Ở Việt Nam hiện nay, phân cấp quản lý nhà nước được coi là một trong những mục tiêu của cải cách hành chính, vì vậy, việc nghiên cứu những khía cạnh lý luận, thực tiễn, kinh nghiệm và các mô hình decentralization trên thế giới để ứng dụng vào điều kiện cụ thể của nước ta là rất cần thiết.

1. Khái niệm decentralization

Từ trước đến nay đã có nhiều định nghĩa về decentralization, như:

Decentralization là tiến trình phân cấp quản lý, với mục tiêu làm cho hoạt động quản lý nhà nước gần gũi hơn với công chúng (Wikipedia).

Decentralization là việc chính quyền cấp cao chuyển giao nhiều quyền lực hành chính hơn cho chính quyền cấp dưới1. 

Decentralization là tiến trình chuyển giao quyền lực cho chính quyền địa phương được lập ra do bầu cử2.

Decentralization là việc chuyển giao quyền lực và trách nhiệm từ chính quyền trung ương cho chính quyền các cấp ở địa phương3.

Decentralization là việc tái cấu trúc về thẩm quyền nhằm tạo lập một cơ chế cùng chịu trách nhiệm giữa các cơ quan ở các cấp trung ương, khu vực và địa phương, phù hợp với các nguyên tắc về quản lý, từ đó tăng cường chất lượng và hiệu quả của cơ chế quản lý tổng thể, trong khi đồng thời tăng cường quyền lực và năng lực của các cấp địa phương”4.

Decentralization là việc chuyển giao quyền lực và trách nhiệm thực hiện các chức năng công cộng từ chính quyền trung ương xuống cho chính quyền địa phương hoặc cho các cơ quan chính quyền có vị thế gần như độc lập và cho khu vực tư nhân5.

Decentralization là việc chuyển giao trách nhiệm lập kế hoạch, quản lý, tạo và phân bổ nguồn lực từ chính quyền trung ương cho các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan, thiết chế khác thuộc cơ cấu tổ chức bộ máy trung ương; các cơ quan chính quyền địa phương hay các đơn vị cấp dưới trong hệ thống hành chính; các cơ quan bán tự quản (bán công) hoặc các cơ quan chức năng, cơ quan cấp vùng, và có thể là cả các tổ chức tư nhân, tổ chức phi chính phủ6.

Có thể thấy những định nghĩa trên xuất phát từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau và có nội hàm rộng, hẹp khác nhau. Tuy nhiên, chúng có một điểm chung là xem decentralization về cơ bản như một phương thức quản lý hành chính nhà nước chứ không phải là phương thức phân chia quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, thuật ngữ decentralization được dịch sang tiếng Việt với nhiều tên gọi khác nhau, như phân quyền, tản quyền… nhưng cụm từ phân cấp quản lý hành chính nhà nước tỏ ra phù hợp hơn cả để diễn tả nội hàm của khái niệm.

Ở một khía cạnh khác, sử dụng cụm từ phân cấp quản lý hành chính nhà nước có thể giúp tránh hiểu nhầm decetralization như là cốt lõi của học thuyết phân chia quyền lực nhà nước, mặc dù ở những góc độ nhất định, từ phân cấp quản lý hành chính cũng không bao trùm hết nội hàm của decentralization, và decentralization cũng bao hàm cả việc phân quyền về chính trị.

So sánh các định nghĩa trên cho thấy, hai định nghĩa cuối cùng có nội hàm rộng nhất. Nó không chỉ tương ứng với khái niệm phân cấp quản lý hành chính mà ở một góc độ nhất định, còn bao trùm khái niệm xã hội hóa vẫn được sử dụng ở Việt Nam.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

 

2. Một số thuật ngữ liên quan

Có một số thuật ngữ mà nội hàm của chúng rất gần và được coi là một biến thể hay một dạng thức của decentralization, cụ thể:

Deconcentration (phi tập trung hóa, đôi khi còn được gọi là tản quyền): thường được dùng để biểu thị việc các cơ quan chính quyền trung ương đặt các văn phòng hay đơn vị ở các địa phương để trực tiếp cung cấp dịch vụ công hay thực hiện quyền quản lý hành chính ở khu vực, địa phương đó7. Thông thường, tản quyền chỉ được thực hiện trong một số lĩnh vực như hải quan, thuế… nên nó không làm thay đổi chức năng, nhiệm vụ của hệ thống cơ quan nhà nước cả ở trung ương và địa phương.

