Phần thứ nhất

CỰU CHIẾN BINH VÀ HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

 

 

I. CỰU CHIẾN BINH

1. Khái niệm Cựu chiến binh

 Cựu chiến binh Việt Nam là những người đã chiến đấu, trưởng thành trong các lực lượng vũ trang nhân dân do Đảng thành lập, tổ chức và lãnh đạo; được rèn luyện qua các cuộc kháng chiến oanh liệt, có những cống hiến rất to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là lực lượng cách mạng tuyệt đối trung thành với Đảng; có kinh nghiệm chiến đấu trong cách mạng và xây dựng đất nước.

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tôn vinh, ghi nhận và đánh giá cao sự hy sinh, cống hiến to lớn của Cựu chiến binh trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cựu chiến binh Việt Nam đã trải qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, kháng chiến cứu nước lâu dài, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cựu chiến binh Việt Nam bao gồm:

            - Thế hệ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 (khi tham gia Đội Tự vệ đỏ, Nam Kỳ khởi nghĩa, Du kích Bắc Sơn, Du kích Ba Tơ, Giải phóng quân, Cứu quốc quân);

            - Thế hệ tham gia kháng chiến chống Pháp;

            - Thế hệ tham gia kháng chiến chống Mỹ;

            - Thế hệ tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc ở phía Bắc và phía Tây Nam;

            - Thế hệ tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì “Cựu chiến binh là người đã từng tham gia quân đội, lực lượng vũ trang trong một cuộc chiến tranh”.

.Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh năm 2005 quy định:

Cựu chiến binh là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã tham gia đơn vị vũ trang chiến đấu chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã nghỉ hưu, chuyển ngành, phục viên, xuất ngũ, bao gồm:

1. Cán bộ, chiến sĩ đã tham gia các đơn vị vũ trang do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức trước cách mạng tháng Tám năm 1945;

2. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, biệt động đã tham gia kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế;

3. Cán bộ, chiến sĩ, dân quân, tự vệ, du kích, đội viên đội công tác vũ trang trong vùng địch tạm chiếm đã tham gia chiến đấu chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc;

4. Công nhân viên quốc phòng đã tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc;

5. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, dân quân, tự vệ đã tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

            Như vậy, Cựu chiến binh dù được định nghĩa rộng hay hẹp thì cũng đều là những người đã từng tham gia đơn vị vũ trang chiến đấu chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã nghỉ hưu, chuyển ngành, phục viên, xuất ngũ.

            Khi nghiên cứu khái niệm Cựu chiến binh cần chú ý để tránh nhầm lẫn với 02 khái niệm: Cựu binhCựu quân nhân.

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì “Cựu binh là người đã vào quân đội tương đối lâu, lính cũ”.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 11 Pháp lệnh Cựu chiến binh năm 2005 thì có thể hiểu Cựu quân nhân là quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự (phục viên, xuất ngũ, chuyển ngành) nhưng không phải là Cựu chiến binh.

2. Vị trí, vai trò của Cựu chiến binh

Sau hơn nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng và kháng chiến chống giặc ngoại xâm, đến nay cả nước ta có trên 4 triệu Cựu chiến binh. Nhiều Cựu chiến binh đã từng tham gia các đội tự vệ Đỏ trong phong trào Xô Viết Nghệ -Tĩnh năm 1930-1931, tham gia Đội du kích Bắc Sơn, du kích Nam Kỳ, Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, du kích Ba Tơ… Nhiều đồng chí tham gia chiến đấu từ những ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp, đã cống hiến gần trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đã được rèn luyện thử thách và tích lũy nhiều kinh nghiệm trong đấu tranh cách mạng. Số đông trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, nhiều đồng chí còn trẻ, khoẻ được xuất ngũ về địa phương hoặc chuyển ngành sang các cơ quan Nhà nước tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hàng triệu cựu chiến binh (CCB) Việt Nam đang có mặt trên khắp mọi miền của đất nước là một lực lượng đông đảo đã được thử thách, tôi luyện trong chiến tranh cách mạng, trực tiếp chiến đấu quyết liệt với kẻ thù xâm lược, được Đảng và quân đội giáo dục; có trình độ chính trị nhất định, trung thành với Đảng, với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, giàu lòng yêu nước, thương dân, sống tình nghĩa thuỷ chung với đồng đội, chân thành, giản dị, lành mạnh, có ý thức tổ chức kỷ luật, tôn trọng đạo lý, thẳng thắn đấu tranh chống tiêu cực, bất công xã hội, đoàn kết gắn bó với nhân dân, được dân mến, dân tin.

Từ kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình đấu tranh cách mạng của mình, trải qua các thời kỳ sóng gió của cách mạng, những giai đoạn đấu tranh quyết liệt với kẻ thù, CCB ý thức sâu sắc rằng với sức mạnh đoàn kết của toàn dân, với truyền thống tự lực tự cường của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kiên định và kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, nhất định đất nước ta sẽ vượt qua được khó khăn, thách thức hiện tại, giữ vững được thành quả cách mạng, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Với niềm tin sắt đá đó và với tấm lòng suốt đời vì nước, vì dân, Cựu chiến binh luôn ý thức rõ trách nhiệm của mình và luôn sẵn sàng hăng hái tham gia các hoạt động chính trị - xã hội, quốc phòng, an ninh, các phong trào, các cuộc vận động cách mạng của nhân dân; tích cực, tận tuỵ trong nhiệm vụ được phân công, góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân vượt qua những khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang trong các lực lượng cách mạng, anh chị em CCB trở lại hậu phương, về với gia đình, hoặc chuyển sang hoạt động trong các đơn vị, cơ quan chính quyền hay các ngành kinh tế, văn hoá, khoa học. Dù ở đâu, giữ bất cứ cương vị nào, làm bất cứ việc gì, tuyệt đại bộ phận CCB vẫn phát huy truyền thống của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ”. Đó là tiềm năng, là thế mạnh của CCB. Phát huy tốt những khả năng đó sẽ tạo thành một lực lượng chính trị đáng kể.

            Cựu chiến binh là lực lượng cách mạng tuyệt đối trung thành với Đảng, có kinh nghiệm chiến đấu trong cách mạng và xây dựng đất nước, được Đảng, nhà nước và nhân dân tôn vinh và đánh giá cao sự hy sinh, cống hiến to lớn trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn cách mạng mới Cựu chiến binh giữ vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc tiếp tục phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ chế độ XHCN, giúp nhau cải thiện đời sống, góp phần giáo dục truyền thống và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ.

            II. HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

1. Bối cảnh ra đời

Hơn 50 năm liên tục trong thế kỷ XX đất nước ta đã trải qua thời kỳ đấu tranh cách mạng và kháng chiến cứu nước lâu dài, gian khổ, ác liệt. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, cán bộ và chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân ta đã cùng toàn Đảng, toàn dân kiên cường, anh dũng chiến đấu, chiến thắng, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: Cách mạng Tháng Tám vĩ đại thành công, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở châu Á ra đời; tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống xâm lược trường kỳ gian khổ kết thúc với những chiến công oanh liệt "lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu", chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử nước cuốn triều dâng ...quét sạch quân xâm lược khỏi đất nước ta, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; thủy chung với bạn bè, làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang.

Trong những năm kháng chiến hào hùng của dân tộc, theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, lớp lớp thanh niên yêu nước – công nhân, nông dân, học sinh, trí thức và các tầng lớp nhân dân của hầu hết 54 dân tộc anh em trong cả nước, thế hệ nối tiếp thế hệ, lớp “cha đi trước, lớp con theo sau”, gia nhập các lực lượng vũ trang cách mạng, chiến đấu chống giặc ngoại xâm, cứu nước, cứu nhà.

Trải qua các thời kỳ chiến tranh cứu nước và giữ nước lâu dài, gian khổ, nhiều đồng chí đã hy sinh anh dũng, nhiều đồng chí mang thương tích, bệnh tật và hàng triệu đồng chí sau khi hoàn thành nhiệm vụ trong hàng ngũ các lực lượng vũ trang nhân dân đã lần lượt phục viên, xuất ngũ, nghỉ hưu về với cuộc sống gia đình; một bộ phận chuyển ngành sang công tác ở các cơ quan Đảng, Nhà nước, các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội. Về với cuộc sống đời thường, trên lĩnh vực công tác mới, anh chị em Cựu Chiến binh tiếp tục phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, đem ý chí và nhiệt tình cách mạng cùng những kinh nghiệm, kiến thức đã được tích luỹ từ những năm tháng sống trong quân ngũ để góp phần xây dựng quê hương đất nước.

Trong giai đoạn cách mạng mới, để tập hợp, đoàn kết, phát huy sáng tạo của Cựu Chiến binh đóng góp thiết thực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (khoá VI) đã quyết định cho thành lập Hội CCB Việt Nam (Nghị quyết ngày 06/12/1989). Tiếp đó, ngày 02-02-1990, phiên họp Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VI) do đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh chủ trì đã chỉ định Ban chấp hành lâm thời Hội CCB Việt Nam gồm 31 đồng chí do Thượng tướng Song Hào làm Chủ tịch. Ban Bí thư uỷ quyền cho Ban chấp hành lâm thời của Hội làm việc với các tỉnh uỷ, thành uỷ triển khai thực hiện Nghị quyết, hình thành tổ chức Hội ở địa phương. Ngày 24-02-1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) cấp giấy phép số 528/NC thành  lập  Hội  Cựu chiến binh Việt Nam (do Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt ký). Ngày 14-4-1990 Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Quyết định số 51/QĐ-MTTQ công nhận Hội CCB Việt Nam là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (do Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ ký).

Sự ra đời của Hội Cựu chiến binh Việt Nam đánh dấu mốc lịch sử quan trọng trong đời sống chính trị, tinh thần của CCB Việt Nam, phù hợp với nguyện vọng thiết tha chính đáng của anh chị em CCB. Phát biểu tại Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành lâm thời Hội CCB Việt Nam đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười khẳng định: “…Đảng và Nhà nước ta quyết định thành lập Hội CCB Việt Nam là một chủ trương đúng đắn, vừa đáp ứng tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay, vừa đáp ứng nguyện vọng thiết tha và chính đáng của CCB. Với sự ra đời của Hội CCB Việt Nam, nước ta có thêm một đoàn thể nhân dân, bao gồm anh chị em CCB đã được tôi luyện trong chiến tranh cách mạng, những chiến sĩ suốt đời gắn bó với Đảng, hết lòng phục vụ nhân dân, đã từng xả thân cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, làm tròn nghĩa vụ quốc tế”. Trong thư gửi Đại hội đại biểu CCB thành phố Hồ Chí Minh lần thứ nhất (29-4-1992), đồng chí Nguyễn Văn Linh, cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng, viết: “… Trong tình hình thế giới và trong nước phức tạp hiện nay, trong khi bọn đế quốc và bọn phản động người Việt ở ngoại quốc hay đang ẩn náu ở trong nước đang dùng mọi thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt để âm mưu lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, lật đổ Đảng ta hòng thực hiện âm mưu thâm độc diễn biến hoà bình, trong tình hình đó vai trò của Hội CCB là rất quan trọng…”.

2. Chức năng, nhiệm vụ của Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Hội Cựu chiến binh Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đại diện ý chí, nguyện vọng của Cựu chiến binh, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Điều 3, Pháp lệnh Cựu chiến binh năm 2005).

Điều 11 của Pháp lệnh cựu chiến binh năm 2005 quy định nhiệm vụ của Hội Cựu chiến binh Việt Nam là:

- Tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa; đấu tranh chống mọi âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; chống các quan điểm sai trái với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tệ nạn xã hội; giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật.

- Tham gia phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; kiến nghị với cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến Cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh.

- Tập hợp, đoàn kết, động viên Cựu chiến binh rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ hiểu biết đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiến thức về kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân; tập hợp quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự tiếp tục phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia tổ chức câu lạc bộ, Ban liên lạc Cựu quân nhân, các phong trào cách mạng ở cơ sở.

- Tổ chức chăm lo, giúp đỡ Cựu chiến binh nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phát triển kinh tế gia đình, xoá đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp; tổ chức các hoạt động tình nghĩa để Cựu chiến binh tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Cựu chiến binh; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tư vấn, trợ giúp pháp lý cho Cựu chiến binh.

- Tiến hành các hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

- Phối hợp với Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan quân sự giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí tự lực, tự cường cho thế hệ trẻ.

3. Quá trình hình thành và phát triển của Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Ngày 06-12-1989, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) quyết định thành lập Hội CCB Việt Nam. Chưa đầy 2 tháng sau, ngày 02-02-1990 Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Hội do Ban Bí thư chỉ định đã khẩn trương triển khai Nghị quyết, hướng dẫn tổ chức thành lập và chỉ đạo hoạt động công tác Hội trong cả nước. Quá trình xây dựng và hoạt động, được sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, sự giúp đỡ của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành, đoàn thể và cơ quan quốc phòng, an ninh các cấp, được sự ủng hộ của nhân dân, Hội đã nhanh chóng xây dựng về tổ chức, kết nạp gần 70 vạn hội viên, hình thành xong hệ thống tổ chức Hội 4 cấp và tiến hành xong Đại hội ở ba cấp từ cơ sở xã, phường đến quận, huyện, tỉnh và thành phố. Hội đã làm tốt vai trò tham mưu cho Đảng và chính quyền, làm nòng cốt vận động, tập hợp Cựu chiến binh tham gia có hiệu quả các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội ở địa phương, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, được Đảng bộ, chính quyền các cấp và nhân dân tin cậy, ủng hộ.

Song song với việc xây dựng Hội về tổ chức, phát triển hội viên, Ban chấp hành các cấp Hội đã quán triệt các Nghị quyết của Đảng, vận dụng thực hiện 6 nhiệm vụ của Hội được ghi trong Điều lệ dự thảo, gắn kết với nhiệm vụ chính trị của địa phương làm cho hoạt động của Hội ngày càng có chất lượng và đạt kết quả cao hơn.

Để thực hiện tốt công tác tư tưởng và tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ của Hội, ngay từ tháng 9 năm 1990 Hội phát hành tờ tin “Thông báo nội bộ” (tiền thân của tờ thông tin CCB hiện nay) lưu hành đến Ban chấp hành Hội CCB cấp tỉnh, thành và tháng 01 năm 1991, Báo CCB Việt Nam ra số đầu tiên.

Nhiệm vụ của Hội được triển khai trong giai đoạn lâm thời được thể hiện trên các nội dung sau:

- Hội đã động viên đông đảo cán bộ, hội viên tham gia các đợt sinh hoạt chính trị lớn, tích cực tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc. Cán bộ, hội viên tích cực tham gia, nghiên cứu, thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo văn kiện Đại hội VII của Đảng và Đại hội Đảng bộ các cấp; tham gia vào dự thảo Hiến pháp năm 1992 và bầu cử Quốc hội khoá 9 với ý thức trách nhiệm cao. Đông đảo CCB đã phát huy trí tuệ, chân thành góp ý kiến với Đảng từ những vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc đến những vấn đề cụ thể trong đường lối, chủ trương, nhiệm vụ cách mạng, trong công tác xây dựng Đảng và củng cố, tăng cường sức mạnh của Nhà nước. Các cấp Hội thường xuyên đóng góp ý kiến với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương về các chủ trương, nhiệm vụ, các mặt công tác ở cơ sở; kịp thời phát hiện và đấu tranh phê phán các quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, phủ nhận thắng lợi và thành tựu của Đảng và nhân dân ta qua các thời kỳ cách mạng, những khuynh hướng muốn đưa nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, những âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch kích động chia rẽ dân tộc, chia rẽ nội bộ Đảng ta, gây mất lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng… kiên quyết bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng.

Vốn là “Bộ đội Cụ Hồ”, vừa là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất, khi trở về đời thường đã phát huy trình độ hiểu biết và sự gương mẫu của mình trở thành lực lượng tuyên truyền, thuyết phục vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, các nhiệm vụ của địa phương. Đồng thời Hội phản ánh kịp thời những suy nghĩ, vướng mắc, những mâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ nhân dân và kiến nghị với Đảng, chính quyền các biện pháp giải quyết, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Hội cũng tích cực tham gia đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực trong xã hội và trong bộ máy Nhà nước, phát hiện những hiện tượng tham nhũng, ức hiếp quần chúng, đấu tranh với các hiện tượng bao che, không công bằng, thiếu nghiêm minh trong xử lý các vụ tham nhũng, góp phần củng cố lòng tin của dân đối với Đảng và cơ quan Nhà nước, được cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương tin cậy, nhân dân đồng tình ủng hộ.

- Các cấp Hội và hội viên đặc biệt quan tâm công tác quốc phòng và an ninh, tích cực hoạt động góp phần củng cố sức mạnh quốc phòng của đất nước, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, ổn định tình hình chính trị ở địa phương. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Hội đã ký thông tư liên tịch với Tổng cục chính trị - Bộ Quốc phòng về các nội dung trên. Các cấp Hội tích cực thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, góp nhiều ý kiến với cấp uỷ Đảng và chính quyền về xây dựng kế hoạch khu vực phòng thủ, phòng chống bạo loạn, tham gia các cuộc diễn tập quân sự ở địa phương; tham gia xây dựng về mặt chính trị, tư tưởng, huấn luyện quân sự, góp phần nâng cao chất lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Để ổn định tình hình chính trị - xã hội ở địa phương, Hội tích cực tham gia có hiệu quả các vụ tranh chấp ruộng đất ở nông thôn, lấn đất tranh nhà ở đô thị sau giải phóng, vỡ nợ của các quỹ tín dụng…, kịp thời cùng Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể bạn giải quyết ổn thoả, hợp tình hợp lý, ngăn chặn tình trạng mất ổn định ở các địa phương.

- Hội chủ động phối hợp với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, với các trường học, đơn vị quân đội và các đoàn thể nhân dân, tham gia góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.

