Thuật ngữ “hệ thống tư pháp người chưa thành niên” mới được nhắc đến nhiều ở Việt Nam trong những năm gần đây. Theo quan niệm thông dụng quốc tế thì thuật ngữ này được dùng với nghĩa chỉ tất cả các quá trình và thủ tục xử lý các hành vi vi phạm pháp luật (cả hành chính và hình sự) do những người dưới 18 tuổi thực hiện. Với ý nghĩa đó, khái niệm này bao trùm rất nhiều giai đoạn từ ngăn ngừa, giáo dục đến xử lý hành chính, xử lý hình sự và tái hoà nhập cộng đồng cho người vi phạm chưa thành niên, sau khi họ đã chấp hành đầy đủ hình phạt và các biện pháp giáo dục.

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi người chưa thành niên[1], đặc biệt là những người dưới 16 tuổi, là những người chưa trưởng thành do họ còn non nớt về thể chất và trí tuệ. Do đó, họ cần được đối xử khác với cách đối xử dành cho người đã thành niên và cần được gia đình, xã hội và Nhà nước bảo vệ, chăm sóc đặc biệt. Quan điểm, chính sách cơ bản này đã được thể hiện trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như trong một số luật quan trọng ở cả hệ thống hành chính và hình sự. Bên cạnh các điều khoản quy định riêng trong Hiến pháp về người chưa thành niên, Nhà nước còn ban hành riêng một văn bản luật quy định một cách toàn diện về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Các văn bản luật quy định về các loại trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật đều có chương riêng hoặc một số điều khoản riêng quy định áp dụng đối với người chưa thành niên[2].

I. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT

Người chưa thành niên vi phạm pháp luật (NCTNVPPL) tại Việt Nam, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm của họ, có thể bị xử lý bằng các biện pháp chính thức là hành chính hoặc hình sự hoặc các biện pháp không chính thức.

 >> Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại (24/7) gọi:   1900 6162

1. Về nguyên tắc xử lý

Một nguyên tắc tối cao trong việc xử lý NCTNVPPL là phải luôn quan tâm bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các em[3].

Theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính[4] (tại các Điều 7, 23, 24, 26) thì người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính chỉ bị phạt cảnh cáo; người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên vi phạm hành chính thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền với mức phạt không quá một phần hai mức phạt đối với người thành niên hoặc bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh.

Việc xử lý NCTNVPPL phải đáp ứng được mục đích chính là giáo dục, giúp đỡ các em sửa chữa sai lầm và trở thành người có ích cho xã hội. Tinh thần này được thể hiện rõ trong Luật về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 (Điều 58) Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 69). Theo đó, việc xử lý người chưa thành niên vi phạm nói chung và phạm tội nói riêng chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Các em được gia đình, nhà trường và xã hội giáo dục, giúp đỡ để sửa chữa sai lầm, có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quy tắc của đời sống xã hội và sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Việc tổ chức giáo dục trẻ em vi phạm pháp luật chủ yếu được thực hiện tại cộng đồng hoặc đưa vào trường giáo dưỡng.

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Đây là một trong những nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 69 Bộ luật Hình sự. Ngoài những điều kiện miễn trách nhiệm hình sự áp dụng chung, người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.

Đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội thì các em chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng và việc miễn trách nhiệm hình sự đối với các em được thực hiện theo quy định chung.

2. Về hệ thống biện pháp xử lý chính thức

Việt Nam có hai hệ thống chính thức xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và đối với vi phạm của người chưa thành niên nói riêng (còn gọi là hệ thống xử lý chính thức). Đó là hệ thống xử lý vi phạm hành chính và hệ thống tư pháp hình sự. Đặc điểm chung của hai hệ thống xử lý vi phạm này là chúng mang tính quyền lực nhà nước và việc thi hành các quyết định xử lý được bảo đảm bằng cưỡng chế của Nhà nước.

Xử lý vi phạm hành chính

Theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà người chưa thành niên vi phạm hành chính sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác.