Delegation (ủy quyền): là việc chuyển giao trách nhiệm ra quyết định và thực hiện các chức năng công từ chính quyền trung ương cho các tổ chức bán tự quản - những tổ chức không hoàn toàn nằm dưới sự quản lý nhưng có trách nhiệm giải trình với chính quyền trung ương, như: các công ty, doanh nghiệp, tổ chức… có chức năng công cộng. Những chủ thể này thường được giao quyền tự chủ rất rộng trong hoạt động và không phải chịu những ràng buộc về nhân sự và nhiều quy định khác của các cơ quan nhà nước.

Devolution (trao quyền): là việc chính quyền trung ương chuyển giao một phần thẩm quyền ra quyết định, quyền điều hành và nguồn tài chính cho các chính quyền địa phương và cả các cơ quan, tổ chức có chức năng công cộng. Đây có thể coi là thuật ngữ gần gũi nhất với decentralization. Một số tác giả cho rằng devolution chính là một kiểu phân cấp quản lý về hành chính và là cốt lõi của decentralization.

3. Nội dung của decentralization

Theo một số chuyên gia, decentralization thể hiện ở các phương diện chính là: phân cấp quản lý về chính trị; phân cấp quản lý về hành chính; phân cấp quản lý về ngân sách; phân cấp quản lý về kinh tế.

Phân cấp quản lý về chính trị là việc chuyển giao một phần quyền và nghĩa vụ chính trị từ chính quyền trung ương cho chính quyền địa phương. Tác động của quá trình này là làm cho chính quyền địa phương mạnh lên, đồng thời cho phép người dân, các nhóm chính trị tham gia và có ảnh hưởng nhiều hơn vào tiến trình xây dựng, thực thi chính sách của Nhà nước ở trung ương cũng như địa phương. Phân cấp quản lý về chính trị thường (nhưng không luôn luôn) gắn với chính thể đại diện. Tuy nhiên, quá trình phân cấp quản lý về chính trị thường đòi hỏi phải có những cải tổ về hiến pháp hoặc thể chế.

Phân cấp quản lý về hành chính là việc phân bổ lại thẩm quyền, trách nhiệm và nguồn ngân sách cho việc bảo đảm các dịch vụ công giữa các cấp chính quyền của quốc gia. Nó thể hiện ở việc chuyển giao quyền và trách nhiệm thực hiện các chức năng công cộng (bao gồm cả việc xây dựng kế hoạch, quản lý và chi tiêu) từ chính quyền cấp trên cho chính quyền cấp dưới. Phân cấp quản lý về hành chính thể hiện ở ba cấp độ chính đã đề cập là: phi tập trung hóa/tản quyền; ủy quyền; phân cấp quản lý. Trong đó, phi tập trung hóa/tản quyền được xem là cấp độ thấp nhất của decentralization.

Phân cấp quản lý về ngân sách là sự phân bổ trách nhiệm quản lý và nguồn ngân sách giữa các cấp chính quyền. Phân cấp quản lý về ngân sách thể hiện dưới nhiều dạng, bao gồm: tự chủ tài chính hay tự hạnh toán kinh doanh; chính quyền trung ương và địa phương cùng làm; cho phép chính quyền địa phương được đặt ra một số khoản thuế, lệ phí hoặc hưởng toàn bộ hay một phần các khoản thu từ thuế, lệ phí... ở địa phương; chuyển một phần khoản thu từ thuế mà chính quyền trung ương thu được cho chính quyền địa phương; bảo lãnh hoặc cho chính quyền địa phương vay… 

Phân cấp quản lý về kinh tế được hiểu là việc chuyển giao quyền điều hành, quyết định hoạt động kinh doanh từ các cơ quan công quyền sang khối tư nhân. Thông thường, việc này gắn với quá trình tự do hóa kinh tế nền kinh tế thị trường, phá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp.