Thực hiện ý kiến của Ban Bí thư Trung ương Đảng số 07/TB-TW ngày 04/11/1991 “Đối tượng vận động của Hội không chỉ là CCB, Hội cần đặc biệt coi trọng giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống dựng nước và giữ nước cho thế hệ trẻ”, Hội đã xác định tham gia giáo dục thế hệ trẻ là một nhiệm vụ chính trị quan trọng và anh chị em CCB có đủ khả năng, điều kiện để thực hiện. Ban chấp hành các cấp Hội đã mở các hội nghị liên tịch với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, đặt kế hoạch tuyên truyền, giáo dục truyền thống cho thanh niên địa phương, tham gia giúp đỡ các chi đoàn thanh niên, nhận đỡ đầu các trường học để thực hiện nhiệm vụ này. Hội còn quan tâm và tham gia giáo dục số thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về luôn luôn giữ vững và phát huy bản chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, giáo dục số thanh niên sắp đến tuổi làm nghĩa vụ quân sự sẵn sàng tham gia quân đội, tiếp bước cha anh hăng hái đi làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

- Hội có nhiều cố gắng chăm lo cuộc sống tinh thần, tình cảm và vật chất của hội viên, tích cực giúp đỡ nhau khi kinh tế khó khăn, ốm đau, hoạn nạn, tạo sự gắn bó giữa hội viên đối với Hội. Sau những năm phục vụ trong quân đội, khi trở về địa phương, gia đình, anh chị em CCB có nhu cầu rất lớn về tinh thần, tình cảm, thông tin và đời sống vật chất. Thấu hiểu những  nhu cầu chính đáng ấy, nhiều nơi hội viên có phong trào tương trợ lẫn nhau khi gia đình hội viên gặp khó khăn, đau ốm, thiên tai, mất mùa.v..v Nhiều nơi, Hội chú trọng vận động giúp nhau làm kinh tế gia đình, xây dựng vườn cây, ao cá, chăn nuôi gia súc gia cầm, vỡ đất hoang, nhận khoán đồi rừng, phủ xanh đồi trọc, làm dịch vụ… góp phần giải quyết công ăn việc làm, từng bước khắc phục khó khăn, ổn định đời sống của hội viên và CCB.

Đối với những CCB sống cô đơn, khi gặp ốm đau hoạn nạn, tổ chức Hội cử hội viên thay nhau chăm sóc đồng chí, đồng đội của mình. Khi có hội viên qua đời, Hội tổ chức phúng viếng, tang lễ chu đáo, tiễn đưa đồng đội về nơi an nghỉ cuối cùng. Trong hoàn cảnh Hội và hội viên còn nghèo, nguồn tài chính còn quá ít, lại chưa có chính sách ưu đãi đối với CCB, nhưng với những tấm lòng tình nghĩa sâu đậm với đồng chí, đồng đội đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong đông đảo CCB và trong nhân dân.

Trong điều kiện các phương tiện thông tin đại chúng chưa phát triển, các cấp Hội có nhiều cố gắng tranh thủ các nguồn thông tin của Đảng, Nhà nước, quân đội và của địa phương, bằng nhiều biện pháp phổ biến cho hội viên, góp phần định hướng tư tưởng, nhận thức, nâng cao trình độ mọi mặt cho anh chị em CCB.

- Hội phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, cơ quan quân sự địa phương và các đoàn thể bạn thực hiện tốt chính sách thương binh, liệt sĩ, góp phần củng cố quan hệ giữa Đảng và nhân dân, động viên lực lượng tại ngũ yên tâm phục vụ quân đội. Các cấp Hội xác định việc tham gia chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, tìm kiếm và quy tập hài cốt đồng đội, vận động nhân dân thực hiện tốt chính sách thương binh, liệt sĩ là nhiệm vụ chính trị và tình cảm sâu sắc… Nhiều nơi, Hội đã tổ chức đỡ đầu, chăm sóc con em liệt sĩ, tạo điều kiện cho các cháu được học hành, giúp đỡ thiết thực các gia đình thương binh, liệt sĩ khi gặp khó khăn, kiến nghị với chính quyền và cơ quan chức năng tiếp tục giải quyết những tồn đọng sau chiến tranh, đề đạt với Nhà nước ban hành các chính sách mới, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các gia đình chính sách và CCB. Trong gần 3 năm đầu thành lập, cán bộ và hội viên đã tìm kiếm, cất bốc hàng ngàn mộ liệt sĩ trên khắp các chiến trường, thể hiện tinh thần trách nhiệm, tình nghĩa sâu đậm với đồng đội đã hy sinh, với các gia đình liệt sĩ.

- Thực hiện Chỉ thị 23/CT ngày 22/4/1990 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VI về hoạt động của Hội CCB Việt Nam “… Hội CCB Việt Nam có quan hệ hữu nghị với Hội CCB các nước xã hội chủ nghĩa và tổ chức CCB tiến bộ ở các nước để đấu tranh chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ hoà bình, đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc”, Hội xác định công tác đối ngoại nhân dân là một nhiệm vụ của Hội, đã giới thiệu và tạo điều kiện để tổ chức CCB và các cơ quan thông tin, báo chí các nước hiểu rõ mục đích, nội dung hoạt động và tổ chức của Hội CCB Việt Nam; trao đổi kinh nghiệm và đặt mối quan hệ bước đầu với một số tổ chức CCB quốc tế (Hội CCB Liên Xô và Liên đoàn CCB Inđônêxia). Đặc biệt, sau khi liên hệ với một số tổ chức CCB quốc tế và được Ban Bí thư đồng ý, Hội tiến hành các bước xây dựng “Làng Hoà Bình”, tiền thân Làng Hữu Nghị ngày nay để nuôi dưỡng, chữa trị cho CCB và con CCB bị nhiễm chất độc điôxin trong chiến tranh.

Từ khi có quyết định thành lập đến Đại hội toàn quốc Hội CCB lần thứ nhất và đi vào hoạt động chính thức chưa được 3 năm, thời gian chưa dài, nhiều vấn đề còn rất mới mẻ. Qúa trình xây dựng, phát triển tổ chức và hoạt động của Hội trong giai đoạn xây dựng để từng bước định hình, định hướng theo những quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (Khoá VI) và các chỉ thị, hướng dẫn của Ban Bí thư về công tác và hoạt động của Hội CCB Việt Nam.

Trong quá trình hoạt động lâm thời, Hội có nhiều cố gắng xây dựng, phát triển tổ chức và hoạt động thiết thực, có hiệu quả, làm tốt công tác tham mưu cho Đảng xây dựng tổ chức Hội và làm nòng cốt tập hợp, đoàn kết vận động các thế hệ CCB hoàn thành các nhiệm vụ Đảng giao cho. Bằng những hoạt động thực tế, Hội đã  tự khẳng định vai trò, vị trí của mình trong sự nghiệp cách mạng, như Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VI) xác định: “Hội CCB Việt Nam là một đoàn thể nhân dân, do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, nhất là trong tình hình hiện nay. Hội là tổ chức đáng tin cậy của Đảng và Nhà nước”.

Nhìn lại 20 năm xây dựng và trưởng thành của Hội Cựu chiến binh Việt Nam qua các kỳ đại hội, thấy rằng:

- Đại hội đại biểu toàn quốc Hội CCB Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức vào cuối tháng 11 năm 1992 trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội VII của Đảng. Từ sau Đại hội VII, tình hình chính trị thế giới có những mặt phức tạp mới tác động vào nước ta. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, kích động đa nguyên chính trị, đa Đảng đối lập và tăng cường hoạt động hòng lật đổ chế độ ta. Sự nghiệp cách mạng nước ta một lần nữa trải qua những thử thách gay go. Trong nước ta, khủng khoảng kinh tế, xã hội vẫn chưa chấm dứt, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, trật tự, kỷ cương còn lỏng lẻo, tiêu cực và tham nhũng còn nhiều.

Căn cứ mục tiêu của chặng đầu thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ tổng quát của 5 năm 1991-1995 là vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay. Trong đó có mục tiêu cụ thể là tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, đổi mới tổ chức và cán bộ với phương châm chỉ đạo: Tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân, động viên được lực lượng của mọi tầng lớp nhân dân vào việc thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững đoàn kết trong Đảng, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân.

Xuất phát từ tính chất, nhiệm vụ của Hội, Đại hội I đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1992-1997 là:

“Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, nắm vững những quan điểm cơ bản của Nghị quyết Trung ương 8 (khoá VI) về đổi mới công tác quần chúng và tăng cường  mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân cùng các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước… để định hướng cho việc xây dựng, củng cố tổ chức và hoạt động của Hội. Trên cơ sở xây dựng Hội vững mạnh về mọi mặt, đoàn kết các thế hệ CCB trong cả nước, phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể nhân dân, tham gia đóng góp ý kiến với Đảng, chính quyền; vận đ���ng nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực về chính trị, kinh tế, xã hội; chăm lo đời sống tinh thần, tình cảm, vật chất và lợi ích chính đáng của hội viên, tham gia giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống cách mạng, truyền thống chiến đấu, tinh thần yêu nước, góp phần củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thực hiện các chính sách hậu phương quân đội, thương binh, liệt sĩ; tham gia giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương; mở rộng quan hệ hữu nghị với các cá nhân và tổ chức CCB các nước, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.

Đại hội I đã thông qua Điều lệ chính thức của Hội CCB Việt Nam.

Qua 5 năm thực hiện phương hướng, nhiệm vụ do Đại hội toàn quốc lần thứ nhất đề ra, toàn Hội đạt được kết quả tương đối toàn diện: Tiếp tục  phát triển Hội cả về tổ chức và hội viên, tính đến tháng 9 năm 1997 đã có 1.350.000 hội viên, sinh hoạt trong 10.242 tổ chức cơ sở xã, phường, thị trấn (đến tháng 12/1997) đã phát triển được 435 cơ sở Hội ở cơ quan trường học, doanh nghiệp Nhà nước. Động viên hội viên giữ vững và phát huy truyền thống, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội đúng hướng và có hiệu quả; góp phần giữ vững an ninh chính trị và an toàn xã hội, góp phần đoàn kết toàn dân xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư; cải thiện, nâng cao một bước cuộc sống vật chất và tinh thần, đáp ứng từng bước tâm tư, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của CCB.

Để đạt được kết quả trên, trong nhiệm kỳ này Hội đã phát động phong trào thi đua “xây dựng Hội cơ sở vững mạnh, hội viên gương mẫu, gia đình hội viên tiến bộ”. Phong trào thi đua của Hội đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy mọi hoạt động của tổ chức Hội và hội viên.

Với những thành tích trên, Hội tự khẳng định mình là đoàn thể chính trị - xã hội, thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được Đảng, chính quyền và Mặt trận đánh giá cao, được nhân dân tín nhiệm. Thường vụ Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) nhận xét: “Hội CCB Việt Nam phát huy tốt vai trò nòng cốt trong Mặt trận Tổ quốc, là chỗ dựa tin cậy của Đảng và chính quyền”.

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội CCB Việt Nam lần thứ II được tiến hành vào trung tuần tháng 12 năm 1997, vào thời điểm toàn dân đang thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, đất nước ta trải qua 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Những thành tựu của công cuộc đổi mới đã và đang tạo ra thế và lực mới cả ở bên trong và bên ngoài để chúng ta bước vào thời kỳ phát triển mới. Nhiều tiền đề cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được tạo ra; quan hệ của nước ta với các nước trên thế giới được mở rộng hơn bao giờ hết, khả năng giữ vững độc lập tự chủ và hội nhập với cộng đồng thế giới tăng thêm. Đó là thời cơ lớn. Nhưng 4 nguy cơ: tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới; chệch hướng xã hội chủ nghĩa; tệ tham nhũng và tệ quan liêu; âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; đã được Hội nghị đại biểu Đảng toàn quốc giữa nhiệm kỳ (1-1994) nêu lên cho đến nay vẫn là những thách thức lớn, không thể xem nhẹ nguy cơ nào.

Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng chỉ rõ: giai đoạn từ 1996 đến 2000 là bước phát triển rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới - đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết đề cập đến nhiệm vụ tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, theo đó các đoàn thể cần tập hợp rộng rãi các hội viên, đoàn viên dưới nhiều hình thức tổ chức đa dạng, thực hiện tốt chức năng giáo dục vận động quần chúng thực hiện thắng lợi những mục tiêu cụ thể; chăm lo thiết thực lợi ích của hội viên, đoàn viên, đại diện cho tầng lớp mình tham gia công việc Nhà nước; hướng mạnh về cơ sở, bồi dưỡng rèn luyện cán bộ, khắc phục bệnh quan liêu, hành chính trong hoạt động của các đoàn thể.

Để quán triệt Nghị quyết của Đảng trong công tác xây dựng và hoạt động của Hội, Đại hội nhiệm kỳ II Hội CCB toàn quốc đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ chung như sau:

“Xây dựng Hội CCB Việt Nam trong sạch, vững mạnh toàn diện, nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy tốt hơn nữa vai trò “nòng cốt trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” xứng đáng là “chỗ dựa tin cậy của Đảng và chính quyền”. Phát triển hội viên và tổ chức Hội, đoàn kết rộng với CCB, tập hợp cựu quân nhân ở cơ sở; động viên hội viên và CCB, hướng dẫn cựu quân nhân phát huy truyền thống, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, phát huy tiềm năng đa dạng của CCB và cựu quân nhân, cùng các đoàn thể củng cố ổn định chính trị, tăng cường an ninh, quốc phòng, đẩy lùi tiêu cực và tệ nạn xã hội, đoàn kết toàn dân xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư; góp sức xây dựng Đảng và chính quyền trong sạch vững mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đồng thời phát huy ý thức tự lực, tự cường, tình đồng chí, đồng đội giúp nhau nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của CCB và cựu quân nhân”.

Trong 5 năm (1997-2002) thực hiện phương hướng, nhiệm vụ do Đại hội đại biểu toàn quốc Hội CCB lần thứ II đề ra, toàn Hội đã đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước. Công tác xây dựng Hội có bước phát triển mới, vững chắc, số lượng hội viên tăng cao, tổ chức Hội được mở rộng, đội ngũ cán bộ Hội được kiện toàn cả số lượng và chất lượng, trình độ chính trị tư tưởng của hội viên được nâng cao. Hội tham gia có hiệu quả sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền, góp phần ổn định chính trị - xã hội ở cơ sở; tích cực đấu tranh chống các âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch; chống các quan điểm sai trái với đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Hội tổ chức tốt phong trào CCB giúp nhau làm kinh tế, xoá đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng, đời sống vật chất và tinh thần của hội viên được nâng lên rõ rệt. Cán bộ, hội viên tích cực tham gia thực hiện các chương trình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng ở địa phương; phối hợp ngày càng chặt chẽ với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho thế hệ trẻ; tham gia bước đầu có hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân.

Đến hết nhiệm kỳ II, Hội CCB đã trải qua hơn 10 năm xây dựng và hoạt động, Ban chấp hành Trung ương Hội đã xây dựng được 3 Nghị quyết chuyên đề về hoạt động của Hội:

- Phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” xây dựng Hội CCB Việt Nam trong sạch, vững mạnh, góp phần bảo vệ và xây dựng Đảng, chính quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở (1998).

- Chăm lo đời sống hội viên và tổ chức, động viên CCB tham gia phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương (1999).

- Góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ (2000).

Đây là những văn kiện mang tính tổng kết, chỉ đạo quá trình xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ của Hội. Cũng trong nhiệm kỳ này, lần đầu tiên tại Đại hội lần thứ IX của Đảng, công tác CCB Việt Nam được đưa vào văn kiện chính thức của Đại hội và tháng 01-2002 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ra Nghị quyết chuyên đề số 09-NQ/TW      về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác CCB Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới”. Nghị quyết đánh giá sâu sắc về tình hình CCB và hoạt động của Hội CCB Việt Nam từ ngày thành lập đến nay, nêu rõ quan điểm của Đảng về vai trò, vị thế của Hội trong hệ thống chính trị, về CCB và công tác CCB; xác định nhiệm vụ vận động CCB là một trong những công tác vận động quần chúng quan trọng của Đảng, là trách nhiệm của các cấp ủy và tổ chức Đảng, của hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành và của toàn xã hội. Nghị quyết đề ra phương hướng đồng bộ, giải pháp cụ thể nhằm đưa Hội tiến lên bước phát triển mới trong giai đoạn hiện nay, đồng thời nêu lên các điểm mới về đối tượng vận động của Hội, chức năng nhiệm vụ của Hội, về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và yêu cầu Hội vừa làm tham mưu giúp cấp uỷ Đảng, vừa làm nòng cốt tập hợp, đoàn kết vận động hội viên thực hiện tốt các nhiệm vụ của Hội.

Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị là dấu mốc quan trọng về sự trưởng thành và phát triển của Hội, là định hướng tư tưởng và xác định hành động của CCB trong giai đoạn cách mạng mới, Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác tham mưu của Hội cho Đảng chỉ đạo công tác CCB.

Với những kết quả trên và trải qua 13 năm xây dựng, hoạt động, Hội đã được Bộ Chính trị đánh giá: “CCB Việt Nam là lực lượng cách mạng tuyệt đối trung thành của Đảng”, “Hội CCB Việt Nam xứng đáng là một đoàn thể chính trị - xã hội, là chỗ dựa tin cậy của cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, nhất là ở cơ sở”.

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội CCB Việt Nam lần thứ III được tổ chức vào cuối tháng 12 năm 2002, trong tình hình Nghị quyết Đại hội IX của Đảng cụ thể hoá con đường đi lên CNXH ở nước ta, đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng ít nhất gấp đôi so với năm 2000. Qúa trình đưa đất nước tiến lên, chúng ta có thời cơ, thuận lợi mới đồng thời có nguy cơ thách thức mới. Tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất phức tạp, tác động nhiều mặt đến nước ta nhất là lĩnh vực tư tưởng, an ninh, kinh tế.

Với CCB Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX nêu rõ: “Đối với CCB, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN; giúp nhau cải thiện đời sống, góp phần giáo dục truyền thống và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ”. Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về công tác CCB đã định hướng cho hoạt động của Hội trong giai đoạn cách mạng mới. Tháng 10 năm 2005, Nhà nước công bố Pháp lệnh CCB, đây là văn bản pháp luật thể chế hoá Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về Cựu chiến binh Việt Nam nhằm tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức Hội, quy định quyền lợi, nghĩa vụ của CCB, chính sách của Nhà nước đối với CCB, cán bộ làm công tác Hội CCB, tổ chức và hoạt động của Hội CCB…, từng bước hoàn ch���nh hệ thống pháp luật, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo CCB trong cả nước, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của CCB và Hội CCB Việt Nam trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập kinh tế thế giới.

Về đội ngũ CCB, các thế hệ CCB đang có những biến đổi quan trọng: lực lượng CCB đã tham gia các cuộc chiến tranh vẫn còn đông nhưng sẽ giảm dần về số lượng; lực lượng sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và một số hạ sĩ quan, chiến sĩ hoàn thành nghĩa vụ quân sự trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sẽ bổ sung vào hàng ngũ CCB, hình thành nhiều thế hệ khác nhau.