Thứ nhất, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên được quy định tại  Điều 6 và Điều 7 của Pháp lệnh. Theo đó, người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý và hình thức phạt áp dụng đối với các em chỉ là cảnh cáo, dù đó là bất cứ loại hành vi vi phạm hành chính nào. Người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra và hình thức phạt áp dụng đối với họ là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Tuy nhiên, mức tiền phạt đối với người chưa thành niên ở độ tuổi này không được quá một phần hai mức tiền phạt đối với người đã thành niên. Trong trường hợp họ không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải nộp thay. Ngoài ra, người chưa thành niên vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại các điều 54, 55 và 56 của Pháp lệnh XLVPHC thì việc xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo một trong hai loại thủ tục xử phạt là thủ tục xử phạt đơn giản (tức là phạt tại chỗ mà không cần lập biên bản) và thủ tục xử phạt có lập biên bản (tức là trước tiên phải lập biên bản về vi phạm hành chính, sau đó người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt). Thủ tục xử phạt đơn giản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng còn thủ tục xử phạt có lập biên bản  được áp dụng trong trường hợp phạt tiền trên 100.000 đồng.

 Ngoài ra, Pháp lệnh XLVPHC còn quy định về việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử lý bằng biện pháp khác, theo đó, khi xem xét vụ vi phạm để quyết định xử phạt hành chính, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền; nếu đã ra quyết định xử phạt, nhưng sau đó phát hiện hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đã ra quyết định xử phạt hành chính phải huỷ quyết định đó và chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền. Nghiêm cấm việc giữ lại các vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử phạt hành chính (Điều 62).

Trong trường hợp vụ án hình sự bị đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi phạm pháp có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án kèm theo hồ sơ vụ vi phạm và đề nghị xử phạt hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính (Điều 63).

Thứ hai, việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác đối với người chưa thành niên cũng được Pháp lệnh XLVPHC quy định rõ. Có ba trong số bốn biện pháp xử lý hành chính khác được áp dụng đối với người chưa thành niên vi phạm. Đó là: biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng và đưa vào cơ sở chữa bệnh[5].

Theo quy định tại Điều 23 của Pháp lệnh thì Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn quyết định áp dụng biện pháp Giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên vi phạm để giáo dục, quản lý các em tại nơi cư trú trong một thời gian từ 3 đến 6 tháng đối với 3 trường hợp sau: (1) Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự; (2) Người từ đủ 12 tuổi trở lên nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng và (3) là người bán dâm có tính chất thường xuyên từ đủ 14 tuổi trở lên có nơi cư trú nhất định. 

Theo quy định tại Điều 24 của Pháp lệnh thì Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định áp dụng biện pháp Đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn từ 6 tháng đến 2 năm đối với người chưa thành niên vi phạm để các em học văn hoá, giáo dục hướng nghiệp, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của trường.

Biện pháp xử lý hành chính Đưa vào trường giáo dưỡng được áp dụng đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự; người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhiều lần thực hiện  hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định.

Điều 26 Pháp lệnh XLVPHC quy định Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở chữa bệnh với thời hạn từ 3 tháng đến 18 tháng đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên bán dâm có tính chất thường xuyên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định để các em lao động, học văn hoá, học nghề và chữa bệnh dưới sự quản lý của cơ sở chữa bệnh.

Thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính nêu trên được quy định tại Chương VII về Thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác (Mục 1, Mục 2 và Mục 4), tại các điều từ Điều 70 đến Điều 83 và các điều từ Điều 93 đến Điều 101 của Pháp lệnh XLVPHC[6].

Trước hết, việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do Chủ tịch UBND cấp xã tự quyết định hoặc quyết định theo đề nghị của Trưởng Công an cấp xã, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã hoặc đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị dân cư ở cơ sở hoặc dựa trên cơ sở hồ sơ, biên bản về hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng do cơ quan Công an cấp huyện, cấp tỉnh cung cấp.

Trước khi quyết định việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức cuộc họp gồm Trưởng Công an cấp xã, đại diện Ban Tư pháp, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xã hội cùng cấp có liên quan, đại diện dân cư ở cơ sở, gia đình của người được đề nghị giáo dục để xem xét việc áp dụng biện pháp này. Sau cuộc họp này, Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, quyết định việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên và giao các em cho gia đình, nhà trường, đoàn thanh niên, cơ quan, tổ chức thích hợp ở cơ sở quản lý, giáo dục.

Đối với việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng và đưa vào cơ sở chữa bệnh thì thủ tục áp dụng được quy định như sau:

Trước hết, Chủ tịch UBND cấp xã lập hồ sơ đề nghị đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh; đối với người chưa thành niên không có nơi cư trú nhất định thì Chủ tịch UBND cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập biên bản, báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện. Sau khi nhận được hồ sơ hoặc biên bản nói trên, Chủ tịch UBND cấp huyện thành lập Hội đồng tư vấn về việc đưa vào trường giáo dưỡng hoặc Hội đồng tư vấn về việc đưa vào cơ sở chữa bệnh và giao hồ sơ cho Trưởng Công an (đối với hồ sơ đề nghị đưa vào trường giáo dưỡng) hoặc Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cấp (đối với hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở chữa bệnh) tiến hành thẩm tra xác minh, thu thập tài liệu, hoàn chỉnh hồ sơ và gửi hồ sơ đến các thành viên của Hội đồng tư vấn theo quy định tại  Điều 75 và Điều 93 của Pháp lệnh.

Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Hội đồng tư vấn có trách nhiệm xem xét hồ sơ và tổ chức cuộc họp để xét duyệt  hồ sơ theo quy định tại Điều 76 và Điều 94 của Pháp lệnh. Hội đồng tư vấn làm việc theo chế độ tập thể, kết luận theo đa số. Các ý kiến khác nhau phải ghi vào biên bản cuộc họp kèm theo báo cáo trình Chủ tịch UBND cấp huyện.

Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo của Hội đồng tư vấn, Chủ tịch UBND cấp huyện xem xét, quyết định việc đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh theo quy định tại Điều 77 và Điều 95 của Pháp lệnh. Quyết định này phải được gửi cho người bị áp dụng, cha mẹ hoặc người giám hộ của người đó, cơ quan Công an cấp huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội đồng nhân dân cấp huyện và UBND cấp xã nơi người đó cư trú.

Ngoài ra, Điều 111 và Điều 112 của Pháp lệnh XLVPHC còn có quy định về việc chuyển hồ sơ của đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước hoặc trong thời gian chấp hành biện pháp xử lý hành chính khác.

Xử lý hình sự:

Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (các Điều 34, 35, 68 - 75) thì người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi trở lên thực hiện hành vi phạm tội sẽ bị xử lý về hình sự và bị áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp tư pháp mang tính giáo dục, phòng ngừa. Cụ thể:  

1. Người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng (tức tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt do luật định là từ trên 7 năm đến 15 năm tù) do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (tức tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt do luật định là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình).

2. Không áp dụng hình phạt tù chung thân và tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội. Nếu trong khung hình phạt được áp dụng có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt tù có thời hạn cao nhất được áp dụng là không quá 18 năm (đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên khi phạm tội) hoặc 12 năm (đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội).

3. Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội cũng nhẹ hơn so với người đã thành niên. Cụ thể là mức phạt tù có thời hạn cao nhất được áp dụng là không quá 3/4 (đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên khi phạm tội) hoặc 1/2 (đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội) mức phạt tù mà điều luật quy định.

4. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định và người chưa thành niên bị phạt cải tạo không giam giữ không bị khấu trừ thu nhập.

5. Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi. Phạt tiền là hình phạt chính chỉ áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu các em có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Mức phạt tiền không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định.

6. Không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.

7. Khi thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tòa án có thể áp dụng một trong các biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa sau: giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng.

Trình tự, thủ tục xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định rõ trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, (đặc biệt là Chương 32 - Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên), theo đó, quá trình xử lý vụ án hình sự diễn ra qua 4 giai đoạn: khởi tố vụ án hình sự; khỏi tố bị can và tiến hành các hoạt động điều tra (như thẩm vấn, khám xét, khám nghiệm, thu giữ các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, v.v..); truy tố; xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Tuy nhiên, thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội có một số điểm đặc thù đáng lưu ý như sau:

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng hình sự bảo đảm tối đa quyền bào chữa của bị can, bị cáo chưa thành niên. Việc tham gia của người bào chữa trong các vụ án người chưa thành niên phạm tội là bắt buộc. Nếu gia đình không mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho các em hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận và các tổ chức thành viên (như Hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên) cử người bào chữa cho các em (Điều 305).

Thứ hai, Bộ luật Tố tụng hình sự (Điều 306) quy định việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường, tổ chức đoàn thanh niên, v.v.. trong các vụ án người chưa thành niên.

Thứ ba, Bộ luật Tố tụng hình sự cũng yêu cầu cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án người chưa thành niên phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên, đồng thời, thành phần Hội đồng xét xử bắt buộc phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (các điều 302 và 307).

Thứ tư, để bảo đảm bí mật đời tư cho người chưa thành niên, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trong trường hợp cần thiết thì Tòa án có thể xét xử kín vụ án người chưa thành niên phạm tội.