4. Tác động của decentralization

Nên hay không nên thực hiện decentralization? Nếu thực hiện thì đến mức độ nào? là hai trong số những câu hỏi có liên quan từ xưa đến nay vẫn đang làm đau đầu các nhà quản lý và nhà nghiên cứu.

Theo UNDP, decentralization gắn liền với quản trị tốt, vì quản trị tốt chỉ có thể đạt được thông qua sự tương tác giữa Nhà nước, xã hội dân sự và khu vực tư nhân. Quản trị tốt là điều kiện cho sự phát triển8. Do đó, decentralization cũng là một tiền đề và điều kiện gián tiếp của phát triển. Đối lập với decentralization là sự tập trung, quan liêu, bao cấp - hình thức quản lý mà thực tiễn đã cho thấy những điểm yếu khó khắc phục (từ kinh nghiệm rút ra ở khối các nước XHCN trước đây). Ngược lại với sự cứng nhắc, dập khuôn, kế hoạch hóa cao độ của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, decentralization giúp thúc đẩy mối quan hệ và sự liên kết, hợp tác giữa Nhà nước, khối tư nhân và xã hội dân sự, từ đó tạo ra sự linh hoạt, mềm dẻo, năng động trong quản lý nhà nước cũng như giúp xã hội hóa nhiều dịch vụ công.

Một số nghiên cứu còn cho thấy, decentralization đồng thời có những tác dụng khác, ví dụ như trong phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, cần lưu ý là trong lĩnh vực này (và cả trong các lĩnh vực khác), decentralization có cả tác động tích cực và tiêu cực với mức độ khác nhau. Cụ thể, trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, quan điểm chung cho rằng tình trạng tham nhũng ở các Nhà nước có cơ chế quản lý tập trung cao sẽ nghiêm trọng hơn ở những nơi ngược lại. Tuy nhiên, có nhà nghiên cứu lại chứng minh rằng, tình trạng tham nhũng ở một số Nhà nước liên bang (thông thường được cho là, nhưng không nhất thiết, có mức độ decentralization cao hơn ở các Nhà nước đơn nhất) thậm chí còn tệ hơn ở nhiều Nhà nước đơn nhất9. Tương tự, quan điểm chung cho rằng decentralization thúc đẩy nhân quyền vì nó thúc đẩy quản lý tốt, tăng cường dân chủ và sự tham gia của người dân cũng như tính minh bạch và hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nhưng thực tế cho thấy decentralization cũng có thể ảnh hưởng xấu đến tình hình nhân quyền theo nghĩa nó có thể nhân rộng và tăng cường sự đàn áp của chính quyền xuống cấp độ địa phương10.

Bảng so sánh dưới đây giúp ta có được cái nhìn toàn diện về tác động hai mặt của decentralization trên nhiều khía cạnh11:

5. Tình hình decentralization trên thế giới13 

Mặc dù có tính hai mặt, song trong mấy thập kỷ gần đây, decentralization đã trở thành một xu hướng, một trào lưu rộng khắp trên thế giới. Theo một số nghiên cứu, khoảng 80% số nước đang phát triển, bao gồm những nước trong khối XHCN cũ ở Liên Xô – Đông Âu, đã và đang tiến hành decentralization dưới những dạng thức khác nhau. Tính ở thời điểm năm 1999, có 96/127 nước (76%) được khảo sát đã tiến hành phân cấp quản lý về hành chính, 52/127 nước (41%) đã tiến hành phân cấp quản lý về ngân sách. Thông thường, việc phân cấp quản lý về hành chính và ngân sách được thực hiện đồng thời. Ví dụ, một nghiên cứu ở thời điểm năm 1997 cho thấy, có 52 nước trên thế giới đã phân cấp quản lý ngân sách ở những mức độ khác nhau, trong số đó, 48 nước (92%) đồng thời đã cho phép tự quản ở ít nhất một cấp địa phương.

