Của mình thì giữ bo bo

Của người thì thả cho bò nó ăn.

Sống công lý là gì? Đã đến lúc chúng ta phải bước tới nguyên lý khoa học của công lý. Khi các môn đệ hỏi Chúa Jesus về lẽ sống của nhân loại, trước tiên chúa Jesus dạy: ”Ngươi phải yêu tha nhân như chính mình ngươi”. Nghĩa là mỗi chúng ta muốn yêu cuộc sống của mình chừng nào, thì hãy biết yêu người khác chừng ấy, bởi lẽ người khác giống như ta, chỉ là một cái tôi khác. Họ đều có quyền ăn, quyền ở, quyền làm việc, quyền sinh hoạt, quyền an toàn, quyền mưu cầu hạnh phúc. Sau đó Chúa Jesus dạy: ”Hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ, vì đây là luật pháp và lời tiên tri ’’ (Matheus 7,12). Người khác là một cái tôi khác giống như ta, ta muốn gì họ cũng muốn cái đó, ta thích ăn ngon mặc đẹp, họ cũng thích ăn ngon mặc đẹp, ta thích nhà cao cửa rộng, họ cũng thích nhà cao cửa rộng, ta thích nhiều tiện nghi họ cũng thích nhiều tiện nghi, ta thích ô tô đẹp họ cũng thích ô tô đẹp. Người Việt có câu, ”được lòng ta xót xa lòng người”, muốn nói rằng, ta chớ có vụ lợi cho mình mà chẳng biết nghĩ đến người, được việc cho ta, ta mừng, hỏng việc cho người - người lo lắng.

 

Cũng một câu hỏi như vậy theo chiều ngược lại, học trò của Khổng Tử hỏi ông rằng, có cái gì có thể thực hành xuyên suốt cuộc đời, ông liền bảo: ”Khi không muốn người khác làm cho ta cái gì, thì đừng làm cái đó cho người”. Ta không muốn bị đánh da thịt dập nát, vậy ta cũng chớ đánh người làm dập nát da thịt họ, ta không muốn người lừa đảo nẫng tiền của ta, thì cũng chớ lừa đảo người, ta không muốn bị giam cầm bỏ đói trong song sắt vậy cũng chớ giam cầm bỏ đói người, ta không muốn bị người vu oan giá hoạ làm cho thân bại danh liệt, vậy cũng chớ vu oan giá hoạ để người thân bại danh liệt, ta không muốn bị người chĩa nòng súng vào ta nhả đạn, vậy cũng chớ nhằm bắn người, ta không muốn người ám toán ta bằng thuốc độc, vậy cũng đừng ám toán người, ta không muốn bị người ném bom huỷ diệt, vậy cũng chớ mang bom đi ném người. Sách ”Những vấn đề lớn của triết học” (Les Grandes Notions de la Philosophie) viết rằng: ”Công lý là ý thức về những cái phải làm, những cái không được làm trong quan hệ với người khác” (la Conscience du fait qu’il y a des choses à faire et des choses à ne pas faire dans la relation avec les autres)(25). Trong quan hệ với người khác là gì? Một người dùng cơ bắp làm công cho ta, ta phải trả tiền, hoặc trả lại bằng công, người bán cho ta một mớ rau ta phải trả tiền ngang mớ rau, bán một cân thịt phải trả tiền ngang cân thịt, bán một chiếc áo phải trả ngang chiếc áo, bán một ngôi nhà phải trả tiền ngang ngôi nhà, bán một chiếc xe hơi phải trả ngang chiếc xe, trái lại ta không thể vừa ăn quịt tiền công của người, hay dùng quyền lực và vũ lực ép giá bắt người bán rẻ hay cướp không của người.