Từ tình hình trên và hoạt động thực tiễn của Hội thời gian qua, Hội xác định phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2003-2007 là: “Tăng cường đoàn kết, vận động các thế hệ CCB thành một lực lượng cách mạng tuyệt đối trung thành với Đảng, gương mẫu chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Xây dựng Hội CCB trong sạch, vững mạnh, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động, đáp ứng chức năng tham mưu cho cấp uỷ Đảng về công tác vận động CCB, làm nòng cốt tập hợp, đoàn kết vận động các thế hệ CCB và phối hợp với các đoàn thể, các ngành chức năng, vận động cựu quân nhân, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng, luôn luôn xứng đáng là một đoàn thể chính trị - xã hội đại diện ý chí, quyền lợi của CCB, chỗ dựa tin cậy của Đảng, chính quyền, thành viên tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ III toàn Hội đã đoàn kết, sáng tạo, hoạt động đạt nhiều thành tích quan trọng, thiết thực. Nổi bật trên các mặt chủ yếu: thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của Đảng giao cho Hội, hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu mà Đại hội III của Hội đã đề ra; vận động, tập hợp được đa số CCB và cựu quân nhân; xây dựng tổ chức đạt cả số lượng và chất lượng.

Trong nhiệm kỳ này, để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Nghị quyết 09 Bộ Chính trị về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác CCB Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới”, Hội đã tiến hành tổng kết việc thực hiện các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Hội của khoá II; trên cơ sở những vấn đề được rút ra từ tổng kết, kết hợp với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới của Hội để xây dựng thành 5 Nghị quyết chuyên đề làm cơ sở lý luận và hướng dẫn hoạt động công tác Hội giai đoạn tới:

- Xây dựng Hội CCB Việt Nam trong sạch vững mạnh và nhiệm vụ công tác cán bộ của Hội trong giai đoạn cách mạng mới (2004).

- Hội CCB Việt Nam tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN (2004).

- Chăm lo đời sống hội viên và tổ chức, động viên CCB tham gia phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương (được phát triển trên cơ sở Nghị quyết chuyên đề II năm 1999).

- Nhiệm vụ góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ (được phát triển trên cơ sở Nghị quyết chuyên đề III năm 2000).

- Tăng cường đoàn kết, phát huy tiềm năng các thế hệ CCB tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ CNH, HĐH (2003).

Hội đã tham mưu cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh CCB, tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh CCB.

Sau khi Nghị định Chính phủ được ban hành, Hội phối hợp cùng các Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chín, Bộ Quốc phòng soạn thảo các Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành Nghị định của Chính phủ.

Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết 09 Bộ Chính trị, Pháp lệnh CCB của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và những Nghị quyết chuyên đề của Hội, công tác xây dựng và hoạt động của Hội ở nhiệm kỳ III đi vào nền nếp và đạt hiệu quả cao. Trải qua 15 năm hoạt động, Hội CCB được Đảng, Nhà nước và nhiều đồng chí lãnh đạo đánh giá cao về vai trò, vị trí chính trị - xã hội và hoạt động có hiệu quả của Hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội CCB Việt Nam lần thứ IV được tổ chức vào cuối tháng 12 năm 2007. Trước đó, vào tháng 8-2007, để động viên cán bộ, hội viên, ghi nhận thành tích của Hội trong thời gian qua và định hướng hoạt động của Hội trong giai đoạn tới, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã tặng Hội CCB Việt Nam bức trướng với nội dung: Phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trung thành - đoàn kết – gương mẫu - đổi mới.

Đại hội toàn quốc Hội CCB Việt Nam lần thứ tư diễn ra trong lúc toàn Đảng, toàn dân triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng “… phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại…”.  Đảng phát động cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là một sinh hoạt chính trị rộng lớn trong toàn Đảng, trong hệ thống chính trị và toàn dân. Nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới, tạo ra cơ hội lớn nhưng cũng đặt ra thách thức gay gắt. Các sự kiện trên đều tác động đến nhận thức, tư tưởng, đời sống CCB và đến công tác xây dựng, hoạt động của Hội.

Đại hội X của Đảng đã xác định nhiệm vụ đối với CCB “phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền và chế độ XHCN; động viên CCB giúp nhau cải thiện đời sống, xoá đói giảm nghèo; góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội; tham gia xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh”.

Nội dung trên của Nghị quyết Đại hội X của Đảng và nội dung trong bức trướng của Ban chấp hành Trung ương Đảng tặng Hội CCB Việt Nam là định hướng, là yêu cầu đối với hoạt động của Hội trong nhiệm kỳ IV và những năm tiếp theo của thời kỳ mới.

Về tình hình đội ngũ CCB, những năm tới CCB hoạt động trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 và CCB  tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp đã cao tuổi; CCB tham gia chiến đấu chống Mỹ, cứu nước và làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc còn đông đảo, chiếm đa số trong lực lượng của Hội. Hàng ngũ Hội CCB được bổ sung thêm số sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và một số quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về. Tổ chức Hội cũng có những yêu cầu phát triển mới trong các loại hình kinh tế như doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp tư nhân…

Từ thực tiễn hoạt động của Hội những năm qua và tình hình nhiệm vụ của đất nước, của Hội, phương hướng nhiệm vụ và những chủ trương công tác của Hội trong nhiệm kỳ IV như sau: “Đoàn kết vận động các thế hệ CCB, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, trung thành, đoàn kết, gương mẫu, đổi mới; phát huy tiềm năng đa dạng của CCB, tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X. Nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động, xây dựng Hội thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đoàn thể chính trị - xã hội, chỗ dựa tin cậy của Đảng và chính quyền”.

Để hoàn thành nhiệm vụ trên, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội CCB Việt Nam lần thứ IV đề ra chỉ tiêu chính trong nhiệm kỳ là:

- Phát triển được 80-90% đối tượng đủ điều kiện kết nạp vào Hội.

­- 100% cán bộ được bồi dưỡng, tập huấn các Nghị quyết của Đảng và công tác Hội.

- 100% hội viên tham gia học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

- Phấn đấu hàng năm 90% trở lên cơ sở Hội đạt trong sạch, vững mạnh; 95% trở lên hội viên gương mẫu, 80% trở lên gia đình CCB đạt “gia đình văn hoá”.

- Tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn Hội dưới 3%, cơ bản xoá xong nhà dột nát cho hội viên.

 

 

* Đánh giá về 20 năm xây dựng và trưởng thành của Hội Cựu chiến binh Việt

Nam (1989-2009)

Đồng chí Nông Đức Mạnh thay mặt lãnh đạo Đảng, nhà nước khẳng định “Từ khi ra đời đến nay, Hội đã không ngừng lớn mạnh, hoạt động tích cực, đúng hướng và có hiệu quả thiết thực … thành tích của Hội Cựu chiến binh Việt Nam rất to lớn và đáng trân trọng. Đảng và nhà nước đánh giá cao hoạt động và những đóng của Hội Cựu chiến binh Việt Nam đối với công cuộc đổi mới, xây dựng  và bảo vệ Tổ quốc … Các đồng chí xứng đáng là chỗ dựa tin cậy của cấp uỷ Đảng chính quyền và nhân dân”.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần thứ hai

 

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

           

            I. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CỰU CHIẾN BINH

1. Các văn bản, quy định pháp luật về Cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Nghị quyết số 09/NQ-TW ngày 08/01/2002 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Cựu chiến binh Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới nêu rõ: “Hội Cựu chiến binh Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội, đại diện ý chí và quyền lợi của Cựu chiến binh, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ chức chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước và Điều lệ Hội”.

Thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta đã xây dựng, ban hành và đưa vào thực hiện nhiều văn bản, quy định pháp luật về Cựu chiến binh. Cụ thể là:

            Tại phiên họp ngày 25/11/2004 Quốc hội đã có Nghị quyết số 35/2004/QH11 đưa vào chương trình chính thức về xây dựng Pháp lệnh Cựu chiến binh.

Ngày 07/10/2005, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Cựu chiến binh.

Ngày 18/10/2005, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký lệnh số 19/2005/L/CTN công bố Pháp lệnh Cựu chiến binh.

            Ngày 12/12/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 150/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh Cựu chiến binh;

            Ngày 01/6/2007, Ban Tổ chức Trung ương Đảng và Hội Cựu chiến binh Việt Nam ban hành Hướng dẫn số 06/HD-BTCTW-HCCBVN hướng dẫn cụ thể về tổ chức bộ máy cơ quan Hội Cựu chiến binh các cấp;

            Ngày 25/7/2007, Bộ Lao động Thương binh và xã hội - Hội Cựu chiến binh Việt Nam - Bộ Tài chính - Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BLĐTB&XH-HCCBVN-BTC-BQP hướng dẫn một số điều của Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12/12/2006 của Chính phủ;

            Ngày 24/8/2007, Bộ Quốc phòng và Hội Cựu chiến binh Việt Nam ban hành Thông tư liên tịch số 127/2007/TTLT - BQP-HCCBVN hướng dẫn vận động, tập hợp Cựu quân nhân tham gia câu lạc bộ, ban liên lạc Cựu quân nhân ở cơ sở;

            Ngày 09/6/2008, Bộ Tư pháp và Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam ban hành Thông tư liên tịch số 02/TTLT-BTP-TWHCCBVN hướng dẫn phối hợp xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý đối với Cựu chiến binh.

            Đến nay hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật về Cựu chiến binh đã được ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động, xây dựng Hội vững mạnh hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng nguyện vọng của Cựu chiến binh.

            2. Những nội dung cơ bản của các văn bản, quy định pháp luật hiện hành về Cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh Việt Nam

            * PHÁP LỆNH CỰU CHIẾN BINH

Pháp lện cựu chiến binh được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI ban hành ngày 07/10/2005, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2006.

Quan điểm chỉ đạo, tư tưởng xuyên suốt của Pháp lệnh Cựu chiến binh là: Đảng, Nhà nước và nhân dân tôn vinh, ghi nhận và đánh giá cao sự hy sinh, cống hiến to lớn của Cựu chiến binh; đồng thời nhà nước có chính sách thoả đáng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với Cựu chiến binh nhằm động viên Cựu chiến binh phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Địa vị pháp lý của Cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh được Pháp lệnh xác định rõ: Cựu chiến binh là những cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam, dân quân, tự vệ, du kích, đội viên đội công tác vũ trang đã tham gia kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế và những cán bộ chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam, dân quân, tự vệ đã tham gia chiến đấu, trực tiếp chiến đấu, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hội Cựu chiến binh Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đại diện ý chí, nguyện vọng của Cựu chiến binh, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Pháp lệnh quy định nguyên tắc tổ chức, hoạt động, nhiệm vụ, bộ máy giúp việc của Hội Cựu chiến binh Việt Nam; đồng thời quy định kinh phí hoạt động của Hội do nhà nước đảm bảo.

Pháp lệnh Cựu chiến binh quy định rõ trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị đối với Cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Pháp lệnh Cựu chiến binh có 5 chương 18 điều

Chương I. Những quy định chung

Chương này có 5 điều từ Điều 1 đến Điều 5 quy định về đối tượng áp dụng; cựu chiến binh; Hội cựu chiến binh Việt Nam; ngày truyền thống của Cựu chiến binh và hành vi bị nghiêm cấm.

Chương II. Cựu chiến binh. Chương này có 3 điều, từ Điều 6 đến Điều 8 quy định những vấn đề cơ bản về chính sách, quyền lợi, nghĩa vụ của Cựu chiến binh, cụ thể như sau:

Chính sách đối với Cựu chiến binh (Điều 6):

- Nhà nước có chính sách chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho Cựu chiến binh; tập hợp, động viên và phát huy tiềm năng của Cựu chiến binh, tạo điều kiện để Cựu chiến binh tiếp tục phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

- Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hỗ trợ đầu tư xây dựng các trung tâm điều trị, phục hồi sức khỏe và các hoạt động tình nghĩa đối với Cựu chiến binh.

- Trong từng thời kỳ, Nhà nước ban hành chính sách, chế độ cụ thể đối với Cựu chiến binh phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước”.

Quyền lợi của Cựu chiến binh (Điều 7):

Cựu chiến binh là người có công với cách mạng được hưởng các quyền lợi sau đây:

- Được hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

- Được ưu tiên tạo việc làm, giao đất, giao rừng, giao mặt nước để sản xuất, kinh doanh và tham gia các dự án phát triển kinh tế - xã hội theo quy định của Chính phủ;

- Cựu chiến binh nghèo được ưu tiên vay vốn ngân hàng chính sách, các nguồn vốn ưu đãi khác để sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích xóa đói, giảm nghèo, được cấp thẻ bảo hiểm y tế và được hưởng các chính sách khác đối với người nghèo;

- Cựu chiến binh hết tuổi lao động, cô đơn, không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập được Nhà nước và xã hội tiếp nhận, chăm sóc tại các trung tâm nuôi dưỡng xã hội;

- Được tham gia Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Ban liên lạc Cựu quân nhân theo quy định của Điều lệ Hội, của pháp luật;

- Khi chết, CCB được chính quyền, cơ quan quân sự, đoàn thể địa phương phối hợp với Hội Cựu chiến binh Việt Nam và gia đình tổ chức tang lễ và được hưởng tiền mai táng theo quy định của Chính phủ.

 Nghĩa vụ của Cựu chiến binh (Điều 8): Cựu chiến binh có các nghĩa vụ sau đây:

- Phát huy truyền thống cách mạng, trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tham gia bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, lợi ích của dân tộc;

- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, học tập, tuyên truyền, vận động nhân dân, gia đình chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước;

- Tích cực tham gia thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở, tham gia hoà giải, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;

- Tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.

Chương III. Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Chương này có 05 điều, từ Điều 9 đến Điều 13 quy định những vấn đề cơ bản về nguyên tắc tổ chức, hoạt động; nhiệm vụ, bộ máy giúp việc và kinh phí, tài sản của Hội Cựu chiến binh Việt Nam, cụ thể là:

Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Hội Cựu chiến binh Việt Nam  (Điều 9): Hội Cựu chiến binh Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc tự nguyện; hoạt động theo đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ Hội.

Tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam ( Điều 10)

- Hội Cựu chiến binh Việt Nam được tổ chức từ trung ương đến cơ sở, bao gồm:

a) Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam ;

b) Hội Cựu chiến binh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

c) Hội Cựu chiến binh huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

d) Hội Cựu chiến binh xã, phường, thị trấn.

- Trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp có tổ chức thích hợp của Cựu chiến binh hoạt động theo quy định của Pháp lệnh này và Điều lệ Hội.

Bộ máy giúp việc của Hội Cựu chiến binh Việt Nam (Điều 12):

Hội Cựu chiến binh Việt Nam có bộ máy giúp việc. Tổ chức, biên chế bộ máy giúp việc của Hội Cựu chiến binh các cấp do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định.

Kinh phí, tài sản của Hội Cựu chiến binh Việt Nam (Điều 13):

Kinh phí hoạt động của Hội Cựu chiến binh Việt Nam do ngân sách nhà nước cấp theo quy định của pháp luật.

Hội Cựu chiến binh Việt Nam được nhận, quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật đối với tài sản mà Nhà nước giao và tài sản do tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tặng cho.

Chương IV: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đối với Cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Chương này có 03 điều, từ Điều 14 đến Điều 16 quy định trách nhiệm của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, của cơ quan, tổ chức, đơn vị cụ thể:

Trách nhiệm của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ (Điều 14):

- Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chính phủ ban hành hoặc kiến nghị với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chế độ, chính sách và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chế độ, chính sách đối với Cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

- Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để Hội Cựu chiến binh Việt Nam , Cựu chiến binh hoạt động.

Trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân (Điều 15):

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp  có trách nhiệm cấp kinh phí cho Hội Cựu chiến binh cùng cấp hoạt động, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho Cựu chiến binh, tạo điều kiện để Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Cựu chiến binh tham gia các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội theo quy định của pháp luật.

Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị (Điều 16):

Cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để Hội Cựu chiến binh Việt Nam , Cựu chiến binh hoạt động.

Chương V. Điều khoản thi hành

Chương này có 02 điều, Điều 17 và Điều 18 quy định về hiệu lực thi hành, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

* NGHỊ ĐỊNH SỐ 150/2006/NĐ-CP ngày 12/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh Cựu chiến binh.

Nghị định gồm 05 Chương với 16 Điều. Cụ thể như sau:

Chương I. Những quy định chung gồm 03 điều (từ Điều 1 đến Điều 3) hướng dẫn các đối tượng được công nhận là Cựu chiến binh, thủ tục xác nhận và việc kết nạp hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam; ngày truyền thống của Cựu chiến binh.

* Các đối tượng được công nhận là Cựu chiến binh:

Cựu chiến binh theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã tham gia đơn vị vũ trang chiến đấu chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã nghỉ hưu, chuyển ngành, phục viên, xuất ngũ, cụ thể như sau:

 - Cán bộ, chiến sĩ quy định tại khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh đã tham gia các đơn vị vũ trang do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức trước cách mạng Tháng 8 năm 1945 như Đội tự vệ đỏ, du kích Ba Tơ, du kích Bắc Sơn, Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân và các đơn vị vũ trang khác do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo.

- Cán bộ, chiến sĩ quy định tại khoản 2 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh gồm sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân Việt Nam thuộc bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, biệt động đã tham gia kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước (ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng).

- Cựu chiến binh đã tham gia chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc quy định tại khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh gồm:

+ Đội viên đội công tác vũ trang trong vùng địch tạm chiếm ở miền Bắc từ ngày 20 tháng 7 năm 1954 về trước (ngày ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương);

+ Cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ, du kích tập trung ở miền Bắc từ ngày 27 tháng 01 năm 1973 trở về trước (ngày ký Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc);

+ Cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ, du kích tập trung ở miền Nam từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước.

- Công nhân viên quốc phòng quy định tại khoản 4 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh đã tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu chống ngoại xâm từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 về trước.

-  Cán bộ, chiến sĩ quy định tại khoản 5 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh gồm:

+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công nhân viên quốc phòng thuộc quân đội nhân dân Việt Nam, cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ đã tham gia chiến đấu, làm nhiệm vụ quốc tế, trực tiếp phục vụ chiến đấu trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;

+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ tại ngũ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc đã phục viên, nghỉ hưu, chuyển ngành.

- Những đối tượng quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh và được cụ thể tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 2 của Nghị định này không được công nhận là Cựu chiến binh trong các trường hợp sau:

+ Người đầu hàng địch; phản bội; người vi phạm kỷ luật bị tước danh hiệu quân nhân; công nhân viên quốc phòng bị kỷ luật buộc thôi việc;

+  Người bị kết án tù mà chưa được xoá án tích.

