I. SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH , Ý NGHĨA CỦA VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO.

1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo.

Luật khiếu nại, tố cáo được Quốc hội khoá X thông qua năm 1998, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1999 và được sửa đổi,  bổ sung vào năm 2004 đã tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Các cấp, các ngành đã nhận thức đầy đủ hơn trách nhiệm của mình trong giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo trong thời gian qua vẫn diễn biến phức tạp, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo vẫn còn những hạn chế nhất định. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này là do Luật khiếu nại, tố cáo đã bộc lộ những điểm bất cập, không phù hợp với thực tế của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Việc khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện hành chính là vấn đề rất quan trọng đã được quy định trong Luật khiếu nại, tố cáo và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Tuy nhiên, cơ chế giải quyết khiếu nại và một số quy định của Luật chưa phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn. Cơ chế giải quyết khiếu nại còn quá nhiều tầng nấc dẫn đến tình trạng giải quyết bị kéo dài, không dứt điểm, gây khó khăn cho người khiếu nại và cơ quan nhà nước.

Trong giải quyết khiếu nại thì một hoạt động rất quan trọng đó là việc gặp gỡ, đối thoại trực tiếp giữa người khiếu nại, người bị khiếu nại và người giải quyết khiếu nại là hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với việc giải quyết khiếu nại lần đầu. Thông qua việc gặp gỡ, đối thoại người giải quyết khiếu nại hiểu rõ tính chất, mức độ, nguyên nhân sự việc bị khiếu nại, yêu cầu, nguyện vọng của người khiếu nại v.v… từ đó có hướng giải quyết khiếu nại chính xác, kịp thời. Luật khiếu nại, tố cáo được sửa đổi năm 2004 đã quy định vấn đề này, nhưng trên thực tế khi giải quyết khiếu nại còn có nhiều trường hợp người giải quyết khiếu nại chỉ căn cứ vào báo cáo kiểm tra, xác minh, kết luận rồi ra quyết định giải quyết khiếu nại. Chính vì vậy, nhiều trường hợp quyết định giải quyết khiếu nại không chính xác, thiếu khách quan nên người khiếu nại vẫn tiếp tục khiếu nại vượt cấp lên trên.

Sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo là nhằm thể chế hoá một bước quan điểm của Đảng về giải quyết khiếu kiện là "khắc phục tình trạng chồng chéo, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, gây khó khăn, chậm trễ trong công việc và giải quyết khiếu kiện của dân. Nâng cao vai trò của tòa hành chính trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính".

.Đề cương giới thiệu những nội dung cơ bản của luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật khiếu nại, tố cáo năm 2005

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

2. Mục đích, ý nghĩ của việc sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo.

Sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo có ý nghĩa to lớn đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Cụ thể là:

- Sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo là nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, góp phần ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, nhất là khi hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương cải cách nền hành chính nhà nước, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

- Sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo là thể chế hoá kịp thời các quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát huy quyền dân chủ của công dân, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý của Nhà nước thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

- Sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo nhằm hoàn thiện các qui định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, góp phần tạo nên hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, có hiệu lực, hiệu quả.

- Sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo có ý nghĩa to lớn trong việc cụ thể hóa mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, theo hướng tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong giải quyết các công việc của công dân; bảo đảm hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo được khách quan, công khai, dân chủ; tiến tới xây dựng một cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính có hiệu quả, trong đó mọi khiếu kiện hành chính phải được giải quyết bởi một cơ quan độc lập với cơ quan có hành vi, quyết định hành chính bị khiếu kiện.

   II. QUAN ĐIỂM SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT KHIẾU NẠI TỐ CÁO

1. Việc sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo cần quán triệt quan điểm của Đảng thể hiện tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng là "Nâng cao vai trò của tòa hành chính trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính" và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ư­ơng khoá  VIII “Tiếp tục kiện toàn và phát huy vai trò của toà án để xét xử các khiếu kiện hành chính”; quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ­ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nư­ớc, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác t­ư pháp trong thời gian tới và Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 6 tháng 3 năm 2002 của Ban Bí th­ư trung ­ương về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay.