 

Sách triết học còn lý giải: ”Công lý đó là làm cái người ta phải và đem cho mỗi người cái họ được hưởng” (être juste, c'est faire ce qu’on doit… donner à chacum ce à quoil a droit)(26). Đó là một sự thật, có thể nói cách ngắn gọn: ai có công thì được thưởng, ai có tội thì bị phạt, chớ có làm ngược lại có công thì bị phạt, có tội chẳng những định tha lại còn được thăng quan tiến chức. Người Việt vẫn thường kể tích truyện ”Lý Thông cướp công Thạch Sanh”. Lý Thông kia mưu mô xảo quyệt đến ngày phải nộp mình cho hang sâu có mãng xà, liền kết nghĩa anh em với Thạch Sanh là người trung hậu và dũng cảm. Lý Thông lừa Thạch Sanh thay mình vào hang nộp mình cho mãng xà, vào đến hang Thạch Sanh chẳng những không để mãng xà ăn thịt còn dùng dao chém chết mãng xà Khi mãng xà chết, Lý Thông bèn nghĩ ngay ra kế cướp công của Thạch Sanh, liền lu loa lên rằng, em đã chém chết mãng xà của nhà vua nuôi, vậy hãy trốn đi. Thế rồi, Lý Thông gánh đầu con mãng xà vào cung vua tinh thưởng, được phong tặng anh hùng và được nhà vua gả công chúa cho. Nhưng sự việc tưởng kín như bưng vẫn bị bại lộ, như người Trung Quốc nói: ”Thiên võng khơi khơi, sơ nhi bất lậu”, nghĩa là: lưới trời lồng lộng thưa mà không lọt, họ cũng còn nói: lẽ phải là trời, Lý Thông bị sét đánh chết, và công chúa được số phận thưởng cho Thạch Sanh. Như vậy công lý vẫn trở về với con người, dù kẻ xấu có mưu mô xảo quyệt đến đâu, thì kẻ có công vẫn được thưởng công, kẻ có tội thì bị trừng trị. Đó là công và tội, hai việc làm ở hai thái cực dễ nhận biết. Nhưng công lý còn đòi hỏi sự đúng đắn trên từng gang tấc, chẳng hạn cùng tham gia chạy đua, người chạy về thứ nhất phải xứng đáng thứ nhất, người chạy về thứ hai phải xứng đáng thứ hai, người chạy hết mười giây trên một trăm mét không thể trở thành người đạt thành tích cao hơn người chạy cùng quãng đường ấy hết có chín giây. Công lý là: xứng dáng cái người ta được hưởng, chỉ một câu nói đó thôi, mà đã gây tổn hại biết bao xương máu của loài người mong nhân chân bài học ấy. Và giờ đây, sự thật không thể chối cãi được rằng, hầu hết thế giới đang sống trong chế độ dân chủ cộng hoà, đó là bằng chứng hùng hồn nhất cho công lý: người ta được hưởng cái mình làm ra.

 

Nếu người ta không được hưởng ngang bằng với những gì mình làm ra thì sao? Đó là điều ngay từ thời cổ đại, triết gia Socrate đã đặt ra giây phút huy hoàng nhất cho lý thuyết của nền ”cộng hòa”, một mô hình chính trị lý tưởng nhất cho công lý sống chung của con người. Socrate cho rằng, nếu không biết sống chung bằng cách cộng hoà với nhau, nhân loại sẽ chìm trong bất đồng, hận thù tranh chấp không bao giờ dứt. Chẳng hạn ông chủ muốn bắt kẻ làm công làm nhiều nhưng lại muốn trả công ít, kẻ làm công sẽ tìm cách ăn cắp sản phẩm của ông chủ để thay thế tiền công, rồi lãn công, mâu thuẫn giữa hai bên ngày càng tăng, cho đến ngày không còn chịu đựng được nữa ông chủ thuê quân đội hay cảnh sát đàn áp giới làm công, hoặc những người làm công vùng lên đánh trả lật nhào ông chủ. Tất cả mọi giới mọi ngành đều thế, hiệp hội bán hàng muốn bán đắt sẽ gây bất đồng cho hiệp hội mua hàng, trái lại hiệp hội mua hàng muốn mua rẻ sẽ gây bất đồng cho những người bán hàng, hai bên sẽ dẫn đến mâu thuẫn, tẩy chay mua và bán lẫn nhau. Còn các giới khác, người bán rau tăng giá bán sẽ liên đới đến người bán củi, rồi người bán hàng ăn sẽ hệ luỵ, người bán thịt liền tăng giá, người bán đồ trang sức cũng nâng giá theo, dẫn đến những bất đồng, mâu thuẫn và xung đột. Trong thế giới hiện đại, chúng ta từng chứng kiến hàng loạt các sự kiện chứng minh lời của Socrate. Chẳng hạn, hội những người lái xe đình công lên án việc tăng giá xăng, nông dân biểu tình vì hàng nông sản bị hạ giá trong khi hàng công nghiệp lại tăng, thương gia bãi thị vì thuế bán hàng tăng, công đoàn ngành xe hơi biểu tình vì giới chủ đòi sa thải họ khi áp dụng dây chuyền sản xuất mới. Như vậy, nếu con người không biết sống liên đới cộng hoà lẫn nhau hai bên cùng có lợi, mà chỉ đòi sống vụ lợi cho mình tác hại cho người khác, thì sự bất đồng luôn có chỗ nảy sinh làm ngòi nổ cho các cuộc chiến tranh tương tàn. Và thế là, vì từ chối công lý sống chung và cộng hoà cùng nhau, nhân loại đã sống thật dại dột, đổi sự vụ lợi của mồ hôi lấy bài học tương tranh của máu.