 * Thủ tục xác nhận và việc kết nạp hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam:

 Xác nhận Cựu chiến binh:

 - Việc xác nhận Cựu chiến binh được căn cứ vào hồ sơ khi họ đã hoàn thành nhiệm vụ tại ngũ, xuất ngũ, phục viên, nghỉ hưu tại địa phương, do cơ quan quân sự xã, phường, thị trấn nơi Cựu chiến binh đang cư trú chủ trì, phối hợp với Hội Cựu chiến binh cùng cấp xác nhận;

- Trường hợp hồ sơ bị thất lạc, việc xác nhận là Cựu chiến binh do cơ quan quân sự cấp xã nơi họ nhập ngũ phối hợp với Hội Cựu chiến binh cùng cấp xem xét xác minh lời khai của họ và lập danh sách để Ủy ban nhân dân nơi họ nhập ngũ xác nhận;

- Việc xác nhận là Cựu chiến binh trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị căn cứ vào hồ sơ khi tiếp nhận Cựu chiến binh về cơ quan, tổ chức, đơn vị và do cơ quan, tổ chức, đơn vị đó xác nhận.  

 Việc kết nạp hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam:

 Việc kết nạp hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam được thực hiện theo quy định của Điều lệ Hội Cựu chiến binh Việt Nam và hướng dẫn của Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Trong Đại hội Cựu chiến binh toàn quốc lần thứ IV Đại hội đã bổ sung vào Điều lệ mở rộng thêm đối tượng được kết nạp vào Hội để phù hợp với yêu cầu xây dựng Hội và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị nhất là ở địa bàn biên giới hải đảo, địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số.

Để cụ thể hoá Pháp lệnh Cựu chiến binh, Nghị định của Chính phủ cũng đã hướng dẫn việc kết nạp hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam thực hiện theo quy định của Điều lệ Hội Cựu chiến binh Việt Nam và hướng dẫn của Trung ương  Hội Cựu chiến binh Việt Nam là phù hợp với thực tế hiện nay và đúng với pháp luật.

 * Ngày truyền thống của Cựu chiến binh

Ngày 6 tháng 12 hàng năm là ngày truyền thống cựu chiến binh.

Ngày truyền thống của Cựu chiến binh nhằm tôn vinh, biểu dương sự cống hiến to lớn của Cựu chiến binh trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta; Động viên các thế hệ Cựu chiến binh giữ vững và phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; gương mẫu trong cuộc sống, là tấm gương sáng trong giáo dục cho thế hệ trẻ. Đây cũng là dịp tổ chức các hoạt động kỷ niệm ngày truyền thống của cựu chiến binh; tuyên truyền về cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam; tổ chức gặp mặt, thăm hỏi Cựu chiến binh có hoàn cảnh khó khăn và những hoạt động khác để động viên, giúp đỡ Cựu chiến binh.

Chương II. Cựu chiến binh gồm 02 điều (Điều 4 và Điều 5) quy định về chính sách, quyền lợi của Cựu chiến binh.

Chính sách đối với Cựu chiến binh (Điều 4):

- Cựu chiến binh được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật hiện hành.

-  Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp tiền, tài sản để đầu tư xây dựng nhà tình nghĩa, cơ sở dịch vụ chăm sóc, trung tâm điều trị và phục hồi sức khoẻ, câu lạc bộ văn hoá, thể thao, thể dục dưỡng sinh đối với Cựu chiến binh và tài trợ cho các hoạt động giúp đỡ Cựu chiến binh ở cộng đồng dân cư hoặc trung tâm điều trị, phục hồi sức khoẻ.

- Các cơ quan, tổ chức, đơn vị và công dân căn cứ vào điều kiện cụ thể hỗ trợ Cựu chiến binh tổ chức tham quan du lịch, nghỉ ngơi, điều dưỡng.

 Quyền lợi của Cựu chiến binh (Điều 5):

 - Cựu chiến binh thuộc đối tượng người có công với cách mạng được hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật về ưu đãi đối với người có công với cách mạng.

- Cựu chiến binh được ưu tiên tạo việc làm, giao đất, giao rừng, giao mặt nước để sản xuất, kinh doanh và tham gia các dự án phát triển kinh tế - xã hội:

- Nhà nước khuyến khích Cựu chiến binh thành lập các hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp để nhận đất, rừng, mặt nước, tham gia các dự án phát triển kinh tế - xã hội theo quy định của pháp luật.

- Cựu chiến binh trong độ tuổi lao động được ưu tiên: học nghề, tạo việc làm, tuyển dụng vào làm việc ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị phù hợp với sức khoẻ và chuyên môn đào tạo, xuất khẩu lao động.

 - Cựu chiến binh thuộc diện nghèo theo chuẩn do Chính phủ quy định được ưu tiên cấp thẻ bảo hiểm y tế và khám chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế; được ưu tiên vay các nguồn vốn ưu đãi của Ngân hàng chính sách - xã hội để sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm xoá đói, giảm nghèo; chính quyền địa phương, Ngân hàng chính sách - xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện để Cựu chiến binh được vay vốn ưu đãi theo quy định của pháp luật.

- Cựu chiến binh đã tham gia kháng chiến từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước không thuộc diện bảo hiểm y tế bắt buộc, được Nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh theo các quy định và chế độ bảo hiểm y tế hiện hành.

 - Cựu chiến binh cô đơn, không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập khi hết tuổi lao động được Hội Cựu chiến binh cơ sở đề nghị, chính quyền địa phương xác nhận thì được ưu tiên tiếp nhận vào nuôi dưỡng, chăm sóc tại các trung tâm nuôi dưỡng xã hội.

- Cựu chiến binh khi chết được chính quyền, cơ quan, đơn vị, đoàn thể địa phương phối hợp với Hội Cựu chiến binh và gia đình tổ chức tang lễ. Nghi thức tổ chức và phân cấp tổ chức tang lễ, mai táng phí, các chế độ, chính sách khác thực hiện theo quy định hiện hành do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Quốc phòng, Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các cơ quan liên quan hướng dẫn thực hiện.

- Cựu chiến binh trong biên chế làm công tác Hội được Hội cử đi đào tạo, bồi dưỡng theo quy định hiện hành, được tham gia thi tuyển vào các trường đào tạo của trung ương, địa phương để nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Hội. Kinh phí đào tạo do ngân sách Nhà nước bảo đảm theo chế độ đào tạo cán bộ, công chức hiện hành.

- Cựu chiến binh được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật.

Chương III. Hội cựu chiến binh Việt Nam gồm 05 điều (từ Điều 6 đến Điều 10) quy định về Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Hội Cựu chiến binh Việt Nam (Điều 6): Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Hội Cựu chiến binh Việt Nam được thực hiện theo Điều 9 Pháp lệnh Cựu chiến binh.

Tổ chức của Hội Cựu chiến binh Việt Nam (Điều 7)

- Hội Cựu chiến binh Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được tổ chức từ Trung ương đến cơ sở gồm:

+  Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam;

+  Hội Cựu chiến binh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

+  Hội Cựu chiến binh huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

+  Hội Cựu chiến binh xã, phường, thị trấn.

-  Tổ chức, biên chế bộ máy giúp việc của Hội Cựu chiến binh các cấp do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định.

-  Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị được tổ chức như sau:

+ Hội Cựu chiến binh ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị Trung ương mà tổ chức Đảng thuộc Đảng uỷ khối cơ quan Trung ương thì tổ chức Hội Cựu chiến binh đó trực thuộc Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam;

+ Hội Cựu chiến binh ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị mà tổ chức Đảng thuộc cấp uỷ địa phương thì tổ chức Hội Cựu chiến binh đó trực thuộc Hội Cựu chiến binh cùng cấp đồng thời chịu sự chỉ đạo thống nhất về nghiệp vụ của Hội Cựu chiến binh cấp trên.

 Nhiệm vụ của Hội Cựu chiến binh Việt Nam (Điều 8):

- Nhiệm vụ, hoạt động của Hội Cựu chiến binh Việt Nam thực hiện theo quy định tại Điều 11 Pháp lệnh Cựu chiến binh.

- Hội Cựu chiến binh Việt Nam có nhiệm vụ vận động, tập hợp quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ trở về, tiếp tục phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” tham gia câu lạc bộ, Ban Liên lạc cựu quân nhân và các hoạt động khác theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Pháp lệnh Cựu chiến binh.

Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam phối hợp với Bộ Quốc phòng hướng dẫn các cấp Hội và cơ quan quân sự địa phương thống nhất thực hiện.

-  Tổ chức chăm lo, giúp đỡ Cựu chiến binh nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phát triển kinh tế gia đình, xoá đói giảm nghèo, làm giầu hợp pháp, tổ chức các hoạt động tình nghĩa để Cựu chiến binh tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống theo quy định tại khoản 4 Điều 11 Pháp lệnh Cựu chiến binh.

-  Hội Cựu chiến binh có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Cựu chiến binh quy định tại khoản 5 Điều 11 Pháp lệnh Cựu chiến binh; Cựu chiến binh được hưởng các dịch vụ tư vấn, trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định hiện hành. Văn phòng trợ giúp pháp lý của Hội Cựu chiến binh và các tổ chức trợ giúp pháp lý khác có trách nhiệm tư vấn, hướng dẫn, thực hiện trợ giúp pháp lý cho Cựu chiến binh theo quy định của pháp luật.

-  Hoạt động đối ngoại nhân dân của Hội Cựu chiến binh Việt Nam theo quy định tại khoản 6 Điều 11 Pháp lệnh Cựu chiến binh và thực hiện theo quy định hiện hành.

Về kinh phí, tài sản của Hội Cựu chiến binh Việt Nam các cấp (Điều 9):

- Kinh phí của Hội Cựu chiến binh các cấp gồm:

+ Ngân sách nhà nước bảo đảm;

+ Hội phí do hội viên đóng góp;

+ Các nguồn thu hợp pháp khác của Hội.

- Tài sản của Hội Cựu chiến binh gồm:

+ Tài sản Nhà nước giao;

+ Tài sản do cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài tặng, cho;

-  Kinh phí, tài sản của Hội Cựu chiến binh được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.

+  Kinh phí của Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam và của Hội Cựu chiến binh các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương do ngân sách Trung ương đảm bảo.

+  Kinh phí của Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và của Hội cựu chiến binh các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương do ngân sách địa phương đảm bảo.

Việc lập dự toán, chấp hành, quyết toán kinh phí, ngân sách đảm bảo cho hoạt động của Hội Cựu chiến binh các cấp thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.

+  Kinh phí hoạt động của Hội cựu chiến binh trong các doanh nghiệp Nhà nước do doanh nghiệp Nhà nước đảm bảo và được hạch toán vào chi phí của doanh nghiệp.

- Trường hợp thực hiện nhiệm vụ mới theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền mà chưa được cấp kinh phí, Hội Cựu chiến binh các cấp lập dự toán kinh phí bổ sung, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét và bổ sung kinh phí để thực hiện nhiệm vụ được giao.

 Chính sách đối với Cựu chiến binh làm công tác Hội (Điều 10):

 - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh chuyên trách ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, hàng tháng ngoài tiền lương hiện hưởng, được hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo như người giữ chức vụ lãnh đạo cùng cấp của các đoàn thể chính trị - xã hội khác.

- Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh làm công tác kiêm nhiệm ở  cơ quan, tổ chức, đơn vị, hàng tháng ngoài tiền lương hiện hưởng, được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm như người giữ chức vụ lãnh đạo cùng cấp của các đoàn thể chính trị - xã hội khác.

- Cựu chiến binh được bầu cử, bổ nhiệm, tuyển dụng làm công tác Hội Cựu chiến binh từ Trung ương đến cấp huyện không hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức hàng tháng:

+ Cựu chiến binh được bầu cử, bổ nhiệm từ Trung ương đến cấp huyện được hưởng lương theo quy định hiện hành và phụ cấp chức vụ lãnh đạo như cán bộ các đoàn thể chính trị - xã hội khác cùng cấp. Việc đóng bảo hiểm và thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành;

+ Người được tuyển dụng trong chỉ tiêu biên chế đang làm công tác Hội Cựu chiến binh được hưởng lương theo quy định hiện hành. Việc đóng  bảo hiểm và thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành.

- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã, phường, thị trấn được hưởng  lương, phụ cấp theo quy định tại Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ xã, phường, thị trấn; Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ quy định về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã, phường, thị trấn được hưởng phụ cấp như Phó Chủ tịch đoàn thể chính trị - xã hội khác và do ngân sách địa phương đảm bảo.

Chủ tịch, Phó chủ tịch, cán bộ thuộc biên chế của Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Hội Cựu chiến binh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Hội Cựu chiến binh huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh được hưởng lương và các chế độ chính sách theo quy định hiện hành.

- Cựu chiến binh đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp bệnh binh đảm nhiệm chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã, phường, thị trấn; Cựu chiến binh tham gia công tác tại cơ quan Hội Cựu chiến binh từ cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên, khi thôi làm công tác hội, cứ mỗi năm (đủ 12 tháng) được hưởng trợ cấp một lần bằng nửa (1/2) tháng lương theo mức lương hiện lĩnh tại cấp Hội mà Cựu chiến binh đang công tác.

Chương IV gồm  4 điều ( từ Điều 11 đến Điều 14) quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đối với Cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Trách nhiệm của Chính phủ (Điều 11):

Trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình, Chính phủ có trách nhiệm:

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chế độ, chính sách đối với cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

- Chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ban hành và hướng dẫn thực hiện các chính sách về cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam theo các lĩnh vực được phân công.

- Định kỳ hàng năm có chương trình làm việc với Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam để nghe báo cáo tình hình hoạt động, những kiến nghị, đề xuất của Hội Cựu chiến binh Việt Nam về các vấn đề liên quan đến cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (Điều 12):

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế và các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan, Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, các cơ quan chức năng nghiên cứu, xây dựng, hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách, đảm bảo quyền lợi đối với cựu chiến binh.

- Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư  đảm bảo ngân sách đã được phê duyệt, cơ sở vật chất, phương tiện theo quy định của nhà nước để Hội Cựu chiến binh Việt Nam hoạt động có hiệu quả.

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam hướng dẫn việc thực hiện các chính sách về giao đất, giao rừng, giao mặt nước cho cựu chiến binh.

- Bộ Ngoại giao phối hợp với Trung ương Hội Cựu chiến binh và các cơ quan chức năng hướng dẫn, tạo điều kiện để Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam thực hiện công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế theo quy định hiện hành.

- Bộ Tư pháp phối hợp với Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; tư vấn, trợ giúp pháp lý đối với Cựu chiến binh theo quy định của pháp luật.

Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ.

Trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp (Điều 13): Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm:

- Bảm bảo kinh phí để Hội Cựu chiến binh cùng cấp hoạt động; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cựu chiến binh; tạo điều kiện để Hội Cựu chiến binh, cựu chiến binh tham gia các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

-  Định kỳ 6 tháng Ủy ban nhân dân các cấp làm việc với Hội Cựu chiến binh cùng cấp để nghe báo cáo về công tác của Hội và giải quyết các đề xuất, kiến nghị liên quan đến cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh.

Quan hệ phối hợp hoạt động thực hiện nhiệm vụ giữa cơ quan, tổ chức, đơn vị  với Hội Cựu chiến binh các cấp (Điều 14):

Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, tổ chức, đơn vị phối hợp với Hội Cựu chiến binh các cấp thực hiện nhiệm vụ theo chương trình.

Chương V. Điều khoản thi hành. Chương này có 02 điều (Điều 15 và Điều 16) quy định hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

Đến nay tổ chức Hội trực thuộc Trung ương Hội có ở 63 tỉnh thành; 25 Bộ, ngành Trung ương.

Tổ chức Hội cấp trên cơ sở có 762 trong đó có 685 huyện, quận; 77 cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp.

Tổ chức cơ sở Hội có 16.341 trong đó có 11029 ở xã, phường, thị trấn; 5.312 ở cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp.

Chi hội có 103.706 trong đó có 93.466 ở thôn, bản, buôn, sóc, tổ; 10.240 ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.

1. Kết quả đạt được

 Qua 20 năm xây dựng và trưởng thành, Hội Cựu chiến binh Việt Nam các cấp đã, đang và tiếp tục khẳng định vị trí vững chắc của mình trong đời sống xã hội, đạt được những kết quả tích cực, thể hiện trên nhiều mặt:

 Thứ nhất, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã đoàn kết, vận động CCB giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN; đấu tranh chống mọi âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, chống các quan điểm tư tưởng sai trái; thực hiện các quy chế dân chủ ở cơ sở, đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tệ nạn xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị và quốc phòng, an ninh ở cơ sở.

Nhiệm vụ trên đây được Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VI) chỉ thị ngay từ những ngày đầu mới thành lập (Chỉ thị 23/CT ngày 22/4/1990 - phần mục đích của Hội) và sau đó được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội IX, Đại hội X của Đảng trong phần nói về CCB và trong Nghị quyết 09 năm 2002 của Bộ Chính trị.

Quán triệt các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, ý thức sâu sắc nhiệm vụ của mình, Hội CCB Việt Nam đã xác định nhiệm vụ tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN, đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Hội, vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách trước mắt. Hội đã triển khai nhiệm vụ trên trong các Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ đồng thời xuất phát từ tổng kết thực tiễn đã đúc kết thành Nghị quyết chuyên đề mang tính lý luận để chỉ đạo thực tiễn hoạt động của Hội.

 Thứ hai, Hội Cựu chiến binh đã không ngừng chăm lo bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng cho cán bộ, hội viên, kiên định niềm tin, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền CNXH, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng; kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị, nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, cụ thể:

- Các cấp Hội thường xuyên coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng nâng cao trình độ nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, để mọi người phân biệt đúng, sai, phải, trái, và đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái; đồng thời thường xuyên cung cấp các thông tin về đường lối, chính sách, pháp luật và những thành tựu đổi mới của đất nước cho cán bộ, hội viên, khẳng định sự đúng đắn của đường lối đổi mới, củng cố niềm tin và cơ sở thực tiễn để đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, phản động, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng.