 2. Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo xuất phát từ yêu cầu cải cách hành chính là phân công, phân cấp rành mạch giữa Chính phủ với chính quyền địa phư­ơng, trong nội bộ Chính phủ là sự phân cấp giữa thẩm quyền của tập thể Chính  phủ với Thủ tư­ớng Chính phủ, giữa Thủ tư­ớng với các thành viên Chính phủ, đề cao trách nhiệm của các Bộ trư­ởng thành viên Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.

3.  Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo cần làm rõ vai trò, trách nhiệm của cơ quan thanh tra trong việc giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nư­ớc cùng cấp giải quyết khiếu nại, tố cáo.

4.  Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo phải bảo đảm hơn nữa tính công khai, dân chủ, chống quan liêu trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện từng bư­ớc mở rộng thẩm quyền xét xử các vụ kiện hành chính tại tòa án; tạo sự nhất quán giữa các quy định của pháp luật, tạo ra cơ chế đồng bộ trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính của công dân và bảo đảm hiệu quả thi hành.

III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO.

Để nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về lâu dài cần sửa đổi một cách cơ bản, toàn diện Luật khiếu nại, tố cáo, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính, cải cách tư pháp và việc thực hiện các cam kết quốc tế về giải quyết khiếu kiện hành chính trong quá trình hội nhập. Tuy nhiên, để giải quyết kịp thời những bất cập của Luật khiếu nại, tố cáo, đáp ứng yêu cầu công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 29 tháng 11 năm 2005, đã tập trung sửa đổi, bổ sung tổng số 21 điều bao gồm các điều quy định về cơ chế giải quyết khiếu nại; thẩm quyền giải quyết khiếu nại; việc tham gia của Luật sư vào quá trình giải quyết khiếu nại; quyết định giải quyết khiếu nại và hồ sơ giải quyết khiếu nại; quyền của người khiếu nại; người bị khiếu nại.

1. Về cơ chế giải quyết khiếu nại

Để khắc phục các hạn chế, vướng mắc đặt ra trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là việc có quá nhiều tầng nấc trong việc giải quyết khiếu nại hành chính, đồng thời đáp ứng yêu cầu gia nhập Tổ chức thương mại thế giới là người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại bất cứ lần giải quyết nào của cơ quan hành chính. Luật sửa đổi, bổ sung lần này đã sửa đổi cơ chế giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 39 và Điều 46 của Luật khiếu nại, tố cáo. Theo đó, cơ quan có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại là cấp giải quyết lần đầu, nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết hoặc quá thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lên cơ quan hành chính cấp trên hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án. Trong trường hợp khiếu nại lên cơ quan hành chính cấp trên nhưng người khiếu nại vẫn không đồng ý với quyết định giải quyết của cơ quan đó hoặc quá thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án.

Đối với khiếu nại lần đầu quyết định hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc quyết định hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương mà nội dung không thuộc quản lý nhà nước của bộ, ngành, nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết của người đó hoặc quá thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Ngoài ra, nhằm đề cao vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, xác định rõ trách nhiệm của những người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, Luật sửa đổi, bổ sung lần này đã bổ sung một khoản mới vào Điều 39 và Điều 46, theo đó trong thời hạn quy định tại Luật khiếu nại, tố cáo người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải xem xét để giải quyết, nếu trong thời hạn đó mà không xem xét, giải quyết thì phải bị xem xét kỷ luật. Người khiếu nại có quyền kiến nghị với cấp trên trực tiếp của người không giải quyết khiếu nại để xem xét xử lý kỷ luật người đó.

2. Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Để phù hợp với việc sửa đổi, bổ sung cơ chế giải quyết khiếu nại, đáp ứng yêu cầu của  quá trình hội nhập, đặc biệt là yêu cầu của Tổ chức thương mại thế giới  về quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định cuối cùng của cơ quan hành chính, Luật sửa đổi, bổ sung đã lược bỏ các quy định liên quan tới quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Tổng thanh tra và Thủ tướng Chính phủ tại các Điều 23, 25, 26, 28 của Luật.