 

Ở phần đầu chúng ta đã bàn đến một hình ảnh đơn giản, những chiếc xe muốn chạy phải có đường giao thông. Cách tương tự, xã hội con người muốn tồn tại cùng nhau phải có đạo đức - tức con đường nhân đức của mọi người, sao cho người này vận động không húc đầu vào người kia, khiến sứt đầu mẻ trán rồi cả hai cùng huỷ diệt, như hai con dê không chịu tránh nhau cùng rơi xuống cầu. Muốn vậy con người phải biết sống cộng hoà trong tinh thần công lý. Công lý đây không phải là nói suông, và cách thực tiễn nó đã đi sâu vào hiện thực nhân loại sâu xa và tràn khắp rằng: không có quốc gia nào đang tồn tại mà không dựa trên luật pháp. Luật pháp chính là cách thể chế hoá tinh thần công lý, triết gia Kant quan niệm rằng: ”Ý chí của chúng ta nơi luật pháp nằm trong một tương quan phụ thuộc lẫn nhau” (notre volonté à la loi apparait come un rapport de dépendence)(27). Luật pháp chỉ có khi nằm trong tương quan giữa người với người. Luật là thứ anh quan tâm, tôi cũng quan tâm. Luật khắc chế cả anh, khắc chế cả tôi, sao cho anh không có quyền làm phiền tôi, cũng như tôi không có quyền làm phiền anh. Sách triết học viết: ”Sự can thiệp và bắt buộc là cần thiết để chung sống” (des interdiction et des obligatons sont nécessaire à la coexistence)(28)

 

Chúng ta vừa nói, con người muốn sống cùng nhau thì phải có đạo làm người, đó chính là đạo đức. Theo triết gia Hegel: ”Cuộc sống đạo đức là thực thi của tự do, gồm ba trạng thái: gia đình, xã hội và quốc gia” (Cette vie éthique qui est la réalité effective de la liberté, elle comprend trois moments: la famille, la société civile et l’État)(29). Có thể nói chúng ta đang bước vào dòng xoáy xung đột lớn nhất của dục vọng và công lý. Gia đình là tế bào của xã hội, không có các gia đình không thể hợp thành quần thể xã hội, không có gia đình cũng không thể có các cá nhân vì mỗi cá nhân đều phải ra đời từ một gia đình có cha và mẹ.
Nhưng trước khi có hôn thú lập thành gia đình, thì phải có tình yêu giữa hai tình nhân sẽ trở thành cặp vợ chồng. Ái tình chính là dục vọng lớn nhất của con người, với các nhà tâm sinh lý, đặc biệt với nhà phân tâm học lừng danh thế giới Sigmund Freud đã phát hiện ra tiềm năng khoái lạc (libido) dồn nén mạnh mẽ nhất của con người - vừa là thùng thuốc súng vừa là pháo thăng thiên thăng hoa các hoạt động của con người, chúng ta thấy, ái tình không chỉ là pháo thăng thiên thăng hoa các hoạt động chỉ con người, chúng ta thấy, ái tình không chỉ là khoái lạc tức thời mà đó còn là khoái lạc sinh- tử, nghĩa là nó còn mang theo nguyên lý gieo hạt vĩnh cửu nhằm cứu vãn cuộc hiện sinh yểu mệnh của con người. Freud phát hiện, khi làm tình, việc người đàn ông xuất tinh, vừa thấy thăng hoa tột đỉnh sau đó lại thấy mệt rã rời, đó là: anh ta tràn trề hạnh phúc vì vừa gieo những hạt giống mong có người nối dõi, nhưng cạnh đấy anh ta xuất hiện chứng mệt mỏi vì đã phải xuất ra một lượng lớn sức sống từ trong cột sống của mình làm hạt giống cho đời sau, anh ta giống một cái cây bị chiết tỉa, hạnh phúc vì thấy mầm non mọc lên từ chỗ chiết cành, mệt nhọc vì phải hy sinh thân cành như chi thể của mình dành cho cuộc triết tỉa đó. Nhà tư tưởng ấn Độ Krisnamurti đã nói về sự cực lạc của dục vọng ái tình như sau: ”Tất cả thú vui của chúng ta đều có tính máy móc bởi vậy cho nên chỉ có thú vui dục tính có tính sáng tạo”.