3. Về xử lý không chính thức

Đối với những hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên thì ngoài các biện pháp xử lý mang tính quyền lực nhà nước là xử lý vi phạm hành chính và xử lý hình sự (hay còn gọi là biện pháp xử lý chính thức) như đã nêu trên, còn có các biện pháp xử lý khác không mang tính quyền lực nhà nước (hay còn gọi là biện pháp xử lý không chính thức) như: hoà giải, xử lý kỷ luật của nhà trường, v.v.. Các biện pháp xử lý này được áp dụng trong những trường hợp để giải quyết những vi phạm nhỏ nhặt, các tranh chấp, mâu thuẫn xảy ra trong cuộc sống hàng ngày.

Hòa giải

Cơ sở pháp lý của biện pháp này là Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở năm 1998, trong đó xác định rõ việc hoà giải chỉ được tiến hành đối với những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư như: mâu thuẫn, xích mích giữa các cá nhân với nhau; tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình; những việc vi phạm pháp luật khác mà theo quy định của pháp luật hiện hành thì chưa đến mức bị xử lý bằng biện pháp hình sự hoặc biện pháp xử lý hành chính (bằng các biện pháp chính thức) - Điều 3.

Điều đáng lưu ý là, một trong những nguyên tắc hòa giải quan trọng được quy định tại Điều 4 của Pháp lệnh là phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không được bắt buộc, áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hoà giải. Việc hòa giải phải có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên tranh chấp; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;

Thủ tục tiến hành hoạt động hòa giải được quy định rõ tại chương III của Pháp lệnh (các điều từ  Điều 10 đến Điều 14), theo đó, việc hòa giải được tiến hành theo yêu cầu của một bên hoặc các bên tranh chấp; theo sáng kiến của Tổ trưởng hoặc Tổ viên Tổ hoà giải hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác. Việc hoà giải có thể do một hoặc một số tổ viên Tổ hoà giải tiến hành. Trong trường hợp cần thiết, tổ viên Tổ hoà giải có thể mời người ngoài Tổ hoà giải cùng tham gia hoà giải.

Các hình thức xử lý không chính thức khác do nhà trường, tổ chức xã hội áp dụng

Cơ sở pháp lý là Điều lệ Trường tiểu học[7]. Điều lệ quy định học sinh phạm khuyết điểm trong quá trình học tập và rèn luyện có thể được khuyên răn hoặc trách phạt theo hình thức phê bình trước lớp hoặc khiển trách có thông báo với gia đình (khoản 2 Điều 43).

Theo quy định tại khoản 2 Điều 50 của Điều lệ Trường trung học chuyên nghiệp[8] thì học sinh phạm khuyết điểm trong quá trình học tập và rèn luyện được khuyên răn hoặc trách phạt theo các hình thức: Phê bình trước lớp, trước trường; Khiển trách có thông báo với gia đình; Cảnh cáo ghi học bạ; Đình chỉ học tập có thời hạn;Buộc thôi học.

Theo tinh thần quy định của Điều lệ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh[9] thì người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi trở lên là đoàn viên hoặc cán bộ đoàn mà vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm khuyết điểm sẽ bị áp dụng một trong các hình thức kỷ luật sau: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ (khoản 2 Điều 28).

4. Hạn chế của hệ thống tư pháp xử lý NCTNVPPL ở Việt Nam

Chúng tôi thấy rằng, việc xử lý người chưa thành niên vi phạm còn có một số hạn chế, bất cấp nhất định thể hiện ở chỗ: 

- Hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề này trong nhiều trường hợp còn chưa đồng bộ và đầy đủ. Ngoài các hình thức xử lý chính thức (xử lý hành chính và xử lý hình sự), chúng ta chưa xác lập khung pháp lý riêng cho các hình thức xử lý thay thế mang tính giáo dục phòng ngừa xã hội cao, không mang tính quyền lực Nhà nước (còn gọi là xử lý chuyển hướng) đối với người chưa thành niên vi phạm.

- Việc hỗ trợ, tạo điều kiện cho người chưa thành niên tái hòa nhập cộng đồng sau khi các em ra khỏi trại giam hoặc trường giáo dưỡng đã được pháp luật ghi nhận nhưng mới chỉ dừng lại ở tầm chủ trương, chính sách chung, chưa có các chương trình, đề án cụ thể để thực hiện do vậy, việc thực hiện quy định luật pháp và chính sách hỗ trợ tái hòa nhập cho các em gặp rất nhiều khó khăn. Điều này ít nhiều hạn chế hiệu quả của việc xử lý vi phạm.