Các nghiên cứu cũng cho thấy, những quốc gia có GDP càng cao thường có mức độ phân cấp (cả về chính trị và ngân sách) cao hơn. Xét một cách tổng quát, mức độ decentralization tỷ lệ thuận với GDP.  Biểu đồ dưới đây cho thấy tương quan giữa GDP và mức độ phân cấp về chính trị (political) và ngân sách (fiscal) ở ba nhóm quốc gia: nhóm có GDP cao (high); trung bình (middle), và thấp (low). (Hình 1)

Ở một góc độ khác có liên quan đến cách tiếp cận trên, các nghiên cứu cũng cho thấy, những khu vực phát triển hơn của thế giới có mức độ phân cấp (về chính trị và ngân sách) cao hơn các khu vực khác. Biểu đồ dưới đây cho thấy mức độ phân cấp về chính trị và ngân sách (fiscal) ở bảy khu vực của thế giới, bao gồm (tính từ phải sang trái): châu Mỹ (Americas); Trung Đông và Bắc Phi (Middle East and Northern Africa); Tây Âu (Western Europe); Đông Âu và Trung Á (Eastern Europe and Central Asia); Nam Á (South Asia); Đông Á và vùng Thái Bình Dương (East Asia and Pacific); Tiểu vùng Sahara của châu Phi (Sub-Saharan Africa). (Hình 2)

6. Mối quan hệ giữa hình thức tổ chức nhà nước và vấn đề decentralization

Như đã đề cập, nhiều người tin rằng có sự liên hệ mật thiết giữa hình thức tổ chức nhà nước và vấn đề decentralization, cụ thể là những Nhà nước liên bang được cho là có mức độ decentralization cao hơn so với các Nhà nước đơn nhất.

Tuy nhiên, những nghiên cứu hiện có cho thấy nhận định trên mang tính chất cảm tính, chủ quan. Trên thực tế, không có mối liên hệ rõ ràng giữa hình thức tổ chức nhà nước (liên bang hay đơn nhất) và vấn đề decentralization. Thậm chí, một số Nhà nước liên bang có mức độ tập trung rất cao trong quản lý nhà nước (ví dụ như Malaysia), trong khi một số nhà nước đơn nhất lại có mức độ phân cấp quản lý khá lớn (ví dụ như Trung Quốc14). Những khảo sát thống kê về vấn đề này cho những kết quả không đồng nhất. Cụ thể, theo một nghiên cứu, trong số 31 nước đã thực hiện phân cấp quản lý ngân sách, có 18 Nhà nước đơn nhất và 13 Nhà nước liên bang15. Trong khi đó, theo báo cáo khảo sát của Robert Ebel, 38% quốc gia đã thực hiện phân cấp quản lý ngân sách là Nhà nước liên bang, 22% là Nhà nước đơn nhất16…

 

Decentralization

Tác động tích cực

 

Tác động tiêu cực

 

- Thúc đẩy dân chủ thông qua việc cung cấp những cơ hội tốt hơn cho người dân tham gia vào các tiến trình ra quyết định.

- Tăng cường hiệu quả của việc cung cấp dịch vụ công thông qua việc ủy quyền cho chính quyền địa phương thực thi chức năng này, từ đó hạn chế sự quan liêu và đình trệ.

- Tạo điều kiện để nâng cao chất lượng của những dịch vụ công được cung cấp cho người dân dựa trên trách nhiệm giải trình và sự nhạy cảm với nhu cầu của dân chúng của chính quyền địa phương.

- Tăng cường sự phát triển về kinh tế, xã hội dựa trên sự am hiểu cơ sở của chính quyền địa phương.

- Tăng cường sự minh bạch, trách nhiệm giải trình và năng lực giải quyết vấn đề của các cơ quan chính quyền ở cấp địa phương.

- Cho phép có đại diện đa dạng hơn về chính trị và sự tham gia của của các nhóm văn hóa, chính trị, tôn giáo, sắc tộc khác nhau vào quá trình ra quyết định.