 

Nhân loại là sống chung. Nhưng cửa khẩu quan trọng đầu tiên của nhân loại, chính là tình yêu. Bởi lẽ, tình cảm cha con, mẹ con, anh em, chị em vẫn là những tình cảm trong gia đình còn mang nặng rất nhiều cảm tính máu mủ ruột thịt. Nhưng tình yêu là mối tình mở ra cánh cửa khách quan bước vào thế giới. Về tình yêu và hôn nhân, một số làng của người Ấn Độ có lệ, trai trong làng không được lấy gái trong làng làm vợ, bởi lẽ, người trong làng có dòng hệ gần nhau nên không thể sinh đẻ ra những đứa con khoẻ mạnh, trái lại gái trong làng chỉ được đón chờ những chàng trai ở làng khác đến tán tỉnh, cũng như trai làng muốn lấy vợ cũng phải đi làng khác mà tìm (đối chiếu với Việt Nam, nhiều trai làng ở xứ ta thấy trai làng khác đến tán tỉnh gái làng mình liền chặn lại ở đầu làng tìm cách ngăn cản hay phá hoại, thì thấy trình độ khách thể tình yêu ở ta còn thua xa Ấn Độ. Tình yêu là con trai nhà này đến tìm con gái của nhà kia, con trai lang này đi hỏi con gái của làng kia, hay trai quốc tịch nước này lấy gái quốc tịch nước khác, đó là con đường mở ra với nhân loại hệ trọng đầu tiên của con người. Tình yêu và hôn nhân cũng là một bản lề vô cùng hệ trọng mà các mối quan hệ khác không thể nào có được, bởi lẽ nó mở cửa ra thì bước vào nhân loại, mở cửa vào thì sống trong một quan hệ tế bào gia đình hết sức khăng khít - gối ấp má kề, sinh con đẻ cái. Tình yêu giữa người nam và người nữ là thứ tình mở vào toàn bộ tình yêu nhân loại, triết gia Jasper nói rằng: ”Khi tôi yêu nhân loại nói chung, tôi chưa yêu, nhưng chỉ khi tôi yêu một người duy nhất, tình yêu mới mang ý nghĩa”.

 

Tình yêu với người khác giới là khởi đầu bước ra khỏi huyết thống để bước vào tình công lý của nhân loại. Nhưng công lý là gì? Là bên ngoài cái tôi ích kỷ sống tương quan với người khác. Ai đó sống một mình như con sói trong rừng hoang muốn hú hét thế nào tuỳ ý, nhưng khi đã sống bên người khác thì cái tôi không được toàn quyền là cái tôi nữa mà nó buộc phải sống trong tương quan có đi có lại với người khác. Sách triết học viết cách dễ hiểu rằng: ”Công lý đòi hỏi không ai có quyền làm phiền người khác” (Nul ne doit nuire à un autre)(30). Nhưng chính tại khách quan này, tình yêu vấp phải một nghịch lý chí tử, một nghịch lý luôn đóng vai một hạt nhân bi kịch khốn khổ nhất của tình yêu, đó là: hai người là công lý, nhưng đó là công lý của lương tâm, mà chỉ khi nào người ta tự giác thực hiện lương tâm thì công lý mới xuất hiện, vì nếu chỉ có hai người dù gặp cảnh bị người vu oán giáng họa, ”gắp lửa bỏ tay người”, đổi trắng thay đen, cho dù đó là một thủ phạm cùng một nạn nhân, thì số phiếu chấp nhận hay phủ quyết luôn luôn ngang nhau, ông có nói gà - bà có nói vịt cũng chẳng biết ai đúng ai sai.