Để làm rõ vai trò của Thủ tướng Chính phủ và Tổng thanh tra trong cơ chế giải quyết khiếu nại mới, Luật sửa đổi, bổ sung đã điều chỉnh thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ và Tổng thanh tra. Theo quy định tại Điều 26, ngoài việc giải quyết các khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại, Tổng thanh tra có thẩm quyền giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm. Đối với Thủ tướng Chính phủ, ngoài việc lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp còn có thẩm quyền xử lý các kiến nghị của Tổng thanh tra về việc giải quyết khiếu nại tại khoản 2 của Điều 26.

3. Vai trò của Luật sư trong quá trình giải quyết khiếu nại

Để đảm bảo giải quyết nhanh chóng, chính xác các khiếu nại, đáp ứng được yêu cầu dân chủ hoá trong hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo lần này đã cụ thể hoá vai trò của Luật sư trong quá trình giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính.

Theo quy định tại Điều 17, người khiếu nại có quyền tự mình khiếu nại, nhưng trong trường hợp là người chưa thanh niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình thì người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện việc khiếu nại. Trong trường hợp người bị khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được uỷ quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác để khiếu nại. Người khiếu nại được nhờ Luật sư giúp đỡ về pháp luật trong quá trình khiếu nại.

Ngoài ra, để khẳng định rõ việc tham gia của Luật sư vào quá trình giải quyết khiếu nại, Điều 37 và Điều 45 cũng quy định, trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần hai, người giải quyết khiếu nại có thể gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại để làm rõ nội dung khiếu nại; yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại. Trong trường hợp người khiếu nại nhờ Luật sư giúp đỡ về pháp luật thì Luật sư có quyền tham gia trong quá trình giải quyết khiếu nại.

4. Quyết định giải quyết khiếu nại, hồ sơ giải quyết khiếu nại

Theo quy định trước đây thì khi ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo có quyền giải quyết các vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại. Điều này dẫn đến tình trạng cơ quan hành chính cấp trên lại xử lý những công việc thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính cấp dưới. Thực tế, việc quy định như vậy đã làm cho việc xét xử của Toà án nhiều khi không xác định được quyết định hành chính hay quyết định giải quyết khiếu nại là quyết định bị khởi kiện tại Toà hành chính. Để khắc phục hạn chế này, Luật sửa đổi, bổ sung lần này đã điều chỉnh nội dung quyết định giải quyết khiếu nại (Điều 45), trong đó quy định quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải ghi rõ: Kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ. Trong trường hợp giải quyết khiếu nại là đúng hoặc đúng một phần thì yêu cầu người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại sửa đổi, huỷ bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại", đồng thời ghi rõ Quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án của người khiếu nại.

Đối với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (Điều 38), phải có các nội dung sau:

-  Ngày, tháng, năm ra quyết định.

-  Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại.

-  Nội dung khiếu nại.

-  Kết quả xác minh nội dung khiếu nại; căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại.

-  Kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ.

-  Giữ nguyên, sửa đổi hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; giải quyết các vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại.

-  Việc bồi thường cho người bị thiệt hại (nếu có).

-  Quyền khiếu nại tiếp, quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án.

Điều 47 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo quy định về việc lập hồ sơ giải quyết khiếu nại như sau:

Việc giải quyết khiếu nại phải được lập thành hồ sơ . Hồ sơ giải quyết khiếu nại bao gồm:

-  Đơn khiếu nại hoặc bản ghi lời khiếu nại.

-  Văn bản trả lời của người bị khiếu nại.

-  Biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định, biên bản gặp gỡ, đối thoại.

-  Quyết định giải quyết khiếu nại.

-  Các tài liệu có liên quan.

 Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và được lưu giữ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án thì hồ sơ đó phải được chuyển cho Toà án khi có yêu cầu.

