thuốc độc, bắt giam ngục thất những người dám nói lên sự thật. Tình nhân biến tình nhân thành nạn nhân khi ỡm ờ đem trái tim tình yêu ra tung hứng đùa cợt, trục lạc, trục lợi, rồi phụ bạc, bỏ của chạy lấy người. Chồng biến vợ thành nạn nhân khi đánh đập thô bạo. Vợ biến chồng thành nạn nhân khi bới móc rủa sả không ngớt trong khi chẳng hoàn thành bổn phận của mình. Cha biến con thành nạn nhân khi không thể dạy con tấm gương của tình thương, và nghĩa lý, mà chỉ phùng mang, trợn mắt đem roi dọa nạt. Con biến cha thành nạn nhân khi chơi bời lêu lổng, bỏ hễ học hành. sa đà nghiện hút, không tự giác làm tròn nghĩa vụ của mình. Giống như người Trung Quốc có câu: ”Quân -quân, Thần - thần, Phụ - phụ, Tử - tử”. Nghĩa là muốn bất kỳ xã hội hoặc gia đình nào lành mạnh ổn định thì: vua phải ra vua, bề tôi phải đáng bề tôi, cha đáng mặt làm cha, và con phải hoàn thành bổn phận làm con.

 

Muốn gia đình và xã hội bình an thì phải có công bằng. Nghĩa là không kể một ai, ngoài xã hội lớn như vua và bé như dân đen, trong gia đình lớn như cha và bé như con nhỏ, đều phải tuân thủ công lý, chứ không thể ”cha nói oan, quan nói hiếp, chồng có nghiệp nói thừa”. Về vai trò và chức năng có người cao người thấp, nhưng tất cả đều bình đẳng trên tinh thần công lý. Đó là khoa học. Nhìn vào tự nhiên chúng ta thấy từ cái cây rất cao vì mọc rất thẳng, đến cái cây bé tẹo cũng phải mọc những cành có xứng, vật to đến đâu, hay vật nhỏ đến đâu, đều phải đạt tới sự cân bằng mới trụ vững được. Nhìn vào bộ xương của những con vật bé nhất đến con to nhất, bộ xương cá hay bộ xương người, chúng ta đều thấy mọi cơ thể tồn tại được là bởi cấu trúc cân bằng của chúng. Với con người cũng vậy, không thể cậy làm vua, cậy làm cha, hoặc cậy làm dân đen ngồi bệt không sợ ngã, cậy được làm con nhỏ được nuông chiều mà không cần đến tinh thần công bằng, tức công lý. Con người không thể đòi một chỗ sống trên vai người khác, không thể đòi mình là cứu cánh để người khác phải là phương tiện, triết gia Kant nói: ”Tất cả mọi người đều bình đẳng về phẩm giá” (tous les hommes étaient égaux en dignité)(15). Mọi người có bình đẳng không? Chẳng lẽ một ông quan ăn trộm thì tội ăn trộm không hình thành, một ông quan toà hiếp dâm thì không thể thành án hay một kẻ nghèo khổ đành giở miệng lưỡi lừa đảo lại có thể được miễn thứ như là không có? Thời đại mới đã chứng tỏ cho dù cả tổng thống, cả giám mục, hay quan toà đều có thể bị các nạn nhân đưa ra vành móng ngựa vì tội lỗi của mình. Hãy xem như cầu thủ đấm bốc Tyson kia, sức khoẻ thì vô địch thiên hạ, vung nắm tay lên thì đối thủ cả tạ cũng bị đốn ngã nói gì đến người thường, tiền bạc nhiều mức tỉ phú hoàn toàn có thể dễ dàng làm cái việc ”nén bạc đâm toạc tờ giấy”, vậy mà lại bị cô đào tơ liễu yếu tố giác tội lạm dục tình dục, và Tyson không có cách nào thoát khỏi việc đứng trước vành móng ngựa, bị phạt tiền và phạt tù trong song sắt. Vụ án lạm dụng tình dục của Tyson ở đây không nêu lên khía cạnh hình sự, mà muốn nói rằng: người ta không thể tận dụng uy thế hơn hẳn người về cơ bắp cũng như tiền bạc để muốn người khác trở thành phương tiện trục lợi cho mình. Và khi người ta không biết đến luật công bằng, mọi người đều bình đẳng về phẩm giá, thì sẽ bị trả giá liền.