Việc xử lý vi phạm hành chính có những hạn chế nhất định xuất phát từ tính chất, đặc điểm và nội dung, hình thức, cũng như bối cảnh trong đó các biện pháp này được áp dụng. Cụ thể: việc phạt tiền đối với NCTNVPPL thiếu tính răn đe vì bố mẹ sẽ là người nộp tiền phạt cho các em là chủ yếu. Hơn nữa, mức phạt (nếu có) đến 100.000 đồng không có tác dụng răn đe phòng ngừa. Ở nhiều nơi, việc thực hiện biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn chưa được nghiêm túc nên làm giảm tác dụng giáo dục phòng ngừa của biện pháp xử lý này. Nếu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên vi phạm có tính chất bột phát, sự vụ hoặc do xúi giục thì nhiều trường hợp lợi bất cập hại do tình trạng “thuốc dùng quá liều”.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 cũng có những điều khoản quy định về thủ tục đối với người chưa thành niên từ Điều 301 đến Điều 310, Chương 32. Tuy nhiên, phạm vi áp dụng chỉ bao gồm người chưa thành niên bị bắt giữ, tạm giữ, bị can, bị cáo mà chưa có điều khoản nào quy định về người bị hại, người làm chứng là trẻ em. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 mới chỉ đề cập các thủ tục đối với NCTNVPPL. Tương tự, Bộ luật Dân sự cũng chưa có điều khoản nào quy định về thủ tục đối với người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên.

Mặc dù chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể cần phải coi lợi ích tốt nhất của trẻ em là mối quan tâm hàng đầu trong tất cả các quá trình tố tụng có liên quan tới họ, nhưng trên thực tế, trong một số vụ án, Toà án đã chỉ định luật sư để bảo vệ lợi ích của người bị hại là trẻ em ngay cả khi pháp luật chưa quy định bắt buộc vấn đề này.

II. KHUYẾN NGHỊ HOÀN THIỆN LUẬT PHÁP, CHÍNH SÁCH XỬ LÝ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT TẠI VIỆT NAM

Trên cơ sở nghiên cứu, xem xét một cách tổng thể toàn bộ hệ thống thể chế hiện hành về tư pháp người chưa thành niên và các quy tắc chuẩn mực quốc tế về xử lý NCTNVPPL, cũng như nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách pháp luật của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, chúng tôi có một số đề xuất, khuyến nghị chủ yếu sau đây:

  Thứ nhất, cần khẩn trương hoàn thiện luật pháp, chính sách theo hướng  tăng cường xử lý chuyển hướng và tư pháp phục hồi đối với NCTNVPPL tại Việt Nam để bảo đảm phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và xu hướng hội nhập.

Việt Nam hiện đã có một số quy định và hình thức xử lý có thể được coi là nền tảng để áp dụng và tăng cường xử lý chuyển hướng và tư pháp phục hồi đối với NCTNVPPL cũng như người bị hại là trẻ em. Nói cách khác, hệ thống pháp luật hiện hành đã có những cơ hội để áp dụng các chế định này, đặc biệt là có thể hoàn thiện hệ thống pháp luật này trong cuộc cải cách lớn và toàn diện về pháp luật hiện nay, nhất là pháp luật hành chính và hình sự

Thứ hai, củng cố hệ thống pháp luật xử lý vi phạm hành chính và thúc đẩy việc tăng cường áp dụng các biện pháp xử lý không chính thức tại cộng đồng mang tính phục hồi đối với NCTNVPPL hành chính.

Như đã đề cập ở trên, tuy hệ thống hành chính có đặc điểm ít chính thức hơn hệ thống hình sự nhưng vẫn chưa thể coi là xử lý chuyển hướng theo các quy định quốc tế vì trong hệ thống này, trẻ em vẫn bị áp dụng các chế tài chính thức. Về lâu dài, Việt Nam nên xem xét việc tiến hành các cải cách, thay đổi để đảm bảo tất cả các hành vi vi phạm hành chính cũng như vi phạm hình sự nhỏ, ít nghiêm trọng do NCTNVPPL thực hiện đều được xử lý bằng các biện pháp không chính thức, thay vì các biện pháp xử lý hành chính hoặc hình sự chính thức. Trong thời gian tới, có thể tiến hành một số cải cách trong hệ thống xử lý hành chính nhằm phát huy các yếu tố phục hồi, khuyến khích việc sử dụng và hiệu quả của các chế tài không giam giữ, và giảm thiểu sự kỳ thị. Việc xây dựng một Chương riêng biệt về NCTNVPPL trong Dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính là một cơ hội để Việt Nam có thể giải quyết được những khiếm khuyết và bất cập trong hệ thống xử lý vi phạm hành chính hiện nay và làm cho hệ thống này phù hợp hơn với các quy định và mô hình hoạt động hiệu quả của quốc tế.