- Tăng cường sự ổn định chính trị và sự thống nhất của quốc gia thông qua việc cho phép người dân quyền giám sát hiệu quả hơn các chương trình và hoạt động của Nhà nước ở cấp địa phương.

- Tạo cơ sở cho những ý tưởng chính trị mới từ đó dẫn đến những chương trình, hoạt động quản lý nhà nước có tính sáng tạo hơn.

- Làm tổn hại dân chủ thông qua việc trao cho giới tinh hoa ở địa phương những quyền lực mà vượt ra ngoài sự kiểm soát của chính quyền trung ương12.

- Làm giảm hiệu quả của việc cung cấp dịch vụ công do thiếu sự kiểm soát và giám sát có hiệu quả việc thực thi chức năng này.

- Chất lượng của những dịch vụ công được cung cấp cho người dân bị ảnh hưởng vì chính quyền địa phương thiếu năng lực và những nguồn lực cần thiết.

- Làm tăng nguy cơ tham nhũng và bất bình đẳng giữa các khu vực của đất nước.

- Có nguy cơ khiến cho các cơ quan chính quyền ở cấp địa phương bị quá tải vì phải gánh vác nhiều công việc.

- Tạo ra những sự kình địch, cạnh tranh mới, hoặc kích thích những sự kình địch, cạnh tranh tiềm tàng về sắc tộc hoặc tôn giáo.

- Làm suy yếu quốc gia vì có thể dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng giữa các khu vực hoặc chủ nghĩa ly khai, hoặc làm suy yếu sự quản lý tài chính của quốc gia.

- Làm giảm tính sáng tạo trong quản lý nhà nước do việc trao quyền cho những nhóm tinh hoa bảo thủ ở địa phương.

7. Một số kết luận

Các nghiên cứu so sánh về tương quan giữa decentralization và GDP, cũng như về mức độ decentralization ở các khu vực khác nhau trên thế giới có thể tạo ra cảm hứng và sự phấn khích với việc thực hiện decentralization ở các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Cảm hứng đó là hợp logic vì trên thực tế, xét một cách khái quát, decentralization đã chứng minh tác động tích cực vượt trội của nó với sự phát triển về mọi mặt của một quốc gia so với tác động tiêu cực.

Mặc dù vậy, cần nhận thức rõ rằng, chỉ khi được hoạch định đúng và tổ chức thực hiện một cách phù hợp, hiệu quả, decentralization mới có thể thúc đẩy sự phát triển. Ngược lại, nếu tiến hành decentralization vội vàng, thiếu nghiên cứu, cân nhắc thì có thể gây tác động tiêu cực, thậm chí gây nguy hiểm đến sự phát triển của một quốc gia.

Thực tiễn cũng cho thấy, hoạch định và tổ chức thực hiện các tiến trình decentralization là việc làm không đơn giản. Nó không chỉ đòi hỏi phải đầu tư nhiều công sức, thời gian mà còn cả trí tuệ. Về khía cạnh cuối cùng, có thể nêu những gợi ý như sau:

Thứ nhất, decentralization cần được coi là một tiến trình mang tính chiến lược trong định hướng phát triển của một quốc gia. Để tiến trình này thành công, mang lại hiệu quả tích cực với sự phát triển của quốc gia, nó phải được thực hiện một cách linh hoạt cả về thời gian, hình thức, cách thức và phải hướng tới những mục tiêu tổng thể, lâu dài.

Thứ hai, để decentralization thành công đòi hỏi có sự tham gia tích cực, chủ động của nhiều dạng chủ thể trong xã hội, trong đó bao gồm Nhà nước, các tổ chức xã hội dân sự và khối tư nhân. Ở khía cạnh này, decentralization song hành với tiến trình dân chủ hóa.

Thứ ba, về bản chất, decentralization trước hết là một tiến trình chính trị/hành chính song nó cũng không thể thực hiện được nếu bỏ qua khía cạnh tài chính. Nói cách khác, decentralization cần được đồng thời tiến hành trên các phương diện chính trị, hành chính và tài chính.