- Các cấp Hội không ngừng nâng cao cảnh giác, kịp thời phát hiện và chủ động ngăn chặn những quan điểm, tư tưởng sai trái tác động vào nội bộ Hội, có thái độ kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các hoạt động tung tin thất thiệt, tán phát tài liệu có nội dung xấu, nhắc nhở nhau giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, bảo vệ bí mật của Đảng, đề cao ý thức tổ chức, kỷ luật, nói và làm theo Nghị quyết của Đảng. Cùng với nhiệm vụ đấu tranh chống các quan điểm sai trái, Hội tích cực tham gia đấu tranh bài trừ văn hoá phản động, độc hại, lối sống đồi truỵ, góp phần khôi phục các giá trị văn hoá Việt Nam cao đẹp, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc.

-  Hội thường xuyên giáo dục hội viên nâng cao ý thức cảnh giác, nhận rõ âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch dùng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để chống phá ta; chủ động ngăn ngừa và đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, kịp thời phát hiện và kiên quyết chống các luận điệu xuyên tạc vu cáo, kích động, các hành động cực đoan, gây rối chống phá cách mạng của bọn phản động, kiên quyết bảo vệ Đảng, chính quyền, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

- Phối hợp với các đoàn thể bạn, Hội kịp thời tham mưu cho các cấp uỷ Đảng giải quyết tình hình ở các vùng trọng điểm: Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Bắc.v..v, những nơi có khiếu kiện đông người, những “điểm nóng”; đồng thời dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các cấp Hội làm tốt công tác nắm chắc tình hình, phát hiện kịp thời các hoạt động chống đối trên địa bàn, có kế hoạch sẵn sàng tổ chức lực lượng, phối hợp với cơ quan quân sự và các ngành chức năng giải quyết vụ việc theo quan điểm, phương châm của Đảng, không để bị động, bất ngờ, góp phần giữ vững ổn định chính trị ở địa phương.

- Hội tích cực vận động CCB tham gia công tác vận động quần chúng, nắm vững và thực hiện đúng các chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế, xã hội, về tôn giáo, dân tộc, góp phần giúp đỡ, hỗ trợ đồng bào các dân tộc ổn định cuộc sống, yên tâm sản xuất, xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, tăng cường an ninh - quốc phòng trên địa bàn.

Thứ ba, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã tích cực tham gia đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cụ thể như sau:

- Cán bộ, hội viên nghiên cứu, học tập, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp, trước hết là trong nội bộ Hội; đồng thời vận động CCB đề cao trách nhiệm, tích cực đóng góp ý kiến với địa phương xây dựng quy chế, quy ước, hương ước, tham gia tuyên truyền vận động nhân dân hiểu rõ ý nghĩa và nội dung quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện quyền làm chủ của mình, có ý thức giữ gìn và tuân thủ kỷ cương, phép nước.

- Nắm vững mục đích đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí là để bảo vệ Đảng, chính quyền, tăng cường sức mạnh lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, tăng cường đoàn kết thống nhất nội bộ, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Muốn đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu có hiệu quả trước hết nội bộ Hội phải trong sạch, vững mạnh, luôn luôn giữ gìn phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Với tinh thần đó, các cấp Hội thường xuyên duy trì chế độ sinh hoạt giữa lãnh đạo Hội với những hội viên CCB đang đảm nhiệm các chức danh trong bộ máy Đảng, chính quyền nhằm động viên các đồng chí đó thường xuyên tu dưỡng rèn luyện thực hành cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Hai mươi năm qua, nhiều gương điển hình CCB chống tham nhũng lãng phí được các địa phương và nhân dân tôn vinh, tin cậy.

- Nắm vững phương châm kết hợp xây và chống, lấy xây làm chính, phòng ngừa là cơ bản. Hội giáo dục cán bộ, hội viên trong đấu tranh phải kiên quyết nhưng phải bình tĩnh, kiên trì, có thái độ và phương pháp đúng đắn, dựa vào quy định của Đảng, Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ, mặt khác cần đề cao cảnh giác với những phần tử xấu lợi dụng chống tham nhũng để gây mất đoàn kết nội bộ, vu cáo, bôi nhọ, đả kích Đảng và Nhà nước.

Thứ tư, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã tích cực tham gia cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, cụ thể:

- Các cấp Hội thường xuyên động viên CCB tích cực tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các chủ trương, chính sách của Đảng, nhất là qua các kỳ Đại hội Đảng các cấp. Sau khi Đảng có Nghị quyết, Hội tổ chức cho cán bộ, hội viên nghiên cứu, quán triệt, gương mẫu thực hiện các Nghị quyết của Đảng.

- Hội phát huy vai trò, trách nhiệm của mình là đoàn thể chính trị - xã hội, động viên CCB tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, chủ yếu ở cơ sở; động viên hội viên là đảng viên phát huy vai trò tích cực tham gia củng cố tổ chức cơ sở Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, để chi bộ thực sự là nơi trực tiếp giáo dục rèn luyện đảng viên, thực hiện đúng chức năng là hạt nhân đoàn kết lãnh đạo chính trị đối với chính quyền, đoàn thể, các mặt công tác và các tầng lớp nhân dân ở cơ sở, nâng cao tính chiến đấu, khắc phục tình trạng thụ động, ỷ lại, buông lỏng vai trò lãnh đạo.

- Các cấp Hội chủ động đóng góp ý kiến với chính quyền trong việc xây dựng các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, gương mẫu chấp hành và tuyên truyền, vận động CCB và nhân dân tích cực thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ của chính quyền địa phương đề ra; phát huy vai trò, chức năng giám sát hoạt động của cán bộ, đảng viên ở địa bàn dân cư, góp phần xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, thực sự là của dân, do dân, vì dân.

Thứ năm, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã tích cực tham gia xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc, góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN. Cụ thể:

- Hội nhận thức sâu sắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố hết sức quan trọng, quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Để góp phần xây dựng khối đại đoàn kết, các cấp Hội đã chăm lo xây dựng, tăng cường đoàn kết trong nội bộ Hội, đoàn kết giữa các thế hệ CCB, đoàn kết CCB với cựu quân nhân, tích cực tham gia công tác hoà giải các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân góp phần xây dựng tình làng, nghĩa xóm, tham gia giải quyết các vụ khiếu kiện đông người, không để lây lan, kéo dài, gây mất ổn định chính trị - xã hội và bản thân CCB không tham gia khiếu kiện đông người, khiếu kiện vượt cấp, chấp hành nghiêm chỉnh luật khiếu nại tố cáo, nêu gương tốt trong nhân dân địa phương.

- Trên cơ sở giữ vững và tăng cường đoàn kết nội bộ, Hội CCB các cấp thực hiện vai trò cầu nối giữa nhân dân với Đảng, chính quyền, tìm hiểu và phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của nhân dân với cấp uỷ Đảng, chính quyền, kiến nghị về những chủ trương, chính sách phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của đông đảo quần chúng nhân dân; đồng thời tuyên truyền phổ biến cho nhân dân thấu hiểu và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ của địa phương, từ đó góp phần xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa nhân dân với Đảng và chính quyền.

- Hội tăng cường công tác vận động quần chúng ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi, các vùng có đông đồng bào theo đạo, góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc đặt ra hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX (phần 2) của Đảng về công tác dân tộc và công tác tôn giáo, tổ chức các cuộc hội nghị triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng tại các địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Nam Trung Bộ; vận động CCB đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá, gây mất ổn định chính trị, kích động ly khai, bạo loạn, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ sáu, Hội Cựu chiến binh các cấp đã không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc thực hiện các chương trình liên kết, phối hợp hoạt động giữa Hội với Bộ Quốc phòng về giáo dục quốc phòng, giữa Hội với Bộ Công an về bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữa Hội với Ban Tôn giáo Chính phủ về vận động đồng bào các tôn giáo; giữa các cấp Hội với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh về giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ… nhằm mục đích bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, chế độ XHCN, góp phần giữ vững ổn định chính trị và quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở.

Thứ bảy, các cấp Hội tích cực vận động Cựu chiến binh tham gia phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; kiến nghị với cơ quan Nhà nước, chính quyền địa phương về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến Cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Cựu chiến binh.

Tham gia phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng và các cuộc vận động ở địa phương là một trong những nhiệm vụ được quy định trong Điều lệ Hội và được triển khai, quán triệt trong các Nghị quyết các kỳ Đại hội toàn quốc của Hội. Nhiệm vụ trên được  Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị chỉ rõ: “Động viên CCB tích cực học tập, phát huy tiềm năng, kinh nghiệm của mình cùng các tầng lớp nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân tích cực tham gia phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng và các tệ nạn xã hội, xây dựng bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN, giữ vững ổn định chính trị và quốc phòng, an ninh”.

Những năm qua, Hội đã động viên hội viên và CCB hăng hái tham gia thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; tham gia củng cố an ninh, quốc phòng ở địa phương có hiệu quả thiết thực. Trước hết, Hội giáo dục CCB nhận thức đầy đủ việc tham gia phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng là nhiệm vụ của người công dân, là nhiệm vụ chính trị của Hội, là hành động cụ thể của CCB nhằm giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” khi trở về đời thường; đây cũng là hoạt động có ý nghĩa thiết thực vừa góp phần cùng toàn dân, toàn quân thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, để giữ vững ổn định và đưa đất nước ngày phát triển, vừa tác động trực tiếp đến việc phát triển kinh tế gia đình, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của CCB vừa góp phần vào sự phát triển chung của đất nước. Trên cơ sở đó, ngay từ ngày mới thành lập, Hội đã chú trọng vận động hội viên và CCB thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) về “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn”. Nhiều CCB ở nông thôn đã đi đầu thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng kinh tế hàng hoá, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, phát triển dịch vụ ngành nghề, làng nghề truyền thống, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, trong đó có con em CCB. Trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá, Hội vận động CCB tuỳ theo khả năng tích cực tham gia chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) của Đảng; chủ động cùng ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đề xướng và triển khai chương trình hành động chung nhằm phát huy tiềm năng CCB vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá kinh tế nông thôn và nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Hội động viên CCB làm nông nghiệp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từng bước chuyển lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ, thành lập các hợp tác xã nông nghiệp và dịch vụ, góp phần hình thành các vùng sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp có chất lượng và sức cạnh tranh trên thị trường. Hội vận động CCB là chủ doanh nghiệp trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường nội địa và quốc tế, góp sức đẩy nhanh công cuộc phát triển kinh tế ở từng địa phương và toàn quốc; động viên anh chị em CCB hoạt động trong các ngành kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, chủ động, sáng tạo, đem kiến thức văn hoá, khoa học - kỹ thuật áp dụng trong sản xuất, kinh doanh làm giàu cho đất nước. Trong các cơ quan, doanh nghiệp, trường học ngày càng nhiều CCB phấn đấu trở thành giám đốc nhà máy, xí nghiệp, công ty, trở thành các nhà khoa học, thầy giáo, thầy thuốc ưu tú, các nhà văn, nhà báo tầm cỡ đã và đang đóng góp xứng đáng trí tuệ, công sức vào sự phát triển của địa phương và đất nước trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hai mươi năm qua, thực hiện nhiệm vụ góp phần tham gia phát triển công nghiệp, nông nghiệp, khoa học – công nghệ, quản lý, dịch vụ, y tế, giáo dục, Hội CCB Việt Nam đều có đại biểu xứng đáng của mình, nhiều CCB đã trở thành Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới.

Thứ tám, phong trào CCB giúp nhau nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

- Cựu chiến binh tích cực phát huy tiềm năng, huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp,  phát triển công nghiệp nhỏ và vừa; thành lập các doanh nghiệp, các công ty, HTX kinh doanh, dịch vụ góp phần tăng nhanh các thành phần kinh tế trên địa bàn, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế địa phương và đất nước. Các hoạt động tích cực của CCB ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, chế biến bảo quản sản phẩm, mở rộng các ngành nghề sản xuất, kinh doanh đã làm tăng thêm sức cạnh tranh của sản phẩm địa phương trên thị trường, góp phần tạo ra nhiều việc làm mới ở cơ sở. CCB đi đầu trong “dồn điền đổi thửa”, phát triển mạnh làng nghề đã góp phần chuyển đổi lao động, chuyển đổi ngành nghề theo hướng phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hoá nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Các doanh nghiệp, HTX do CCB làm chủ trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, kinh doanh, dịch vụ đã góp phần tăng thêm nguồn thu cho ngân sách địa phương và Nhà nước, có doanh nghiệp CCB đã góp phần thu cho ngân sách Nhà nước hàng năm hàng ngàn tỷ đồng.

- Hội động viên CCB tích cực tham gia các phong trào, các cuộc vận động ở cơ sở có hiệu quả, chủ động đề xướng và tích cực triển khai chương trình CCB giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, xoá đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng và góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; tích cực triển khai trong CCB các chương trình, mục tiêu quốc gia về hỗ trợ việc làm, xoá đói giảm nghèo, về dân số kế hoạch hoá gia đình và phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội. Nhiều tổ chức Hội cơ sở phối hợp với các Ban liên lạc truyền thống của các quân binh chủng, câu lạc bộ cựu quân nhân xây dựng các công trình văn hoá, xã hội ở địa phương; đóng góp công sức dựng bia tưởng niệm liệt sĩ, xây dựng và tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ, chăm sóc gia đình liệt sĩ; tham gia vận động nhân dân và đóng góp tích cực vào các quỹ “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”, “vì trẻ thơ”, “khuyến học”, “giúp đỡ người nhiễm chất độc da cam”, tham gia các tổ hoà giải, các cuộc vận động phòng, chống tội phạm, phòng, chống ma tuý; có nhiều công trình xã hội ở cơ sở mang tên CCB như “Cây cầu CCB”, “đoạn đường CCB”, “lớp học CCB” đã nói lên hoạt động tích cực và có hiệu quả trong nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở địa phương gương mẫu thực hiện và vận động nhân dân bảo vệ môi trường.

Thứ chín, Hội tích cực tham gia thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, các chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, chương trình chống mù chữ và phổ cập giáo dục, các cuộc vận động ủng hộ đồng bào bị thiên tai, dịch hoạ, vận động thực hiện Nghị định của Chính phủ về cấm pháo nổ, về trật tự an toàn giao thông, về thiết lập kỷ cương trong hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá; tích cực tham gia cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khởi xướng; tuyên truyền, vận động nhân dân và CCB gương mẫu tham gia có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, tham gia xây dựng “Làng văn hoá”, “gia đình văn hoá”; phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể tham gia bảo vệ và chăm sóc, giáo dục thiếu niên,  nhi đồng ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, các hoạt động phòng, chống tội phạm, đặc biệt là phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm, phòng, chống HIV/AIDS, góp phần xây dựng môi trường xã hội lành mạnh cho thanh, thiếu niên. Ở nhiều địa phương, cấp uỷ Đảng, UBND, Mặt trận Tổ quốc đánh giá cao hoạt động của Hội, nhiều hội viên và tổ chức Hội được biểu dương, khen thưởng.

Thứ mười, Hội phối hợp với ngành Công an nhân dân củng cố và phát triển phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc”, vận động thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm, cảm hoá người lầm lỗi. Nhiều hội viên CCB được tín nhiệm cử làm trưởng, phó công an xã, làm tổ trưởng các tổ an ninh nhân dân, tổ nhân dân tự quản, tổ hoà giải… Nhiều hội viên và tổ chức Hội hoạt động có hiệu quả đã góp phần giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Hội phối hợp với cơ quan quân sự địa phương tuyên truyền, giáo dục ý thức quốc phòng toàn dân, vận động thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự, tham gia tổ chức và huấn luyện dân quân tự vệ, diễn tập khu vực phòng thủ và chống bạo loạn, bảo vệ biên giới. Nhiều hội viên CCB được cử làm xã, phường đội trưởng, đội phó, làm cán bộ trực tiếp chỉ huy, huấn luyện dân quân, tự vệ.

Mười một, Hội phối hợp với cơ quan quân sự địa phương và ngành lao động, thương binh và xã hội vận động thực hiện các chính sách hậu phương quân đội, giải quyết chính sách tồn đọng sau chiến tranh, phát hiện, tìm kiếm và quy tập hàng ngàn mộ liệt sĩ, thực hiện chính sách đối với người có công; nhiều cán bộ, hội viên được chính quyền các cấp khen thưởng vì đã có nhiều thành tích trong công tác chính sách.

Mười hai, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của CCB, Hội đã chủ động phối hợp với ngành Lao động - thương binh và xã hội, ngành quân sự và các đoàn thể khác, tham gia nghiên cứu đề xuất với Đảng, Nhà nước ban hành, sửa đổi, bổ sung một số chế độ, chính sách có liên quan đến CCB và những người có công với cách mạng, từng bước điều chỉnh những chính sách chưa phù hợp như chính sách đối với CCB nhiễm chất độc da cam/diôxin, điều chỉnh lương hưu, chính sách ưu đãi người có công, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho CCB tham gia chống thực dân  Pháp và đế quốc Mỹ từ 30/4/1975 về trước, trợ cấp cho CCB tham gia kháng chiến chống Mỹ có thời gian dưới 20 năm phục vụ trong quân đội (từ 30/4/1975 về trước). Mặt khác, Hội chú trọng tham gia giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách đã được ban hành có liên quan đến CCB để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của CCB và các gia đình có công với cách mạng.

Những năm gần đây, Hội đã thành lập Văn phòng trợ giúp pháp lý cho CCB, cựu quân nhân (CQN), phối hợp với cơ quan chức năng tuyên truyền phổ biến pháp luật cho CCB; soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Hội và CCB, CQN; giải đáp và hướng dẫn thực hiện tư vấn trợ giúp pháp luật cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định, tham mưu cho Thường trực Trung ương Hội trong việc tham gia ý kiến vào các dự án Luật, Pháp lệnh, Nghị định của các cơ quan soạn thảo  khi có yêu cầu. Trong những năm qua, thực hiện nhiệm vụ trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật và góp phần ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về Hội  CCB và CCB, Hội đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của CCB, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của CCB và Hội CCB.

Mười ba, tổ chức, chăm lo, giúp đỡ CCB nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phát triển kinh tế gia đình, xoá đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp, đẩy mạnh các hoạt động tình nghĩa để CCB tương trợ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống.