5. Quyền  và nghĩa vụ của người khiếu nại

Để đáp ứng yêu cầu công tác giải quyết khiếu nại, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo đã bổ sung quyền của người khiếu nại trong việc được biết các bằng chứng mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm căn cứ giải quyết khiếu nại, quyền đưa ra các bằng chứng về việc khiếu nại và đưa ra ý kiến của mình về bằng chứng đó. Điều 17 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo quy định quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại như sau:

- Người khiếu nại có các quyền sau đây:

+  Tự mình khiếu nại; trường hợp người khiếu nại là người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện việc khiếu nại; trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được uỷ quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác để khiếu nại.

+  Nhờ luật sư giúp đỡ về pháp luật trong quá trình khiếu nại.

+  Biết các bằng chứng để làm căn cứ giải quyết khiếu nại; đưa ra bằng chứng về việc khiếu nại và giải trình ý kiến của mình về bằng chứng đó.

+  Nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải quyết khiếu nại; biết thông tin, tài liệu của việc giải quyết khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếu nại.

+  Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

+  Khiếu nại tiếp hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về tố tụng hành chính.

+  Rút khiếu nại trong quá trình giải quyết khiếu nại.

-  Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:

+  Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết.

+  Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó.

+  Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

6. Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại

Đối với người bị khiếu nại, Luật đã bổ sung quyền của người bị khiếu nại  được biết về các căn cứ khiếu nại của người khiếu nại; quyền nhận bản án, quyết định của Toà án. Người bị khiếu nại có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại về việc thụ lý để giải quyết, sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại ( Điều 18). Ngoài ra, Luật đã bổ sung quy định hồ sơ giải quyết khiếu nại phải có biên bản gặp gỡ, đối thoại giữa các bên trong quá trình giải quyết khiếu nại vào quy định tại Điều 47 của Luật.

7. Thời hạn giải quyết khiếu nại

7.1. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu( Điều 36)

Luật quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu như sau:

-  Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.

Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.

- Trong thời hạn quy định nêu trên mà người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại không giải quyết thì phải bị xem xét xử lý kỷ luật. Người khiếu nại có quyền kiến nghị với cấp trên trực tiếp của người không giải quyết khiếu nại để xem xét xử lý kỷ luật người đó.

7.2. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai( Điều 43)

-  Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.

Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.

-  Trong thời hạn quy định nêu trên mà người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại không giải quyết thì phải bị xem xét xử lý kỷ luật. Người khiếu nại có quyền kiến nghị với cấp trên trực tiếp của người không giải quyết khiếu nại để xem xét xử lý kỷ luật người đó.

8. Một số vấn đề khác

Xuất phát từ các nội dung đã được sửa đổi, bổ sung. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo đã bỏ khoản 15 của Điều 12 giải thích thuật ngữ  " Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng".

Thay cụm từ " quyết định này là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng" tại đoạn 2 Điều 54 của Luật khiếu nại, tố cáo bằng cụm từ "quyết định này là quyết định có hiệu lực thi hành".

 IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Luật khiếu nại, tố cáo đựợc thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 06 năm 2006. Để Luật được thực hiện tốt trong cuộc sống, trước mắt cần tập trung một số công việc sau đây:

1. Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn, tập huấn giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo 

Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn, tập huấn giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo cho tất cả đối tượng có liên quan, bao gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,  Uỷ ban nhân dân các cấp và nhân dân về những nội dung quy định trong Luật, nhất là những nội dung quy định mới được sửa đổi, bổ sung như: cơ chế giải quyết khiếu nại, về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, về vai trò của Luật sư trong quá trình giải quyết khiếu nại, về quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại và người bị khiếu nại.

2. Xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo

Thanh tra Chính phủ chủ trì với các đơn vị trong và ngoài ngành có liên quan xây dựng các văn bản cụ thể mà trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nai, tố cáo đã quy định, ví dụ như: Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo.

3. Phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật một cách sâu rộng đến với mọi tầng lớp nhân dân.

BỘ TƯ PHÁP - VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT      

 (MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lao động;

2.Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

3. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

4. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;