 

Người phương Tây có một câu chuyện về Chân lý rằng, một ngày hai hiệp sĩ đi từ hai phía đến và cùng lúc họ nhìn thấy một tấm huân chương treo trên cây. Một hiệp sĩ bảo ”nó mạ vàng”, hiệp sĩ kia cãi lại ”nó mạ bạc”, cãi nhau một hồi không phân thắng bại, hai người liền lăn xả vào nhau giao chiến rồi ngả về hai hướng đảo ngược vị trí cho nhau. Một người khách qua đường thấy cảnh đó liền hỏi: ”Các anh đánh nhau vì cớ gì”? Một hiệp sĩ liền trả lời, ”Tôi đã bảo tấm Huân chương mạ vàng hắn lại cứ cãi chày cãi cối là mạ bạc”. Hiệp sĩ kia nên nói ”hắn mới là người cãi chầy cãi cối, tôi đã bảo tấm Huân chương mạ bạc mà hắn lại cứ cãi là mạ vàng”. Vị khách liền cười và bảo, các anh hãy nhìn lại tấm Huân chương xem! Do bị đảo ngược vị trí, người ở phía mạ vàng lúc đầu tiên thấy tấm huân chương mạ bạc, trái lại người ở phía mạ bạc giờ đây nhìn thấy mặt được mạ vàng. Hoá ra tấm huân chương mạ cả mặt vàng và mặt bạc.

 