Quan tâm, chăm lo đời sống nhân dân là tư tưởng lớn của Hồ Chủ tịch, đồng thời cũng là quan điểm lớn của Đảng ta. Ngay từ khi đất nước mới giành được độc lập, Bác Hồ đã rất quan tâm đến nhiệm vụ chống đói nghèo, coi đói nghèo cũng là một thứ “giặc” cần phải chống như chống ngoại xâm. Người chủ trương “Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá, giàu, người khá, giàu thì giàu thêm”. Tư tưởng của Bác được Đảng và Nhà nước ta quán triệt và ra sức thực hiện trong các giai đoạn của cách mạng, nhất là trong thời kỳ đất nước thực hiện công cuộc đổi mới. Thể hiện tinh thần đó, gần đây Nghị quyết Đại hội IX, X của Đảng chủ trương: “ Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời ra sức xoá đói, giảm nghèo”, “khuyến khích mọi người làm giàu theo luật pháp, thực hiện có hiệu quả các chính sách “xóa đói, giảm nghèo” nhằm phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Quán triệt quan điểm, tư tưởng của Đảng và Bác Hồ ngay từ ngày thành lập (12-1989) cho đến ngày nay, trong suốt 20 năm hoạt động, Hội CCB Việt Nam luôn luôn xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng của Hội là: chăm lo, bảo vệ các lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên và CCB, động viên các CCB tích cực phát triển kinh tế gia đình, đẩy mạnh hoạt động tương thân, tương ái, giúp nhau nâng cao đời sống vật chất, tinh thần; góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Mục đích trên được ghi rõ trong Điều lệ của Hội, trong Nghị quyết các kỳ Đại hội và Nghị quyết Ban chấp hành các nhiệm kỳ.

Căn cứ tình hình thực tiễn phát triển của đất nước và của Hội từng thời kỳ, mục đích trên được triển khai tập trung vào các nội dung và yêu cầu khác nhau. Trong giai đoạn Hội hoạt động lâm thời, trước tình hình CCB gặp rất nhiều khó khăn về đời sống khi đất nước vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh, CCB từ chiến trường trở về chưa được hưởng các chế độ chính sách, Hội đặt vấn đề chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho CCB là một nhiệm vụ rất quan trọng, có ảnh hưởng chính trị sâu rộng, tạo nên sự gắn bó của hội viên đối với Hội. Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ I đề ra “Chăm lo lợi ích thiết thực về tinh thần, vật chất và bảo vệ những quyền lợi chính đáng của hội viên là một trong những chức năng cơ bản của Hội, là quan điểm cơ bản về đổi mới công tác quần chúng của Đảng”. Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ II xác định “Làm tốt hơn nữa việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của CCB”. Bước vào nhiệm kỳ III, Hội đặt vấn đề giải quyết hết đói, giảm nghèo một cách cơ bản trong CCB, tập trung vào các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, động viên CCB làm giàu chính đáng và trong nhiệm kỳ IV Nghị quyết Đại hội nêu rõ: “Động viên CCB nêu cao ý chí, nghị lực, quyết tâm vượt khó khăn vươn lên làm kinh tế giỏi, xoá đói, giảm nghèo nhanh, giúp nhau nâng cao đời sống…”.

Đi đôi với việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Hội, từ năm 1993, Trung ương Hội đã phát động phong trào “Cựu chiến binh giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, xoá đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp” được gọi tắt là “CCB giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, làm kinh tế giỏi”. Phong trào được đông đảo CCB hưởng ứng, lan rộng trong toàn quốc và căn cứ tình hình thực tiễn trên các địa bàn, nhiều phong trào mang nội dung xóa đói, giảm nghèo, làm kinh tế giỏi ở địa phương được phát động như phong trào “Ngày vì đồng đội” ở Yên Bái, phong trào “Kho thóc CCB” ở Tây Nguyên.v..v. Với nội dung sát hợp, mang lại hiệu quả cao, các phong trào xóa đói, giảm nghèo của CCB được nhân rộng, không những trong nội bộ Hội mà còn lan toả sang các đoàn thể bạn và các địa phương trong vùng.

Từ kết quả thực tiễn của các phong trào trong nội bộ Hội, giữa nhiệm kỳ II, Ban chấp hành Trung ương Hội đã  tổng kết thành Nghị quyết chuyên đề về “Chăm lo đời sống hội viên và tổ chức động viên CCB tham gia phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương”. Nghị quyết trên được bổ sung sau khi có Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị đã khẳng định nhiệm vụ và quyết tâm cao cho hội viên, đồng thời đề ra các chỉ tiêu, giải pháp thực hiện cho các cấp Hội.

Để thực hiện mục đích nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo và tạo điều kiện cho hội viên làm giàu hợp pháp, Hội đã đề ra nhiều chủ trương và giải pháp thiết thực.

Thông qua các hoạt động chính trị, tư tưởng, Hội vận động cán bộ, hội viên học tập, nghiên cứu quán triệt các quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, nhất là đổi mới tư duy kinh tế, giúp anh chị em nắm vững các chính sách kinh tế của Nhà nước, có định hướng xây dựng và phát triển kinh tế gia đình phù hợp. Động viên hội viên và CCB giữ vững và phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, với tinh thần “khó khăn nào cũng vượt qua”, dũng cảm, sáng tạo và đoàn kết giúp nhau làm kinh tế không cam chịu đói nghèo, vươn lên thoát nghèo, làm giàu hợp pháp.

Động viên giúp đỡ hội viên và CCB phát triển kinh tế hộ gia đình, đưa kinh tế hộ gia đình phát triển từ thấp đến cao, từ vườn, ao, chuồng đến kinh tế trang trại… Để thực hiện, các cấp Hội cơ sở ở nông thôn đã thường kỳ tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, thông tin nhân rộng các gương điển hình CCB làm kinh tế giỏi để CCB học tập, làm theo; động viên CCB tham gia các hội nghề nghiệp, tạo điều kiện để CCB tiếp cận thị trường, khách hàng, nâng cao kiến thức, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh cho CCB. Các cấp Hội giúp CCB vay vốn phát triển ngành nghề truyền thống, gắn việc phát triển kinh tế gia đình của CCB với các chương trình tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Mặt khác, Hội vận động khuyến khích CCB phát huy mọi tiềm năng, tập trung mọi nguồn lực đầu tư phát triển các thành phần kinh tế, lập các công ty, doanh nghiệp, HTX để phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… vươn lên làm giàu chính đáng.

Tạo thêm các nguồn lực cho hội viên làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo bằng các hình thức tương trợ, giúp đỡ nhau về vốn, vật tư, con giống, ngày công; bảo lãnh tín chấp cho CCB vay vốn sản xuất từ các chương trình, các kênh vốn ưu đãi của Chính phủ như chương trình vay vốn hỗ trợ việc làm, vay vốn ưu đãi hỗ trợ hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác; hướng dẫn hội viên vay vốn của các ngân hàng thương mại để phát triển kinh tế.

Tranh thủ sự giúp đỡ của Bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương bằng các chương trình liên tịch, phối hợp, tạo điều kiện cho hội viên tham gia các dự án của Chính phủ, quan hệ với chính quyền địa phương để hội viên và CCB được tham gia các chương trình kinh tế ở địa phương. Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống quản lý chỉ đạo các hoạt động kinh tế của Hội từ Trung ương đến cơ sở để làm tốt vai trò tham mưu cho Ban chấp hành Hội CCB các cấp chỉ đạo nhiệm vụ xây dựng kinh tế trong các cấp Hội.

Hai mươi năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Hội CCB Việt Nam thực hiện nhiệm vụ “CCB giúp nhau nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phát triển kinh tế gia đình, xóa đói giảm nghèo, làm giàu hợp pháp” đã có nhiều kết quả.

Phong trào giúp nhau nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo đã có  bước phát triển mới về chất, đạt được tốc độ giảm nghèo nhanh.

Từ năm 2000 trở về trước, phong trào CCB giúp nhau nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo, số hội viên có đời sống khá và giàu còn rất ít. Từ khi thực hiện Nghị quyết chuyên đề III, trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển mạnh, phong trào vươn lên làm giàu đư���c CCB hưởng ứng và tham gia tích cực, xuất hiện nhiều cách làm hay, nhiều mô hình làm giàu có hiệu quả. Đến nay, các cấp Hội đã tích cực chỉ đạo hội viên phát triển kinh tế gia đình vườn, đồi, trang trại (20.446 trang trại CCB), khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, thành lập các HTX sản xuất (3.601 tổ hợp tác), phát triển các ngành nghề kinh doanh, dịch vụ, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động là CCB và con em CCB, vừa để củng cố kết quả xóa đói giảm nghèo, không để tái nghèo, vừa đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo.

Hiện nay, về cơ bản đã xoá được đói trong hội viên CCB, tỷ lệ hội viên CCB nghèo đã giảm từ 32% khi Hội mới thành lập xuống 6% vào cuối năm 2008, phong trào xóa đói giảm nghèo đã có bước phát triển mới, từ chỗ lấy xóa đói giảm nghèo là trọng tâm, chuyển sang giảm nghèo nhanh và vươn lên làm giàu là trọng tâm. Phong trào đã phát triển nhanh cả về phạm vi và tốc độ, từ chỗ giúp nhau xóa đói giảm nghèo cho từng hộ gia đình CCB đã tiến lên mục tiêu xoá nghèo cho từng đơn vị xã, phường và quận, huyện.

Ở các tỉnh miền núi có nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao nhưng đã xuất hiện nhiều cách làm hay như phát triển mô hình chăn nuôi đại gia súc theo phương án bán công nghiệp, hướng dẫn hội viên trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, chuyển đổi từ sản xuất một vụ sang hai vụ, từ sản xuất tự cung, tự cấp, khép kín trong gia đình, làng xóm sang sản xuất hàng hoá đạt hiệu quả cao.

Từ chỗ chỉ tập trung xoá nghèo về đời sống vật chất, đến nay phong trào đã phát triển toàn diện, coi trọng nâng cao chất lượng cuộc sống cho hội viên nghèo như nhà ở, phương tiện đi lại, phương tiện nghe nhìn, chăm sóc sức khoẻ con cái.v..v. Hội CCB các cấp tích cực vận động phong trào CCB xoá nhà dột nát cho hội viên nghèo; đến nay nhiều tỉnh, thành phố đã xoá xong nhà dột nát cho hội viên.

Phong trào làm giàu hợp pháp của CCB đã tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp, HTX và có sự phát triển mới. Từ năm 2003, sau Hội nghị tổng kết kinh tế, Trung ương Hội đã chỉ đạo, động viên CCB phát huy mọi tiềm năng, tập trung mọi nguồn lực đầu tư phát triển các thành phần kinh tế, lập các công ty, doanh nghiệp, HTX để phát triển sản xuất, kinh doanh vươn lên làm giàu hợp pháp, góp phần tăng trưởng kinh tế cho đất nước, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, giúp đỡ CCB giảm nghèo nhanh. Đến năm 2008 đã có 2387 doanh nghiệp do CCB làm giám đốc và 720 HTX sản xuất kinh doanh, tạo ra việc làm thường xuyên cho hàng triệu lao động. Các doanh nghiệp và HTX do CCB làm chủ đã hoạt động đúng hướng, coi trọng đào tạo nghề, đào tạo nhân lực, đổi mới công nghệ làm động lực cho phát triển nhanh. Phong trào CCB giúp nhau nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo đã khai thác được nhiều nguồn lực mới, phát huy được tiềm năng đa dạng của CCB, nâng cao được nhận thức, năng lực và kinh nghiệm làm kinh tế cho CCB.

Trong phong trào, nhiều CCB có tiềm năng về khoa học - kỹ thuật được khai thác, ứng dụng vào sản xuất, thúc đẩy tăng năng suất lao động đem lại hiệu quả cao. Nhiều CCB có kinh nghiệm về y tế, giáo dục… đã mở rộng các cơ sở khám chữa bệnh miễn phí cho CCB nghèo, mở các trường lớp dạy học, cơ sở dạy nghề, giải quyết nhiều việc làm cho CCB và con em CCB. Hội hướng dẫn các cấp giúp đỡ CCB khai thác nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội giúp hàng trăm ngàn hộ CCB nghèo được vay vốn để phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo.

Thực hiện chủ trương gắn kết phong trào “giúp nhau xóa đói giảm nghèo, làm kinh tế giỏi” với việc thực hiện các chính sách xã hội như giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam, xây nhà tình nghĩa, phụng sự bà mẹ Việt Nam anh hùng, giúp đỡ gia đình liệt sĩ, thương binh, đóng góp vào các cuộc vận động, các phong trào mang tính xã hội ở địa phương đã được CCB tham gia tích cực. Năm năm gần đây, cán bộ, hội viên đã đóng góp 150 tỷ đồng ủng hộ đồng bào bị bão lụt, quỹ vì người nghèo, nạn nhân chất độc da cam/dioxin… kinh tế gia đình phát triển, CCB có điều kiện giúp đỡ lẫn nhau trong nội bộ Hội. Nhiều CCB rất quan tâm giúp nhau về kinh nghiệm sản xuất và tổ chức cuộc sống, san sẻ cho nhau về cây, con giống, vốn; nhiều CCB đã dùng tài sản của gia đình mình thế chấp với ngân hàng để đồng chí, đồng đội của mình được vay vốn sản xuất. Hoạt động tình nghĩa trong nội bộ Hội được đẩy mạnh. Ở từng cơ sở, từng chi Hội hoạt động thăm hỏi nhau khi ốm đau, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, tang lễ chu đáo khi CCB qua đời trở thành nề nếp thường xuyên đã góp phần làm cho hội viên ngày càng gắn bó với Hội.

Đã xoá được đói, giảm nghèo nhanh, mức sống hội viên được nâng cao; động viên được hội viên hăng hái nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mở mang ngành nghề, góp phần phát triển lực lượng sản xuất; góp phần phát triển sản xuất hàng hoá, phát triển các thành phần kinh tế, củng cố quan hệ sản xuất tập thể; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo với xây dựng đời sống văn hoá, giúp giải quyết các vấn đề xã hội ở địa phương; phong trào CCB giúp nhau xóa đói giảm nghèo làm kinh tế giỏi, đẩy mạnh hoạt động tình nghĩa trong nội bộ đã góp phần xây dựng, củng cố tổ chức Hội vững mạnh.

Mười bốn, về công tác giáo dục, bồi dưỡng thanh niên:

Hội đã phối hợp với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các cơ quan và đoàn thể liên quan, tích cực tham gia giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ và vận động, tập hợp Cựu quân nhân phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” tham gia các phong trào, các cuộc vận động ở cơ sở.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta thường xuyên chỉ rõ: “Công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Công tác bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện thanh, thiếu niên là nhiệm vụ chiến lược trọng đại của cách mạng, là trách nhiệm của toàn xã hội; riêng đối với Hội CCB, Đảng giao nhiệm vụ: “Đối tượng vận động của Hội không chỉ là CCB, Hội cần đặc biệt quan tâm giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống dựng nước và giữ nước cho thế hệ trẻ”.

Quán triệt quan điểm của Đảng và tư tưởng của Hồ Chủ tịch, nhận rõ nhiệm vụ Đảng giao, ngay từ khi mới thành lập, Hội CCB Việt Nam đã coi việc góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng để thực hiện tôn chỉ, mục đích của Hội, là trách nhiệm và tình cảm của Hội đối với thế hệ trẻ và khẳng định anh chị em CCB có đủ khả năng, đủ điều kiện để thực hiện tốt nhiệm vụ này.

Nhiệm vụ góp phần giáo dục, bồi dưỡng và rèn luyện thế hệ trẻ đã được ghi rõ trong Điều lệ Hội, được các Đại hội nhiệm kỳ tổ chức triển khai thực hiện nhằm mục đích:

- Bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ tiếp thu, kế thừa và phát huy truyền thống cách mạng, truyền thống dựng nước và giữ nước của cha anh; tiếp nỗi vững chắc con đường cách mạng; truyền lại cho lớp trẻ lòng yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, căm thù địch, biết trân trọng, tự hào về truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của Đảng, của quân đội, khẳng định lịch sử vẻ vang của tổ tiên, của cha ông và có trách nhiệm giữ gìn, phát huy truyền thống sáng ngời, oanh liệt đó trong điều kiện mới, theo con đường của Đảng vạch ra.

- Cùng với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh động viên, cổ vũ, phát huy vai trò xung kích của tuổi trẻ trong lao động sản xuất, bảo vệ Tổ quốc, công tác, học tập…góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

- Cùng với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tích cực tham gia củng cố và xây dựng tổ chức Đoàn cơ sở, tập hợp, bồi dưỡng thanh niên để có nhiều thanh niên ưu tú vào Đoàn, có nhiều đoàn viên ưu tú để Đoàn giới thiệu cho Đảng xem xét kết nạp đảng viên.

Để đạt mục đích trên, Hội rất chú trọng công tác tổng kết thực tiễn, đã xây dựng thành Nghị quyết chuyên đề về “Nhiệm vụ góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ” nhằm xác định phương hướng, nhiệm vụ, đề ra nội dung hình thức, biện pháp bồi dưỡng, giáo dục thích hợp làm cơ sở cho các cấp Hội triển khai tổ chức thực hiện. Mặt khác các cấp Hội thường xuyên  nhắc nhở cán bộ, hội viên tìm hiểu tâm lý và nhu cầu hiểu biết của thanh, thiếu niên, có quan điểm và thái độ đúng đắn trong công tác giáo dục, tin ở tuổi trẻ, gạt bỏ các định kiến sai lệch, thái độ gia trưởng, phát huy dân chủ, bình đẳng, cùng đối thoại, nghe thanh niên nói và nói cho thanh niên nghe, để công tác bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ trẻ đạt hiệu quả cao.

Hai mươi năm qua, công tác giáo dục thanh, thiếu niên của Hội đã mang lại nhiều kết quả.

- Các cấp Hội, nhất là ở cơ sở đã chủ động phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các ngành, các đoàn thể nhân dân với nhiều hình thức thích hợp, từng bước nâng cao hiệu quả giáo dục, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng cho thanh, thiếu niên.

Từ năm 1993, Trung ương Hội và Trung ương Đoàn đã ký kết “Thông báo liên tịch” để phối hợp giáo dục truyền thống cách mạng cho thanh, thiếu niên. Đầu năm 1999, Hội và Đoàn đã ra Nghị quyết liên tịch số 01 về giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho thanh, thiếu niên giai đoạn 1999-2002 nâng lên tầm cao mới trong quan hệ phối hợp trên cả hai phương diện: giáo dục đi đôi với xây dựng và củng cố tổ chức Đoàn. Các năm tiếp theo, theo định kỳ 5 năm một lần Hội và Đoàn đều tổ chức Hội nghị tổng kết Nghị quyết liên tịch số 01 và đề ra những định hướng lớn cho những năm tới.