- Buộc lao động phục vụ cộng đồng nên nghiên cứu và quy định trong Dự án Luật như là một biện pháp hành chính nhằm mục đích để người chưa thành niên chịu trách nhiệm cá nhân đối với hành động của mình thông qua việc yêu cầu người đó làm một số công việc nhẹ nhàng phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng.

- Cần khẩn trương nghiên cứu và xem xét việc bãi bỏ biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở chữa bệnh đối với người chưa thành niên. Các biện pháp này vi phạm quyền của người chưa thành niên và theo quy định quốc tế thì chỉ được áp dụng để xử lý các hành vi tội phạm bạo lực nguy hiểm và chỉ áp dụng sau khi tiến hành quy trình xét xử đầy đủ và công bằng.

- Đề xuất quy định biện pháp hoà giải giữa người bị hại và người vi phạm là một biện pháp không chính thức để chuyển xử lý người chưa thành niên ra bên ngoài hệ thống xử lý vi phạm hành chính. Biện pháp này đặc biệt phù hợp với các vụ vi phạm trong đó xác định được người bị hại (là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức), và người bị hại đồng ý với thoả thuận hoà giải.

Thứ ba, quy định cơ sở pháp lý áp dụng các chế tài xử lý vi phạm hành chính hợp lý, công bằng, minh bạch và phù hợp với các quy tắc chuẩn mực quốc tế đối với người chưa thành niên.

Đề nghị quy định việc áp dụng các chế tài xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên trong Dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng như sau:

- Đối với NCTNVPPL từ 14-16 tuổi chỉ nên áp dụng biện pháp hành chính cảnh cáo hoặc hoà giải để xử lý hành vi vi phạm hành chính.

- Đối với NCTNVPPL từ 16-18 tuổi, chỉ nên áp dụng các biện pháp hành chính cảnh cáo, hoà giải hoặc buộc lao động phục vụ cộng đồng để xử lý hành vi vi phạm hành chính. Về cơ bản, cần coi cảnh cáo là biện pháp chủ chốt trong xử lý những người chưa thành niên vi phạm lần đầu hoặc ít nghiêm trọng, còn hoà giải và buộc lao động phục vụ cộng đồng thì áp dụng đối với các hành vi vi phạm nhiều lần hoặc vi phạm nghiêm trọng.

- Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với các nhóm NCTNVPPL: (1) Người chưa thành niên từ 14 đến 16 tuổi phạm tội nghiêm trọng do cố ý như quy định của Bộ luật Hình sự (thay đổi so với quy định hiện nay là 12-16 tuổi); (2) NCTNVPPL từ 14 đến dưới 18 tuổi phạm tội trộm cắp tài sản, lừa đảo, đánh bạc hoặc gây rối trật tự công cộng mà tái phạm nhiều lần (giữ nguyên như quy định hiện nay); (3) NCTNVPPL từ 14 đến 18 tuổi phạm tội hình sự nhưng được cơ quan tiến hành tố tụng quyết định miễn trách nhiệm hình sự và chuyển ra giám sát tại cộng đồng;

- Cần nghiên cứu đề xuất để bãi bỏ các điều khoản cho phép áp dụng biện pháp này đối với người bán dâm có tính chất thường xuyên từ đủ 14 tuổi trở lên không có nơi cư trú ổn định. Theo Nghị định thư bổ sung cho Công ước quyền trẻ  em (Việt Nam đã phê chuẩn), thì người chưa thành niên dưới 18 tuổi bị bóc lột tình dục thông qua hoạt động mại dâm cần được đối xử như người bị hại, cần được hưởng những hỗ trợ xã hội và không bị áp dụng bất cứ một hình thức xử phạt nào.

Thứ  tư, cần khẩn trương nghiên cứu và có sự sửa đổi, cải tiến các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.

Cần khẩn trương đề xuất quy định trao thẩm quyền áp dụng các biện pháp cảnh cáo, hoà giải và buộc lao động phục vụ cộng đồng cho các cơ quan hiện được trao thẩm quyền áp dụng cảnh cáo và phạt tiền theo quy định của Pháp lệnh hiện hành.