 

Con người bình đẳng trước phẩm giá, bởi lẽ không ai dù lớn hay bé có thể thoát khỏi tội danh của tội mình làm, cũng như ai ai cũng có quyền danh dự và đạo đức khi mình làm việc tốt. Kinh Thánh còn bàn đến một lề luật công bằng khắc nghiệt như sau: ”Sự công bằng của kẻ công bằng sẽ không cứu được nó trong ngày mà nó phạm tội, sự dữ của kẻ dữ sẽ rời bỏ nó trong cái ngày nó rời bỏ sự dữ”. Như vậy, sự”áp đặt công bằng” của Chúa còn không ưu tiên cho kẻ trên mà lại hướng về bao dung cho người dưới, giống như Chúa đã từng tuyên ngôn trong Tân ước, ”Ta đến chữa những gì hư hỏng”. Chúa Jesus cũng từng giải thích: ”Kẻ được cho nhiều sẽ bị đòi lại nhiều, kẻ được cho ít sẽ bị đòi ít”. Người càng quan to lộc hậu, thì lại càng bị tính điểm xét nét hơn người. Người được cho nhiều tức là người hưởng nhiều bổng lộc hơn - ngang bằng với trách nhiệm họ phải gánh vác, vì thế bị xét lỗi nặng hơn. Còn người có ít bổng lộc - ít trách nhiệm gánh vác, thì bị qui chiếu ít hơn. Khi người ta được bình đẳng, tức không phân biệt lớn-bé, cao-thấp, sang-hèn, nghĩa là trước đó người ta phải được tự do. Triết gia Heidegger nói: ”Tự do là nền móng của nền móng" (la liberté est le fondement du fondement) (l'essence du fonde ment).

 

Tự do là gì mà có thể là nền móng của những nền móng, nghĩa là nếu không có nó tất cả những nền móng sẽ sụp đổ, và trên đó tường, mái, và tháp cũng sụp đổ theo, chẳng còn gì nữa cả? Sách ”Bốn nền triết học” (Four Philosophies) viết: ”Mỗi cá nhân có đầy đủ tự do nền tảng của mình, đó là quyền tự quyết” (The individual self has all the freedom essential to self determination)(16). Mỗi cá nhân không có quyền tự quyết khởi phát ngay trong bản thân mình, thì làm sao có thể được coi là một con người có quyền sống. Chúng ta hay hình dung, một chiếc đầu máy xe lửa tự hành kéo theo đằng sau cả dãy toa xe, những toa xe không có động cơ tự vận hành được, vì thế chúng không thể tự khởi động và lăn bánh, nên chúng chỉ có thể được các đầu máy kéo đi. Một cá nhân không có quyền tự quyết cũng vậy, anh ta chỉ thụ động như một toa xe, chứ không thể là một cá nhân hoàn chỉnh độc lập. Như vậy mọi việc anh ta làm sẽ không thuộc quyền anh ta, cho dù muốn làm tốt nhưng ông chủ bắt không được làm, cho dù không muốn làm xấu nhưng ông chủ bắt phải làm, vậy thì làm sao anh ta được và phải mang trách nhiệm hoàn toàn về tư cách và đạo đức của mình? Con người trước hết phải được làm người bằng cách tự quyết cũng như tự giác mang lấy trách nhiệm của riêng mình, mà cái quyền tự quyết đó chỉ có thể có được bởi ”Tự do”.

 