Đến nay tại các tỉnh, thành trong cả nước, Hội và Đoàn đều có Nghị quyết liên tịch phối hợp hoạt động. Nội dung giáo dục truyền thống được bổ sung, phát triển, vừa coi trọng giáo dục, truyền thống kháng chiến chống ngoại xâm, vừa chú ý giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, bản sắc văn hoá dân tộc, tinh thần cảnh giác cách mạng, phòng chống tệ nạn xã hội.v..v. Hàng năm, vào dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn của Đảng, đất nước, quân đội, của Đoàn, của Hội, các cơ sở Hội phối hợp với tổ chức Đoàn, các trường học, nói chuyện truyền thống cách mạng, truyền thống quân đội, thu hút hàng chục vạn thanh, thiếu niên tham gia. Hình thức tuyên truyền cũng phong phú và đa dạng hơn như tổ chức các buổi giao lưu, đối thoại, tổ chức thi vui tìm hiểu lịch sử, giáo dục thông qua các hoạt động tình nghĩa, hành hương, du khảo về nguồn thăm các di tích cách mạng, địa danh lịch sử, chăm sóc mộ liệt sĩ, giao lưu văn nghệ, thể thao… nhằm giúp tuổi trẻ hiểu đúng lịch sử, trân trọng lịch sử, hun đúc lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng để trở thành lớp người kế tục trung thành sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

- Các cấp Hội ở cơ sở đã có những đóng góp tích cực trong việc giáo dục ý thức quốc phòng, động viên thanh niên đi làm nghĩa vụ quân sự, giữ gìn an ninh trật tự, tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội ở địa phương.

Trước các đợt tuyển quân hàng năm ở địa phương, Hội và Đoàn đã phối hợp giáo dục Luật nghĩa vụ quân sự, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của tuổi trẻ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN. Hội tích cực tham gia vận động thanh niên nhập ngũ, góp phần quan trọng bảo đảm chỉ tiêu tuyển quân cả về số lượng và chất lượng, động viên thanh niên hoàn thành tốt nghĩa vụ quân sự tại ngũ. Các cấp Hội cùng với Đoàn thanh niên, cơ quan quân sự địa phương thường xuyên giáo dục ý thức cảnh giác cách mạng cho thanh niên, giúp thanh niên hiểu rõ âm mưu “diễn biến hoà bình”, đấu tranh chống những âm mưu, thủ đoạn, các hoạt động của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta, trước hết là trong từng địa bàn; động viên thanh niên, học sinh tích cực tham gia thực hiện tốt chương trình giáo dục quốc phòng, tập luyện quân sự, động viên thanh niên gia nhập dân quân tự vệ ở các cơ sở; vận động thanh niên tích cực tham gia các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội ở địa phương, tích cực tham gia phong trào “toàn dân xây dựng đời sống văn hoá”, tham gia tuyên truyền phổ biến pháp luật giúp thanh niên nghiêm chỉnh chấp hành kỷ cương phép nước, các quy định của chính quyền địa phương, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, đấu tranh ngăn chặn các hành vi gây rối trật tự công cộng, các tệ nạn xã hội.

- Theo đề nghị của Đoàn, dưới sự chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, Hội đã cùng với Đoàn củng cố xây dựng tổ chức và hoạt động của Đoàn cơ sở, không để tổ chức Đoàn yếu kém.

Trước hết, Hội quán triệt trong cán bộ và hội viên, gương mẫu động viên con cháu mình là đoàn viên hăng hái tham gia sinh hoạt Đoàn, nếu chưa là đoàn viên thì tích cực phấn đấu để trở thành đoàn viên. Gíup đỡ xây dựng, củng cố một số tổ chức Đoàn ở cơ sở, chủ yếu là chi đoàn, kể cả những vùng sâu, vùng xa, góp phần xây dựng, phát triển tổ chức Đoàn ở những nơi chưa có chi đoàn và đưa cơ sở đoàn từ yếu trở thành khá, hoạt động có hiệu quả; động viên thanh niên thực hiện các phong trào “tuổi trẻ giữ nước”, “thanh niên lập nghiệp”, nhà trường không có tệ nạn xã hội do Trung ương Đoàn phát động.

Hội còn phân công hội viên cùng với tổ chức Đoàn cơ sở trực tiếp giúp đỡ bồi dưỡng những đoàn viên ưu tú, giới thiệu với Đảng để xem xét kết nạp vào Đảng, bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng; tích cực cảm hoá, giáo dục những thanh, thiếu niên chậm tiến, bị nhiễm các thói hư, tật xấu trở nên tiến bộ.

Mười lăm, công tác vận động, tập hợp cựu quân nhân: Trong lực lượng thanh niên hiện nay, số quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương có số lượng khá lớn và hàng năm tiếp tục tăng lên. Đây là lực lượng thanh niên được tuyển chọn, được học tập và rèn luyện trong quân đội nhân dân Việt Nam, tiếp thu được bản chất và truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, có chung ý chí và mối quan hệ gần gũi với CCB. Khi trở về địa phương, số đông cựu quân nhân là đoàn viên thanh niên, là lực lượng dự bị động viên, có phẩm chất chính trị tốt, có sức khoẻ, có trình độ văn hoá, một số được trang bị kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp nhất định.

Nắm vững đặc điểm trên, ngay từ đầu nhiệm kỳ II, trong công tác bồi dưỡng, giáo dục thanh niên, Hội rất quan tâm vận động CQN nhằm khơi dậy và phát huy khả năng của anh chị em trong việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của địa phương và làm nòng cốt trong phong trào thanh niên, góp phần củng cố, xây dựng các tổ chức đoàn, đội, thúc đẩy phong trào hoạt động của thanh, thiếu niên.

Năm 2002, Nghị quyết số 09-NQ/TƯ của Bộ Chính trị đã giao nhiệm vụ cho Hội: “Đối với anh chị em hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về, Hội CCB các cấp phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, cơ quan quân sự địa phương, các ngành chức năng cùng cấp, bằng các hình thức thích hợp, tập hợp, bồi dưỡng, động viên anh chị em phát huy vai trò tích cực và tiềm năng của CQN trong các phong trào, các cuộc vận động ở cơ sở”. Bên cạnh đó, Pháp lệnh CCB cũng quy định nhiệm vụ của Hội CCB “… tập hợp quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự tiếp tục phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia tổ chức câu lạc bộ, ban liên lạc cựu quân nhân, các phong trào cách mạng ở cơ sở”.

Quán triệt Nghị quyết của Ban chấp hành và Pháp lệnh CCB, Hội CCB và Bộ Quốc phòng đã thống nhất ra Thông tư liên tịch nêu rõ mục đích vận động, tập hợp CQN là: Vận động tập hợp CQN tham gia sinh hoạt câu lạc bộ, ban liên lạc để bồi dưỡng, giáo dục, động viên CQN giữ gìn, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, truyền thống đơn vị; thực hiện tốt nghĩa vụ công dân; đoàn kết, tương thân, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống; gương mẫu tham gia các cuộc vận động, các phong trào chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương.

Thực hiện nhiệm vụ trên, các cấp Hội tổng kết kinh nghiệm đã làm, chủ động đề nghị với cấp uỷ Đảng xây dựng cơ chế phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, cơ quan quân sự, các ngành chức năng cùng cấp để vận động anh chị em tự nguyện sinh hoạt tại từng cơ sở, bằng hình thức tự lập, tự quản, theo sở thích và nguyện vọng như: Câu lạc bộ văn hoá, Hội ngành nghề, Hợp tác xã sản xuất, kinh doanh, ban liên lạc đồng ngũ, đồng đơn vị… thu hút được số đông CQN, nhằm động viên anh chị em tiếp tục phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trong nhiệm vụ mới.

Các cấp Hội, nhất là ở cơ sở đã chủ động liên hệ thông báo cho anh chị em những chủ trương hoạt động của Hội, đáp ứng những yêu cầu về thông tin thời sự, chính sách, văn hóa thể thao, họp mặt truyền thống… giúp anh chị em phát huy vai trò tích cực và tiềm năng, tham gia xây dựng cuộc sống mới ở xã, phường, thôn, bản, ở cơ sở công tác.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Hội CCB Việt Nam đã đánh giá: Hội đã tích cực tham mưu với cấp uỷ, chính quyền và chủ động phối hợp với Đoàn TN, cơ quan quân sự các cấp vận động, tập hợp gần một triệu CQN sinh hoạt bằng các hình thức như ban liên lạc, câu lạc bộ ở 70% số xã, phường trong cả nước. Nội dung sinh hoạt chủ yếu là giúp nhau trong đời sống, tham gia các phong trào, các cuộc vận động ở cơ sở, thực hiện nhiệm vụ dự bị động viên. Việc tập hợp CQN sinh hoạt ở cơ sở được anh em đồng tình, cấp uỷ, chính quyền ủng hộ.

Mười sáu, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước

Trong thời kỳ mới thành lập, cùng với các nhiệm vụ khác, Hội CCB Việt Nam đã rất coi trọng công tác đối ngoại. Tháng 02 năm 1990, được sự đồng ý của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Hội đã có các bước làm việc nhằm trao đổi kinh nghiệm hoạt động với Hội CCB Liên Xô. Sau khi có chỉ thị của Ban Bí thư (tháng 4/1990) quy định “Hội CCB Việt Nam có quan hệ hữu nghị với Hội CCB các nước XHCN và tổ chức CCB tiến bộ ở các nước để đấu tranh chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ hoà bình, đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc”, tiếp đó là các chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương Đảng về hoạt động đối ngoại của các đoàn thể quần chúng, tổ chức chính trị - xã hội và năm 2002 Nghị quyết 09 Bộ Chính trị chỉ rõ một trong những nhiệm vụ của Hội CCB Việt Nam là “tham gia hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần vào thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng”. Các chỉ thị trên của Đảng đã tạo cơ sở cho Hội khẳng định công tác đối ngoại nhân dân là một nhiệm vụ quan trọng, là hoạt động thường xuyên, xuyên suốt qua các nhiệm kỳ.

Hai mươi năm qua, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; trước những thời cơ và thách thức mới trên con đường phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Hội CCB Việt Nam quán triệt chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại nhân dân của Đảng và Nhà nước, phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể liên quan đã tích cực và chủ động triển khai các hoạt động đối ngoại, xây dựng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng, bạn bè truyền thống, các nước trong khu vực và trên thế giới. Hoạt động đối ngoại nhân dân của Hội thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước đã nâng cao vị thế, uy tín của Hội và của nước ta trên trường quốc tế, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới. Cụ thể là:

Hoạt động đối ngoại nhân dân của Hội đã góp phần vào việc bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ, phê phán, đấu tranh với các hành vi sai trái của Mỹ và các thế lực thù  địch đối với Việt Nam, qua đó góp phần giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển đất nước. Những năm qua, Hội CCB Việt Nam đã có quan hệ với 7 tổ chức CCB có vai trò và ảnh hưởng tại Mỹ. Thông qua các cuộc tiếp xúc, Hội trao đổi thẳng thắn, cởi mở những vấn đề hai bên cùng quan tâm như các vấn đề khắc phục hậu quả chiến tranh, chất độc da cam/dioxin, thông tin về người mất tích trong chiến tranh của cả hai bên và các vấn đề bình đẳng, nhân quyền, hoà bình, hữu nghị hợp tác phát triển.v..v. Các cuộc trao đổi đã có tác động tích cực đến CCB Mỹ, các tầng lớp nhân dân và chính quyền Mỹ làm cho họ có lời nói và hành động ứng xử đúng đắn hơn với cuộc chiến tranh vừa qua cũng như với nhân dân và CCB Việt Nam.

Hoạt động đối ngoại của Hội góp phần thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác với CCB các nước láng giềng khu vực và bạn bè truyền thống. Hội thiết lập quan hệ chính thức với Hội CCB quốc gia Lào (2004), thiết lập quan hệ với Hội CCB Cam-pu-chia (2007), duy trì quan hệ hữu nghị với Hội CCB các nước: Liên bang Nga, Bê-la-rút, Ucơ-rai-na, Mông Cổ, Nam Phi, Mô – dăm bích, Angiêri, Nam – mi- bi-a, Cu ba, Vê-nê-duy-ê la và những CCB Trung Quốc từng tham gia giúp Việt Nam trong chiến tranh. Việc làm của Hội vừa thể hiện đạo lý “đền ơn đáp nghĩa” của người Việt Nam, vừa góp phần giữ gìn an ninh biên giới và ngăn chặn âm mưu thủ đoạn chống phá Việt Nam từ bên ngoài.

- Hội đã có quan hệ với Hội CCB Pháp, các tổ chức CCB Mỹ, tổ chức CCB Hàn Quốc, Bộ CCB Niu-Di-lân, Hội CCB Ôx-trây-li-a… tập trung đề cập tới việc các nước này có trách nhiệm góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh như trao đổi thông tin về người mất tích (MIA), thực hiện dự án rà phá bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh. Đặc biệt là việc khắc phục hậu quả chất độc da cam/diôxin. Quan hệ đúng đắn của Hội đã mang lại những kết quả tích cực: Hội CCB Mỹ đã cung cấp thông tin liên quan đến hàng ngàn trường hợp bộ đội ta hy sinh trong chiến đấu. Hội CCB thương tật Hàn Quốc tài trợ xây dựng làng Hoà Bình Việt – Hàn tại Quảng Nam, CCB Ốt-tơ-rây-lia giúp Hội CCB Bà Rịa – Vũng Tàu trong việc xoá đói giảm nghèo, xoá nhà dột nát cho CCB. Bộ CCB Niu-di-lân tài trợ Làng Hữu Nghị và Trường trung cấp nghề của Hội.v..v.

Hội tham gia có hiệu quả trong các tổ chức CCB khu vực và thế giới, cũng như các cuộc hội nghị, hội thảo quốc tế. Năm 1997, Hội CCB Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp Hội CCB các nước Đông Nam Á (VECONAC); năm 2000 gia nhập Liên đoàn CCB thế giới (WVF). Đây là những sự kiện quan trọng trong hội nhập cộng đồng CCB toàn cầu, mở ra tiềm năng quan hệ rộng rãi với nhiều tổ chức CCB các nước. Năm 2003, trên cương vị Chủ tịch nhiệm kỳ, Hội tổ chức thành công Đại hội VECONAC lần thứ X tại Việt Nam, tiếng nói và việc làm của Hội Cựu chiến binh Việt Nam để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn bè CCB các nước Đông Nam Á. Tại các diễn đàn hội nghị, hội thảo của các tổ chức CCB trên thế giới, Hội có dịp tiếp cận các đoàn đại biểu CCB nhiều nước, có dịp bày tỏ quan điểm của Việt Nam, trên nhiều lĩnh vực, nhất là những vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch thường kích động chống phá ta. Tiếng nói của CCB Việt Nam luôn luôn được tôn trọng, được bạn bè thế giới đánh giá cao, góp phần nâng cao vị thế của Hội trên trường quốc tế. Thời gian gần đây Hội còn có nhiều hoạt động mở rộng quan hệ với Hội CCB các nước Châu Phi, Mỹ La tinh…

Hoạt động đối ngoại tích cực của Hội đã góp phần đẩy mạnh công tác vận động nhân dân thế giới đấu tranh đòi công lý và trực tiếp giúp đỡ các nạn nhân chất độc da cam/dioxin do cuộc chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ gây ra. Thông qua công tác đối ngoại với các nước trong khu vực; tại các nước có chung đường biên giới như Lào, Campuchia, công tác kinh tế đối ngoại đã được thực hiện ở một số tỉnh Hội theo sự chỉ đạo của Trung ương Hội và chính quyền địa phương.

Sau 20 năm thành lập, hoạt động đối ngoại nhân dân của Hội CCB Việt Nam phát triển nhanh, đúng hướng, có hiệu quả, góp phần tích cực thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước; nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Hội cũng như của đất nước.

Mười bảy, đoàn kết, vận động CCB xây dựng Hội trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, xứng đáng là đoàn thể chính trị - xã hội, đại diện ý chí, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của CCB, là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Từ ngày đầu thành lập, Hội CCB Việt Nam đã nhận thức sâu sắc công tác xây dựng Hội là nhân tố có tác động trực tiếp quyết định đến việc hoàn thành các nhiệm vụ của Hội, ngay từ nhiệm kỳ đầu tiên, Hội đã đặt vấn đề xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng trong hoạt động của Hội. Các nhiệm kỳ tiếp theo, nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có nhiều thuận lợi cơ bản nhưng cũng còn không ít khó khăn, thách thức; nội bộ Hội cũng có bước phát triển mới, đối tượng được kết nạp vào Hội được mở rộng; yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao và toàn diện hơn.

Trước tình hình trên, Hội đề ra mục tiêu xây dựng Hội trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, nâng cao hiệu quả hoạt động ngang tầm với yêu cầu của nhiệm vụ nhằm “phát huy vai trò và chức năng của Hội là một đoàn thể chính trị - xã hội, đại diện ý chí, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của CCB, là tổ chức trong hệ thống chính trị, chỗ dựa tin cậy của các cấp ủy Đảng, chính quyền, nhất là ở cơ sở, đủ sức làm tham mưu cho cấp ủy về công tác CCB và làm nòng cốt tập hợp CCB thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng và của Hội” (trích Nghị quyết chuyên đề I của Hội).

Nhiệm vụ xây dựng Hội trong sạch, vững mạnh về mọi mặt đã được các cấp Hội triển khai rộng khắp chủ yếu là ở cơ sở - nền tảng tổ chức của Hội -với các nội dung và biện pháp cụ thể trên các mặt xây dựng Hội về chính trị, tư tưởng, xây dựng Hội về tổ chức và đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của Hội. Nhiệm vụ xây dựng Hội trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ được đề cập xuyên suốt trong Nghị quyết các kỳ Đại hội toàn quốc, Nghị quyết chuyên đề và được quán triệt trong phong trào thi đua, cụ thể hoá thành các tiêu chí thi đua của Hội.