Về thẩm quyền áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đề nghị tiếp tục quy định thuộc thẩm quyền Chủ tịch UBND cấp xã nhưng có sửa đổi, bổ sung một số nội dung về trình tự thủ tục áp dụng để tăng cường tính chất phục hồi của quá trình ra quyết định và đảm bảo quyền lợi của người chưa thành niên.

Thứ năm, tăng cường xử lý chuyển hướng trong hệ thống xử lý hình sự và mở rộng việc áp dụng các chế tài không giam giữ mang tính phục hồi.

Điều 69 Bộ luật Hình sự trao quyền cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc miễn trách nhiệm hình sự cho người chưa thành niên và giao cho gia đình hoặc tổ chức giám sát. Những quy định này đã tạo ra một cơ hội lý tưởng để thúc đẩy xử lý chuyển hướng NCTNVPPL từ hệ thống tư pháp hình sự chính thức ra một hệ thống xử lý ít chính thức hơn. Tuy nhiên, do thiếu những hướng dẫn rõ ràng và quy trình áp dụng nên các quy định này ít khi được áp dụng trên thực tế. Vì vậy, nhằm tăng cường khả năng áp dụng những quy định này, cần có những sửa đổi để quy định rõ ràng hơn việc sử dụng quyền tự quyết và đảm bảo rằng những quy định này được áp dụng trên cơ sở tôn trọng đầy đủ quyền của NCTNVPPL. Ngoài ra, chỉ đơn thuần giao người chưa thành niên cho cha mẹ hoặc tổ chức xã hội giám sát trong một số trường hợp có thể là không đủ để giúp họ giải quyết những yếu tố nguy cơ tiềm ẩn đã góp phần dẫn đến hành vi vi phạm của họ. Các cơ quan tiến hành tố tụng có thể sẽ ngần ngại áp dụng biện pháp này nếu không có gì đảm bảo rằng, người chưa thành niên sẽ nhận được những hỗ trợ mà họ cần để ngăn ngừa hành vi tương tự xảy ra trong tương lai.

- Cần ban hành những văn bản những hướng dẫn chi tiết cho điều khoản này của Bộ luật Hình sự cũng như tiến hành đào tạo tập huấn cho các điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán để áp dụng những biện pháp đó phù hợp hơn.

Ngoài việc tăng cường các điều khoản về xử lý chuyển hướng, một vấn đề đáng lưu tâm là nên sửa đổi Bộ luật Hình sự theo hướng trao quyền tự quyết rộng rãi hơn cho các thẩm phán trong việc áp dụng các chế tài không giam giữ đối với người chưa thành niên bao gồm Cải tạo không giam giữ và Án treo. Hiện tại, việc áp dụng các chế tài này chỉ có thể thực hiện được đối với một số loại hành vi phạm tội nhất định. Kiến nghị mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp này đối với tất cả các tội phạm trừ những tội đặc biệt nghiêm trọng. Ngoài ra cũng cần có hướng dẫn chi tiết hơn để đảm bảo áp dụng hiệu quả các biện pháp này tại cộng đồng nhằm đảm bảo người chưa thành niên khi bị áp dụng chế tài không giam giữ thì đồng thời phải nhận được những hỗ trợ cần thiết để tránh tái phạm.

Thứ  sáu, cải thiện biện pháp hoà giải và mở rộng khả năng áp dụng biện pháp này trong xử lý hành vi vi phạm của người chưa thành niên.

Hiện nay, Việt Nam đã sử dụng biện pháp hoà giải với tư cách là một chế tài không chính thức để xử lý những vi phạm pháp luật nhỏ chưa đủ để xử lý hành chính hoặc hình sự. Hoà giải cũng được áp dụng với hành vi phạm tội thuộc nhóm chỉ có thể truy tố theo yêu cầu của người bị hại mà người bị hại không có yêu cầu. Để xây dựng chế định này phù hợp với các đề xuất về cải cách hệ thống pháp luật hành chính và hình sự nói trên, đáp ứng được yêu cầu về tăng cường xử lý chuyển hướng và tư pháp phục hồi đối với NCTNVPPL, theo chúng tôi cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở theo hướng mở rộng khả năng áp dụng hoà giải với tư cách là một trong các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính và với tư cách là một biện pháp xứ lý chuyển hướng trong trường hợp miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định tại Khoản 2 Điều 69 nói trên; xây dựng hướng dẫn hoặc quy chế tiến hành hoà giải các vụ việc có liên quan đến người chưa thành niên để bảo đảm: bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên trong quá trình hoà giải; đảm bảo sự tham gia của bản thân người chưa thành niên vào quá trình hoà giải (chứ không phải chỉ là sự tham gia của cha mẹ hoặc người đại diện); các thoả thuận hoà giải phải đảm bảo người chưa thành niên phải nhận thấy trách nhiệm và tạo điều kiện cho họ thực hiện khắc phục hậu quả cho người bị hại theo một cách nào đó ngay cả khi họ không thể trả các khoản bồi thường kinh tế.