Thứ tư, không phải mọi chức năng, lĩnh vực hoạt động của Nhà nước cũng đều cần thiết là đối tượng của decentralization hoặc cần phải thực hiện decentralization một cách triệt để, hoàn toàn. Việc xác định chức năng, lĩnh vực hoạt động nào của Nhà nước cần được phân cấp quản lý, khi nào thực hiện và thực hiện đến mức độ nào cần dựa trên việc nghiên cứu, phân tích rất nhiều yếu tố có liên quan.

Thứ năm, decentralization không phải là một tiến trình nhất thành bất biến, mà phải được liên tục rà soát và điều chỉnh khi cần thiết.

Thứ sáu, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước và khu vực khác là cần thiết, nhưng không có mô hình dập khuôn nào về decentralization cho tất cả các nước và khu vực. Áp dụng dập khuôn mô hình decentralization của nước này cho nước khác hoặc sẽ làm tổn hại đến sự phát triển của nước đó, hoặc sẽ không đạt được hiệu quả cao lẽ ra có thể.


GS, TS. Nguyễn Đăng Dung; ThS Vũ Công Giao - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà nội.
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử
_________

(1) Nguồn: World Bank, “What is Decentralization?”, accessed at www.ciesin.org/decentralization/English/General/ Different_forms.html.

(2) Xem: USAID Center for Democracy and Governance, Decentralization and Democratic Local Governance Programming, Handbook, Washington DC: USAID, May 2000.

(3) Xem: Local Rule: Decentralisation and Human Rights, 2002, International Council on Human Rights Policy, Versoix, Switzerland.

(4) Nguồn: Overview of Decentralisation Worldwide, Institutional Development Group Democratic Governance Team, 2nd International Conference on Decentralisation July 25– 27, 2002, Manila, Philippines.

(5) Xem: Meenakshi Sundaram, Decentralisation in Developing Countries, 1994. p. 11.

(6) Xem: International Review of Administrative Science, Rondinelliet all, 1981.

(7) Xem: The International Council on Human Rights Policy, sđd.

(8) Về vấn đề này, nguyên Tổng thư ký Liên hợp quốc nhiệm kỳ trước, ông Kofi A. Annan đã từng phát biểu “Quản trị tốt có lẽ là yếu tố quan trọng nhất với việc xóa bỏ đói nghèo và thúc đẩy sự phát triển”.

(9) Xem Decentralisation and Corruption - A Review of the Literature, Odd-Helge Fjeldstad, U4 Report, 10 July 2003.

(10) Xem: Local Rule: Decentralisation and Human Rights, sđd.

(11) Xem: FAO, “A History of Decentralization”, accessed at www.ciesin.org/ decentralization/English/General/history_fao.html; World Bank, “What is Decentralization?”, accessed at www.ciesin.org/decentralization/English/General/Different_forms.html ; and Lidija R. Basta, “Decentralization – Key Issues, Major Trends and Future Developments”, accessed at www.ciesin.org/decentralization/English/ General/SDC_keyissues.pdf.

(12) Nền chính trị của Phi-líp-pin - với một loạt vụ việc lạm quyền nghiêm trọng của những nhóm tinh hoa ở cấp địa phương xảy ra mới đây - có thể xem là một ví dụ sinh động minh chứng cho luận điểm này.

(13) Tư liệu cho phần này sử dụng từ bài Overview of Decentralisation Worldwide, tldd.

(14) Việc duy trì các khu tự trị, các đặc khu kinh tế… là những biểu hiện cho thấy mức độ phân cấp quản lý cao ở Trung Quốc.

(15) Xem: Overview of Decentralisation Worldwide, tlđ.

(16) Xem: Ebel, Robert D. and Serdar Yilmaz (2002), ‘On the Measurement and Impact of Fiscal Decentralization’, Policy Research Working Paper, 2809, Washington: World Bank.

 

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích nghiên cứu, giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)