Công lý là gì? Sách triết học viết: ”Công lý là người thứ ba” (Le juge est un ti ers)(31). Thật quá rõ đó là khúc quanh bí hiểm và đau khổ nhất của tình yêu. Bởi lẽ, nếu không biết sống tự giác, tình yêu không đạt tới được điều kiện công lý tối thiểu. Chúng ta hãy thử phân biệt có hai cấp độ công lý: thứ nhất một cá nhân khi sống với người khác luôn thiết định lên một hoàn cảnh xã hội ”tôi với tha nhân” - đó là công lý tự giác, cấp độ thứ hai là”công lý pháp luật”, có người thứ ba làm chứng thì dù anh có cãi ngược cãi xuôi toà án đã có đủ chứng cớ để định tội. Vậy mà, tình yêu là một môi trường công lý luôn từ chối người thứ ba. Triết gia G.Marcel nói: ”Tình yêu là sự từ chối tích cực bị coi như khách thể tình yêu loại kỳ kẻ thứ ba toàn diện”. Khi yêu, như thi sĩ Xuân Diệu viết”gần thêm nữa vẫn còn xa lắm”, người ta muốn tay trong tay, mắt chìm trong mắt, người ta thổn thức nói lên những lời sở hữu ”em của anh”, ”anh của em”, thì làm sao người ta muốn bị coi là người thứ ba: ”cô ấy” hay ”anh ấy”, mà người ta muốn là xương của xương, thịt của thịt, máu của máu, trong Kinh Thánh còn xác định: ”Người đàn ông từ giã cha và mẹ mình để hiệp nhất với vợ mình và cả hai sẽ trở nên một xác thịt”. Vậy thì ai là người thứ ba để chứng kiến công lý trong tình yêu, hay mặc cho tình yêu lúc nào cũng xử hoà, mặc người đúng mặc kẻ sai, lúc nào cũng ”tại anh tại ả tại cả hai bên”, hay đành phải bất lực chờ đợi các cuộc đấu lộn ”tiếng bấc ném đi tiếng chì ném lại”? Tình yêu như văn hào Shakespeare đã từng than, hầu hết bi kịch của nhân loại xảy ra trên giường ngủ, các bi kịch con tim xảy ra liên miên như Romeo phải chết cùng Julliet trong hầm mộ, Othello vì ghen tuông xiết những ngón tay cứng như kìm vào chiếc cổ ngọc ngà của người yêu là Desdemona… Hiện nay, một bài học đang diễn ra sờ sờ trước mắt thời đại thế giới đang chứng kiến từ quốc gia văn minh đến những vùng còn lạc hậu, có suýt soát 50% các cặp hôn nhân bỏ nhau, những đôi còn lại thì đang trong cơn chòng chành nghiêng ngả dữ dội, mỗi ngày lại có thêm vô vàn đôi bỏ nhau, và người ta đang lo ngại trong vài chục năm tới, thế giới đầy rẫy đàn ông cô độc, các bà cô, những đứa trẻ không cha và mẹ bị đẩy ra hè phố làm công vị thành niên cho quân tứ chiếng, giang hồ thế giới đang đứng trước thảm họa không gia đình. Đây là thảm hoạ nhân bản còn trầm trọng hơn cả bom nguyên tử. Tại sao bi kịch trên giường ngủ lại nhiều gấp bội lần thảm kịch ở chiến trường? Có một nhà văn đã tìm cách so sánh nỗi đau của tình yêu với nỗi đau của gươm giáo như sau: ”Khi bị gươm gây vết thương trong đêm, ta sẽ ngủ ngon lành, nhưng khi con tim bị thương vì mũi tên của tình yêu trong đêm, ta không thể nào ngủ được”. Ở chiến trường tuy là quân hằn quân thù với nhau, nhưng cả phía này hay phía đối phương đều chịu một sự quy chiếu nào đó của công lý, chiến trường sẽ diễn ra trước mắt thiên hạ, người ta không thể không bị mọi người suy xét và phán xử. Nhưng tình yêu là chuyện sâu kín của màn the, không ai chứng kiến cả, bởi vậy người ta mặc lòng thi thố những gì oan trái. Có lẽ không có tình cảm nào lại nhiều cảnh phụ bạc như trong tình yêu, cũng như không có tình cảm nào nhiều thù hận như tình yêu, đến mức nhân gian phải nói: ”Yêu nhau lắm cắn nhau đau”. Tình yêu là lãnh địa của con tim, mềm yếu, run rẩy, và trắc ẩn, người Trung Quốc nói ”Anh hùng khó qua ải mỹ nhân”. Anh hùng ngoài chiến trường có thể trang bị áo giáp, cung tên, gươm giáo, sức địch muôn người, lại luôn cảnh giác đề phòng, nên đối phương thật khó lòng hạ thủ. Nhưng anh hùng trong tình yêu, chỉ có hai người nơi màn the, khi chiến bào đã cởi bỏ, gươm giáo đã nhường chỗ cho tâm trí chia sẻ, thân thiết, an ủi, thì làm sao có thể kịp chống đỡ, khi người tình lén cho một nhát dao vào ngực, hay một viên đạn vào đầu, hoặc một bát canh có chứa thuốc mê? Đấy mới chỉ là hình ảnh cụ thể của bạo lực, nhưng kỳ thực bi kịch của tình yêu luôn ủ mầm độc hại còn sớm hơn nhiều, bởi lẽ, vì sống trong môi trường không