Chúng ta đang bàn đến nút thắt căn bản nhất của nhân loại. Nhân loại cần phải sống chung vì thế không thể thiếu được công lý. Nhưng trước khi nhận biết công lý, mỗi con người phải được tôn trọng giá trị tự thân ở ngay bản thân mình, đó là: Tự do. Nhưng tự do phải nằm trong tương quan tự do cho người này và cho cả người kia, cả những người xung quanh và tất cả thiên hạ, chứ không thể có thứ tự do chỉ dành cho vài ông chủ muốn làm gì thì làm, còn người khác thì phải sống luồn cúi dưới ách áp đặt của kẻ mạnh. Nghĩa là tự do cũng phải được liên đới trong tinh thần công lý. Tự do như nhà tư tưởng Emerson ví, không phải tự do giành cho kẻ mạnh như thứ tự do vài con sói mặc sức tung hoành vào bầy cừu đánh chén thỏa sức, mà tự do thiết yếu dành do kẻ yếu giống bầy cừu được tự do gặm cỏ cạnh những con sói mà chẳng lo sợ gì. Đó là hình ảnh, nhưng hoàn toàn gần gũi với xã hội hiện thực, ở đời không phải người lớn có quyền bắt nạt trẻ em, đàn ông cơ bắp cuồn cuộn thì bắt ép đàn bà, người giàu cậy tiền của ức hiếp người yếu, kẻ có chức quyền thì lợi dụng việc công báo thù riêng với hạ cấp hay dân lành. Tự do không dành cho vài cá nhân, cũng như pháp luật không chỉ tìm cách đứng về kẻ có quyền có tiền, mà tự do phải được giành cho tất cả mọi người trong tinh thần công lý, đó chính là cái mà Kant gọi là ”Tự do phổ quát” ông nói: ”Tự do của mỗi người có thể thuận với tự do của người khác theo luật phố quát của tự do. Trong xã hội dân sự, Kant chỉ nhìn thấy tương quan giữa người với người” ( la liberté de cha cun peut’s accoder avec la liberté desautres d’après une loi universelle de liberté. Dans la socíeté civile kant ne voit que des apportes de personne à personne)(17)

 

 

 


Xã hội chẳng có gì khác là tương quan giữa người với người. Nhưng trước khi có tương quan đó, mỗi người được là mỗi cá nhân nhờ quyền tự do, nói giản dị mỗi người phải là một đầu máy tự hành chứ không phải toa xe chỉ để người ta kéo đi hết chỗ này qua chỗ khác. Kant đã nói, tụ do là chìa khoá để làm người, cũng như là cứu cánh tuyệt đối để định nghĩa con người là con người, chứ không phải là những động vật đi hai chân. Kant nói: ”Tự do là chìa khoá mở cửa. Tự do nhắm tới mục đích tuyệt đối” (La liberté est la”clef de vôute”. La liberté - comme orienté vers la fin absolue)(18). Không có chìa khoá mở cửa, chúng ta không vào được trong nhà, không có chìa khoá mở cửa cổng thành chúng ta không thể bước vào một đô thành mang những giá trị mà mình muốn tìm kiếm, nghĩa là, tự do giống như chìa khoá - thứ mở ra cánh cửa đầu tiên cho mọi giá trị của con người, không có tự do sẽ không có gì hết. Chúng ta hay thử ngắm một đàn ong. Xã hội của chúng khá tinh vi, ngăn nắp và phức tạp. Nhưng con ong thợ chỉ biết tha nhựa về xây tổ, con ong chiến chỉ biết thấy kẻ nào đến gần dù con bò, con voi, hay chiếc ô tô đều lao ra châm một lần đứt ngòi để hy sinh, hay con ong truyền giống chờ đến ngay thu tinh cho ong chúa một lần để chết… tất cả chúng làm theo thói quen hay chức năng được tạo hoá áp đặt, chứng không có tự do để lựa chọn làm việc này hay việc kia theo y chúng, chúng hoàn toàn là thứ thụ tạo được tạo hoá áp đặt. Nhưng con người khác hẳn, vì có chìa khoá của tự do sẽ được lựa chọn các hành động của mình. Sau Kant coi tự do là chìa khoá, Sartre đã chỉ rõ: ”Tự do tôi chọn là ai trong thế giới này” (Je ne trouve dans un monde et je me choisis ce que”je suis”)(19)

 

Tại sao phải có tự do để chọn mình là ai? Sartre đã kiến giải, nếu cá nhân không được tự do để phủ định hoặc từ chối làm những việc xấu, tất nhiên cá nhân đó sẽ trở thành vô luân. Và liệu cá nhân đó có sống sót được không khi hại người sẽ bị người hại lại, tấn công người sẽ bị người tấn công lại, chà đạp người sẽ bị người tìm cách đánh đổ. Vậy thì tự do được chọn mình là ai, là bởi, mình thấy việc gì tốt mình làm, mình sẽ trở thành người tốt, thấy việc gì xấu thì nhất quyết từ chối làm để không bị trở thành kẻ xấu. Vậy thì, nếu không có tự do con người sẽ không có quyền lựa chọn hoặc làm việc tốt hoặc tránh việc xấu, con người sẽ là thứ thụ động trong tay kẻ khác, và không thể được tự giác trở thành con người theo ý mình. Sartre nói: ”Ý thức của cá nhân tự do là quyền phủ định” (la science individuelle est libre, c' est - à - dire négation) (20)