Thứ bảy, tăng cường công tác giám sát, hỗ trợ tại cộng đồng đối với NCTNVPPL.

Kết quả rà soát về xử lý chuyển hướng và tư pháp phục hồi do Bộ Tư pháp và các cơ quan đối tác tiến hành đã chỉ ra rằng, tuy đã có những cơ hội để áp dụng các biện pháp không chính thức và chế tài không giam giữ đối với NCTNVPPL, nhưng trên thực tế, công tác giám sát và hỗ trợ người chưa thành niên quản lý tại cộng đồng thường không được tiến hành hiệu quả và đồng bộ. Mặc dù người chưa thành niên bị áp dụng những biện pháp này thường phải ký cam kết với cơ quan hoặc tổ chức chịu trách nhiệm giáo dục, giám sát mình nhưng những cam kết này nhiều khi không có ý nghĩa thực tiễn đối với người chưa thành niên và rất ít khi giúp giải quyết được những yếu tố nguy cơ đã góp phần dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên. Các cộng đồng địa phương hầu hết đều có rất ít nguồn lực để trợ giúp cho người chưa thành niên giải quyết những khó khăn thách thức của mình, do đó, tỷ lệ tái phạm trong nhóm người chưa thành niên quản lý tại cộng đồng thường tương đối cao, dẫn đến việc thiếu sự tin tưởng đối với các biện pháp này.

Do đó, để thúc đẩy việc tăng cường áp dụng các biện pháp tại cộng đồng, cần phải có những nỗ lực củng cố công tác giám sát hỗ trợ cho người chưa thành niên bị áp dụng các biện pháp xử lý tại cộng đồng.

Mặc dù sự phối hợp giữa các cơ quan có ý nghĩa rất quan trọng nhưng kinh nghiệm từ các mô hình hoạt động hiệu quả của quốc tế đã cho thấy, cần chỉ định một cơ quan chủ chốt chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện hoạt động chuyển dẫn và quản lý, đồng thời xây dựng và hoàn thiện thêm các chương trình hỗ trợ chuyên nghiệp để giải quyết hành vi vi phạm của người chưa thành niên.

[1] Người chưa thanh niên là người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi. Trẻ em là người dưới 16 tuổi. Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam năm 2004 quy định rõ tại Điều 1: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”.

[2] Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khoá X kỳ họp thứ 10.

Ví dụ một số văn bản luật điển hình: Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 ngày 21/12/1999; Bộ luật Tố tụng hình sự số 19/2003/QH11 ngày 26/11/2003; Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005; Luật số 25/2004/Qh11 về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 55/6/ 2004; Pháp lệnh số 44/2002/PL-UBTVQH10 ngày 02/7/2002 về việc xử lý vi phạm hành chính….

[3] Điều58 Luật về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.

[4] Pháp lệnh XLVPHC số 44/2002/UBTVQH10 được UBTVQH ban hành ngày 02/7/2002, có hiệu lực từ 01/10/2002; được sửa đổi một số điều bới Pháp lệnh số 31/2007/UBTVQH11 ngày 08/3/2007 và sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Pháp lệnh  số 04/2008/UBTVQH12 ngày 02/04/2008. 

[5] Pháp lệnh XLVPHC còn quy định biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục áp dụng đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên.

[6] Bên cạnh đó, Chính phủ còn ban hành các Nghị định quy định cụ thể chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính nói trên, đó là: Nghị định số 163/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Nghị định số 142/2003/NĐ-CP ngày 24/11/2003 quy định việc áp dụng biện pháp XLHC đưa vào trường giáo dưỡng; Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10/6/2004 quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh XLVPHC và chế độ áp dụng đối với NCTN, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh.

[7] Được ban hành kèm theo Quyết định số 22/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo.

[8] Được ban hành kèm theo Quyết định số 24/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/ 7/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo.

[9] Được thông qua  tại Đại hội Đại biểu Đoàn toàn quốc lần thứ VIII ngày 8/12/2002.

Ths. Đặng Thanh Sơn (Nguồn: Tạp chí nghiên cứu lập pháp)

 

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)