có người thứ ba làm chứng, nếu hai kẻ yêu đương không biết đến việc tự giác thực hiện lẽ phải của công lý, thì sự bất đồng, toan tính- lạm dụng, bạo lực liên miên từng ngày một, cho đến khi nổ ra ”cái xảy nảy cái ung”. Ái tình là nơi người ta đều muốn truy cầu dục vọng cao nhất, mà triết gia Sartre nói: ”Người ta phải có trách nhiệm với mỗi đam mê của mình”. Trách nhiệm ư? Chính trong tình yêu, người ta tìm cách bâu đến đòi hưởng thụ ích kỷ nhiều nhất. Không chỉ chàng muốn tán tỉnh và dụ dỗ, mong làm bằng được cái việc làm tình, rồi cao chạy xa bay mặc cho nàng bụng mang dạ chửa, như văn hào Victor Hugo đã lột tả trong tác phẩm ”Những người khốn khổ”. Kẻ đa tình kia, tán cô gái trẻ tên là Phăng- tin, nàng bồng bột yêu gã, đúng lúc bụng mang dạ chửa thì gã bỏ chạy, không có tiền nuôi con, nàng phải bán con tên là Cô-dét còn bé bỏng cho nhà tên bất lương khét tiếng là Tê-nác-đi-ê, để mặc cho hắn sai bảo, hành hạ, bắt đứa trẻ phải làm quần quật từ sáng chí tối. Phăng-tin thì trở thành cô gái bơ vơ, thất vọng, phải làm nghê bán thân nuôi miệng, cuối cùng bị lũ đàn ông đẩy ra khỏi quán ba, vùi mình chết trong tuyết lạnh. Đấy, số phận của một cô gái bất hạnh như Phăng-tin, và của một bé gái bị đầy như Cô-dét có thể bắt đầu từ một sự trăng hoa vô trách nhiệm của một gã đàn ông. Sự vô trách nhiệm dù cho bất cứ của ai sẽ là mầm mống gây bất hạnh hay tai hại cho cả cộng đồng, như lãnh tụ Tôn Trung Sơn đã chỉ ra cho dân Trung Quốc, có thể chỉ vì tham lam vô trách nhiệm một công nhân cắt đi một miếng dây da nhưng đã làm tê liệt cả hệ thống dây chuyền sản xuất, giá trị cả triệu - triệu quan tiền. Cũng như, người Trung Quốc đã từng răn dạy, một cái móng ngựa hỏng có thể mất một trận đánh, mất một trận đánh có thể mất một quốc gia. Một chiếc đinh ốc nếu không làm tròn vị trí chức năng của mình có thể gây tác hại cho toàn thể bộ máy. Người Việt vẫn bảo ”sai một ly đi một dặm” là thế. Tình yêu là cánh cửa mở vào nhân loại, là dục vọng mạnh nhất của con người, bởi bản thân nó còn gánh chức năng truyền sinh, đẻ con, nối dõi, tình yêu cũng là nghịch lý trớ trêu khó khăn nhất của công lý, vì lẽ đó là thế giới của hai người, người ta có thể toàn quyền lạm dụng và thao túng, đổi trắng thay đen, mà không sợ bị người thứ ba làm chứng. Bởi thế, chúng ta sẽ bàn đến dục vọng ái tình của con người như là một nền tảng để khai mở con đường bước vào các dục vọng khác của con người. Trước hết, chúng ta sẽ thấy, con người được ban đặc ân ái tình quá dồi dào, triền miên và cao độ hơn nhiều loài động vật, chẳng hạn, nếu đi thăm vườn bách thú chúng ta thấy, hầu hết các con vật có mùa tình dục và sinh sản trong một tháng của mùa hè, nhưng con người trái lại, có thể tình dục và sinh sản cả bốn mùa: xuân hạ, thu, đông. Thử nhìn, có loài sóc, dù chúng sống với nhau theo tổ một đực - một cái, vậy mà trong một năm chúng chỉ có thể dành cho nhau một ngày hoạt động tình dục, kể cả chung tình hay lang chạ, sáng ngày đó con đực lao ra khỏi tổ đi đến các tổ khác để tìm những con cái, còn con cái của nó thì ở lại tổ đón những con đực đến. Nhưng tất cả các hoạt động đó chỉ diễn ra trong một ngày. Loài sư tử , có thể tình dục 80 lần trong một ngày, nhưng hoạt động đó chỉ kéo dài trong ba ngày với một giá rất đắt, con đực tìm cách giết các con non của con cái, để bức bách nó động đực. Hoặc có loài chuột, tình dục liên miên trong vài ngày, rồi con đực lăn đùng ra chết. Hay như loài nhện hay bọ ngựa kia, hoạt động tình dục còn chưa kịp chấm dứt thì con cái đã tìm cách ăn thịt con đực để làm thực phẩm nuôi dưỡng bào thai. So sánh sơ qua đã thấy, con người được nhiều đặc ân chăn gối đến mức, không chỉ có một ngày như loài sóc mà có cả 365 ngày, không phải ăn thịt con để gần con cái như loài sư tử, cũng chẳng bị vắt kiệt thân xác để truyền giống rồi lăn ra chết như loài chuột, cũng chẳng hề bị hoá thành thức ăn sau khi tình dục như loài nhện, mà con người được hoạt động ái tình đều đặn, như một lạc thú thường xuyên cho hạnh phúc.