 

Như trên chúng ta đã bàn, tự do không dành cho kẻ mạnh, giống không dành quyền tự do cho vài con sói nhảy vào đàn cừu, vì thế sau khi xác định quyền tự do của mỗi cá nhân, chúng ta buộc phải đi đến vấn đề cốt tử của chung, đó là: tự do của người này sao cho không thể chà đạp lên tự do của người khác, và ngược lại. Sartre bàn rằng: ”Tự do của một người không phải tự do của kẻ khác tạo ra, nhưng tự do của kẻ khác là lý do và hoàn cảnh tự do mình và ngược lại”(21). Như vậy, tự do trong hoàn cảnh sống chung cũng như trong công lý của loài người là tự do tương hỗ, có đi có lại với nhau, chứ không phải người này được thả cửa tự do còn kẻ kia bị lép vế chèn ép mất tự do. Sartre nói: ”Trong khi ham muốn tự do. Chúng ta phát hiện rằng tự do của chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào tự do của tha nhân(22). Như vậy, nếu ta tạo cho người khác được tự do, ta cũng sẽ được tự do, nếu ta muốn tự do nhiều hơn bằng cách lấn át tự do của người khác ta sẽ không được nhiều hơn mà sẽ bị lấn át ngược lại, và mất tự do hơn.

 

Tự do là thước đo đầu tiên để phân biệt sự khác nhau giữa ông chủ và đầy tớ. Ông chủ thì được tự do hơn, còn đầy tớ thì bị cướp mất tự do trở thành kẻ bị đè đầu cưỡi cổ. Nói theo cách khác, ông chủ đã tự biến mình trở thành mục đích được phục vụ, còn đầy tớ bị biến thành phương tiện để phục vụ ông chủ. Kế cận sát với giá trị của tự do, đây là một móc nối then chốt trong tương quan giữa người với người mà Kant đã chỉ ra rất sát sườn, rất rốt ráo, rà đi soát lại nhiều lần. Ông nói: ”Chúng ta đòi hỏi cách đối xử nhân loại, nghĩa là cá nhân ở giữa cá nhân khác, luôn luôn như một cứu cánh và không bao giờ là phương tiện” (nous commande d’agir de maniere à traiter l'umanité aussi bien dans notre personne que dans la personne des autres, tonjours comme unefin et jamais un moyen)(23). Nếu con người bị đối xử như phương tiện, thì khác nào con trâu phải kéo cày, con bò bị vắt sữa, cỗ máy vận hành cho chủ mà chẳng được sống như một con người có nhu cầu tự thân của tâm hồn. Bi kịch của loài người tranh chiến tương tàn diễn ra liên miên từ xưa đến nay bởi lý do chính, kẻ này muốn biến người khác thành phương tiện để phục vụ mình, người bị đè nén trở thành phương tiện đấu tranh lật nhào kẻ đè đầu cưỡi cổ mình để đòi lại quyền làm người, cứ thế ”oan oan tương báo”, ”nồi da sáo thịt” liên miên, cho đến khi nào nhân loại nhận biết lẽ công lý, nghĩa là biết chung sống hoà thuận, người này không cướp quyền sống của người khác thì mọi người mới được sống an toàn, thỏai mái, tự do, và hạnh phúc. Bởi thế, Kant tấn phong con người trên ngai vàng của tự do, nhờ đó mà con người thoát lốt khỏi đời sống bản năng chỉ biết sống theo lề luật tự nhiên của muông thú, Kant nói: ”Chỉ có con người là tạo vật khả trí, là cứu cánh tự thân. Nó là chủ thể của luật đạo đức, là thần thánh khi đạo đức nhờ tính tự trị của tự do” (l'homme seulement, et avee lui toute créature raisonnable, est la fin en soi. C'est qu’il est le sujet de la loi morale, qui est sante en vertu de l'autonomie de sa liberté)(24)

                                                                                        (Xem tiếp)