Hai mươi năm qua, triển khai thực hiện nhiệm vụ trên bằng nhiều hình thức: tổ chức tập huấn, tuyên truyền phổ biến trên Báo CCB Việt Nam, thông tin CCB và các phương tiện truyền thông do Hội phụ trách đến các cấp Hội và hội viên, đã thu được nhiều kết quả. Hội đã bồi dưỡng cho các thế hệ CCB giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, trở thành lực lượng trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân và Tổ quốc Việt Nam XHCN, tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, hăng hái tham gia các nhiệm vụ của cách mạng và của Hội, nêu nhiều gương tiên tiến trong các phong trào, các cuộc vận động của địa phương, có ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể, tình đồng chí, đồng đội chăm sóc giúp đỡ nhau trong cuộc sống cả vật chất và tinh thần. Hội đã phối hợp với cơ quan tuyên huấn của cấp uỷ các cấp bồi dưỡng cho CCB nắm được đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chương trình kinh tế, xã hội ở địa phương; từng bước nâng cao trình độ nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các định hướng lớn trong công tác tư tưởng của Đảng, tạo điều kiện cho cán bộ, hội viên kịp thời nắm bắt những thông tin thời sự, chính sách mới để gương mẫu thực hiện, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện và kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối chính sách của Đảng. Hội động viên đông đảo CCB tham gia cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, động viên cán bộ, hội viên tích cực tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư và những kiến thức cần thiết về các mặt trong cuộc sống, ngăn ngừa và khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, công thần…, nhiều CCB đã gương mẫu trong học tập và làm theo Bác Hồ được nêu gương sáng ở các địa phương.

Hội thường xuyên vận động CCB quán triệt quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức cảnh giác cho cán bộ, hội viên đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, làm thất bại hoạt động truyền bá quan điểm, tư tưởng sai trái, văn hoá độc hại… các thủ đoạn sử dụng chiêu bài “bảo vệ tự do, dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo” để chống phá cách mạng. Cán bộ, hội viên tích cực tham gia cuộc vận động thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tham gia đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, phòng chống các tệ nạn xã hội, các hoạt động gây rối phá hoại của các thế lực thù địch nhằm xây dựng và bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ, góp phần giữ vững ổn định chính trị ở địa phương, được cấp uỷ và nhân dân các địa phương thừa nhận.

Mười tám, xây dựng Hội về tổ chức, Hội thực hiện tốt mục tiêu xây dựng đội ngũ hội viên có số lượng đông, chất lượng cao. Về cơ bản Hội chấp hành tốt chỉ thị của Ban Bí thư trong thông báo số 7-TB/TW: “…việc kết nạp hội viên cần có tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị”, đã xây dựng một trong những tiêu chuẩn kết nạp là giữ vững được phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, đồng thời là một đoàn thể quần chúng hoạt động chính trị - xã hội, Hội nắm vững tính chất quần chúng, có phương pháp xem xét đúng đắn, không đơn giản trong công tác phát triển hội viên, đồng thời không cầu toàn, hẹp hòi. Với tinh thần đó, từ nhiệm kỳ II, các cấp Hội đã tích cực tuyên truyền, vận động phát triển hội viên mới, nhất là trong các đối tượng mới (theo Điều lệ Hội) chú ý phát triển hội viên CCB người dân tộc thiểu số, người có đạo, nhanh chóng xây dựng tổ chức Hội ở những nơi có  CCB mà chưa có tổ chức Hội. Số hội viên được kết nạp ngày càng tăng, từ 70 vạn đầu nhiệm kỳ I, đến nay có gần 2,4 triệu hội viên.

Đi đôi với công tác phát triển hội viên, Hội rất coi trọng bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao chất lượng hội viên. Thông qua các hoạt động công tác chính trị, tư tưởng và sinh hoạt của Hội, thông qua các phong trào thi đua “Cựu chiến binh gương mẫu”, Hội không ngừng nâng cao phẩm chất, đạo đức, lối sống, kiến thức, năng lực cho cán bộ, hội viên. Hai mươi năm qua,  Hội đã xây dựng được đội ngũ hội viên CCB không ngừng tăng về số lượng và được nâng cao về chất lượng. Hàng năm số hội viên đạt tiêu chuẩn CCB gương mẫu ngày càng tăng, số hội viên yếu kém ngày càng giảm.

Nhận rõ vai trò của tổ chức cơ sở, Hội tập trung xây dựng các cơ sở Hội và các chi Hội, phân Hội trong sạch, vững mạnh, lấy chi Hội trong sạch, vững mạnh làm trọng tâm trong công tác xây dựng Hội. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ chung của tổ chức Hội cơ sở được quy định trong Điều lệ Hội, các cấp Hội đã cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ của từng loại hình tổ chức cơ sở ở xã, phường, thị trấn; cơ sở ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, nơi có nhiều đồng bào dân tộc, tôn giáo; cơ sở ở cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp… để chỉ đạo xây dựng và hoạt động sát hợp với từng loại hình cơ sở. Trong điều kiện kinh tế thị trường, hội viên sinh hoạt phân tán, các cấp Hội đã có nhiều cố gắng giữ vững chế độ sinh hoạt định kỳ, nhất là sinh hoạt Ban chấp hành cơ sở, sinh hoạt chi Hội, có nội dung phù hợp với đối tượng hội viên trên từng địa bàn dân cư, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao phê bình, tự phê bình, phát huy tính tích cực, chủ động của hội viên, đảm bảo đoàn kết thống nhất trong nội bộ, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác, đề phòng và khắc phục các hiện tượng vô tổ chức, vô kỷ luật, độc đoán, gia trưởng trong nội bộ. Thực hiện chủ trương tập trung xây dựng tổ chức cơ sở Hội, chi Hội, phân Hội trong sạch, vững mạnh đã mang lại kết quả tích cực.

Thường xuyên coi trọng công tác kiểm tra, xác định kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo, một nhiệm vụ công tác của tổ chức Hội các cấp, một quy trình trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Hội từ khâu đề ra chủ trương, kế hoạch đến khâu tổ chức thực hiện đối với các tổ chức Hội và hội viên về chấp hành Điều lệ, Nghị quyết của Hội.

Hội chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, trước hết là đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp, là khâu then chốt để xây dựng Hội trong sạch, vững mạnh. Để xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, 20 năm qua Hội đã tập hợp, đoàn kết, động viên được một lực lượng đông đảo cán bộ tham gia công tác Hội từ cơ sở đến Trung ương, hình thành hệ thống tổ chức bộ máy 4 cấp, thường xuyên được kiện toàn về số lượng, từng bước nâng cao về chất lượng, theo yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Hội ngày càng vững mạnh về tổ chức, hoạt động thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội của Hội có hiệu quả ngày càng cao.

Hội đã coi trọng công tác quy hoạch, lựa chọn, bố trí, sử dụng, giới thiệu ứng cử, bổ nhiệm và bồi dưỡng cán bộ trên cơ sở nắm vững tiêu chuẩn cán bộ chung theo quy định của Đảng và bám sát tiêu chuẩn của Nghị quyết chuyên đề I do Hội đề ra, có sự vận dụng phù hợp với điều kiện của Hội trong từng nhiệm kỳ Đại hội. Qua thực tiễn chấp hành nhiệm vụ, đội ngũ cán bộ các cấp của Hội, đại bộ phận là những người có phẩm chất chính trị, nhiệt tình, trách nhiệm đối với công tác Hội, có đạo đức, lối sống lành mạnh, có năng lực đảm đương và hoàn thành nhiệm vụ được giao, có tín nhiệm với cấp uỷ, chính quyền, hội viên và nhân dân nơi cư trú.

Hội tuân thủ quy định “Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời phát huy trách nhiệm các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị”. Đảng đoàn và Thường trực các cấp Hội đều báo cáo, xin ý kiến của Đảng đoàn và Thường trực Ban chấp hành Hội cấp trên và xin ý kiến chỉ đạo của cấp uỷ Đảng địa phương cùng cấp xem xét, quyết định giới thiệu nhân sự chủ chốt ra ứng cử ở Đại hội nhiệm kỳ và nhân sự kiện toàn, bổ sung các chức danh của Ban chấp hành Hội.

Cùng với việc thường xuyên chăm lo kiện toàn Ban chấp hành các cấp, Hội còn quan tâm bồi dưỡng nâng cao nhận thức, quan điểm, trình độ chính trị, nghiệp vụ công tác, cải tiến phương thức hoạt động phù hợp với tính chất, nhiệm vụ của Hội và yêu cầu công tác vận động quần chúng của Đảng cho cán bộ các cấp, từ cơ sở trở lên bằng các hình thức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong công tác thực tiễn, thông báo thời sự chính sách, tập huấn ngắn ngày tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị, các trường chính trị ở địa phương, Trung ương và động viên cán bộ tự học tập, rèn luyện.

Ngoài các công tác quy hoạch cán bộ, bồi dưỡng, nhận xét, đánh giá và quản lý cán bộ, Hội còn quan tâm đến công tác chính sách đối với cán bộ Hội các cấp như đào tạo, sử dụng và chăm lo lợi ích vật chất,  động viên tinh thần.v..v.

Vì vậy, 20 năm qua Hội đã từng bước xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức và lối sống trong sạch, lành mạnh, có nhiệt tình trách nhiệm, tâm huyết với công tác Hội, có kiến thức và năng lực cần thiết về các mặt theo yêu cầu của nhiệm vụ công tác Hội, cơ bản đủ số lượng và có chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, có nguồn bảo đảm sự kế tiếp, liên tục và phát triển bền vững giữa các thế hệ CCB, qua các thời kỳ, góp phần quan trọng xây dựng Hội trong sạch, vững mạnh.

Mười chín, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động của Hội nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội, là nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Hội trong sạch, vững mạnh. Trong quá trình xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ, Hội đã thực hiện tốt các nội dung:

- Thường xuyên gắn kết công tác xây dựng Hội trong sạch, vững mạnh với việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng, của Hội, của địa phương; tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ: tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; đấu tranh phòng, chống các tệ nạn xã hội, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; chống âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; tổ chức, hướng dẫn CCB giúp nhau nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, tham gia phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.

- Tổ chức, hướng dẫn CCB hăng hái tham gia phong trào thi đua “CCB gương mẫu”, kết hợp cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, có chỉ tiêu, biện pháp phấn đấu cụ thể.

- Nắm vững nguyên tắc hàng đầu là: Hội CCB đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cấp Hội tuân thủ sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, tôn trọng sự quản lý về mặt Nhà nước của chính quyền các cấp.

-  Về phương pháp, các cấp Hội chú trọng cải tiến lề lối làm việc, thực sự phát huy dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của Thường trực, Thường vụ, Ban chấp hành; xây dựng quy chế và làm việc theo quy chế, xác định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, từng chức danh; xác định mối quan hệ giữa các cấp Hội với các ban, ngành, đoàn thể liên quan để thực hiện nhiệm vụ.

-  Bồi dưỡng cán bộ, hội viên nắm được quan điểm và phương pháp vận động quần chúng của Đảng. Phương pháp công tác cơ bản của Hội là tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục, tập hợp, đoàn kết, hướng dẫn CCB hành động cách mạng. Mọi hoạt động công tác của Hội đều bắt đầu từ công tác tuyên truyền, vận động có lý, có tình, khắc phục hiện tượng quan liêu, mệnh lệnh, mất dân chủ, hành chính hoá công tác Hội.

-  Coi trọng công tác tổng kết thực tiễn hình thành các Nghị quyết chuyên đề có tính lý luận nhằm giải quyết những vấn đề trong thực tế xây dựng và hoạt động của Hội; cụ thể hoá các mục tiêu, nhiệm vụ thành các chương trình hành động để các cấp thực hiện có hiệu quả; hướng mạnh hoạt động của các cấp Hội về cơ sở, đề xuất và giải quyết nhiều vấn đề từ cơ sở.

2. Những vấn đề đặt ra đối với tổ chức và hoạt động của Hội Cựu chiến binh

Trước những tác động phức tạp của tình hình thế giới, bối cảnh trong nước, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá Đảng, nhà nước, sự nghiệp đối mới của nhân dân ta quyết liệt và tinh vi hơn. Vấn đề giữ vững an ninh, bảo vệ độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi Hội phải góp sức cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân giữ vững hoà bình, ổn định tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, duy trì nền hoà bình lâu dài, đẩy lùi nguy cơ can thiệp và xung đột vũ trang, không để xảy ra bạo loạn và “tự diễn biến”, ngăn chặn, đẩy lùi mưu toan “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, xâm hại quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ nước ta. Tiếp tục góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nâng cao sức chiến đấu của Hội gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấn gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng Đảng, nhà nước và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân, tù đó củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, nhà nước và giữ vững ổn định chính trị - xã hội.

Cùng với việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, chính sách ưu đãi đối với người có công, với Cựu chiến binh, nhất là việc thực hiện các Quyết định 290, 188 và mới đây là Thông báo số 183 của Bộ Chính trị, Quyết định 142 của Chính phủ về chính sách đối với Cựu chiến binh tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã tạo phấn khởi trong Cựu chiến binh, đòi sống được cải thiện, tạo thuận lợi trong các hoạt động công tác Hội và tham gia các phong trào ở địa phương, cùng với việc thực hiện Pháp lệnh Cựu chiến binh, thực hiện các chính sách đối với Cựu chiến binh và cán bộ làm công tác Hội cũng tạo sự phấn khởi, động viên cán bộ, hội viên thực hiện nhiệm vụ. Sắp tới, sau khi thực hiện Quyết định 142 của Chính phủ, thực hiện thông báo 183 của Bộ chính trị, tiếp tục khảo sát nghiên cứu đề xuất chính sách đối với Cựu chiến binh đã tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào, Campuchia từ sau 30/4/1975 để báo cáo Bộ Chính trị cho chủ trương giải quyết chính sách đối với Cựu chiến binh đã tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế sẽ đáp ứng được nguyện vọng của Cựu chiến binh, tạo niềm tin phấn khởi về sự quan tâm của Đảng nhà nước đối với Cựu chiến binh, làm tăng thêm đồng thuận xã hội và sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 - Về xây dựng tổ chức Hội và hội viên: Số hội viên đã qua kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ ngày càng giảm theo quy luật tự nhiên (hàng năm trên hai vạn Cựu chiến binh từ trần), số còn lại tuổi cao sức yếu. Số Cựu chiến binh chống Pháp đã ở độ tuổi 70-78 tuổi trở lên, số Cựu chiến binh chống Mỹ cũng đã ở độ tuổi 60 trở lên. Số hội viên được kết nạp mới đa phần là anh chị em hoàn thành nghĩa vụ quân sự thuộc các đối tượng mới do Điều lệ Đại hội III quy định và Điều lệ Đại hội IV bổ sung. Số Hội viên mới được kết nạp tuy có nhiều cái mạnh về sức khoẻ, tuổi đời còn trẻ, được đào tạo, học tập qua nhiều trường lớp, có trí thức, nhanh nhạy với sự đổi mới và cơ chế thị trường, nhưng chưa được tôi luyện thử thách qua chiến đấu, tích luỹ kinh nghiệm trong hoạt động và đấu trang cách mạng còn hạn chế, vì vậy vấn đề đặt ra là cùng với việc phát triển về số lượng phải coi trọng việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức Hội.

- Về xây dựng Hội trong thời gian tới:

Về tổ chức nên như thế nào cho phù hợp với tình hình hiện nay, khi số Hội viên đã qua chiến đấu ngày càng giảm đi, số hội viên chưa qua chiến đấu ngày càng tăng nhưng bản chất, truyền thống, tình cảm đối với Hội Cựu chiến binh cần được trân trọng và phát huy trong thời gian tới. Vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay là tiếp tục giữ vững và phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên định, vững vàng trước mọi thử thách và diễn biến phức tạp của tình hình, dù trong hoàn cảnh nào thì Hội CCB cũng là lực lượng tuyệt đối trung thành với Đảng với chế độ XHCN, là chỗ dựa tin cậy của cấp uỷ chính quyền và nhân dân, hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng đầu của Hội là góp phần xây dựng bảo vệ Đảng, chính quyền và chế độ, cần thông qua sơ kết 5 năm thực hiện Pháp lệnh CCB, đề nghị với Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành phối hợp giải quyết những vấn đề tồn tại để Pháp lệnh CCB thực sự đi vào cuộc sống.

- Về tổ chức Hội CCB trong các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp (Hội CCB thuộc khối 487) ngày càng giảm do hội viên đến tuổi là về nghỉ hưu, số mới kết nạp vào Hội rất ít vì vậy về lâu dài Hội CCB thuộc khối 487 có tồn tại không? về tổ chức hoạt động, chế độ, chính sách của Hội CCB trong khối 487 tới đây như thế nào cho phù hợp với tình hình mới, vấn đề này còn có nhận thức và ý kiến khác nhau cần thông qua tổng kết để kiến nghị với Đảng, Nhà nước chỉ đạo các Bộ, ngành có nhận thức đúng về vai trò, vị trí và tiềm năng của Hội Cựu chiến binh trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp để quan tâm chỉ đạo về tổ chức. Đồng thời cũng thông qua tổng kết để có giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, có định hướng chỉ đạo về xây dựng, phát triển tổ chức Hội và chỉ đạo hoạt động đối với Hội Cựu chiến binh trong khối 487 cho phù hợp với tình hình mới có hiệu quả hơn.

- Về nhiệm vụ phối hợp giữa ba cơ quan:  Hội Cựu chiến binh, cơ quan quân sự, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp để vận động, tập hợp cựu quân nhân tham gia các câu lạc bộ, ban liên lạc… do cơ quan nào chủ trì cần được xác định rõ … để tiếp tục giáo dục, động viên cựu quân nhân phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, phát huy tiềm năng đa dạng phong phú của cựu quân nhân tham gia vào các phong trào, các cuộc vận động ở địa phương. Việc phối hợp giữa ba cơ quan để tập hợp cựu quân nhân nên giao cho Hội CCB chủ trì là phù hợp nhất và cần có sự hỗ trợ thêm về kinh phí, tạo điều kiện cho cựu quân nhân hoạt động có hiệu quả hơn. Cần thông qua sơ kết Nghị quyết số 09 của Bộ Chính trị, sơ kết sự phối hợp giữa ba cơ quan (quân sự, đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh) trong việc tập hợp cựu quân nhân để chỉ đạo thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho các câu lạc bộ, ban liên lạc cựu quân nhân hoạt động ngày càng có hiệu quả hơn.

 

Phần thứ ba

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

            I. Một số nét cơ bản về cơ quan Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

            1. Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế của cơ quan Trung ương Hội

            Trung ương  Hội Cựu chiến binh Việt Nam tham mưu giúp Ban Thường vụ, Ban chấp hành Trung ương Hội về công tác vận động Cựu chiến binh, Cựu quân nhân; tuyên truyền thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, nhà nước; đồng thời là cơ quan chỉ đạo, kiểm tra, tổ chức hướng dẫn thực hiện các Nghị quyết của Ban chấp hành, Thường vụ Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam đối với toàn Hội.

            Cơ quan Trung ương Hội hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng đoàn Trung ương Hội và sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Thường trực Trung ương Hội về xây dựng, thực hiện nhiệm vụ của cơ quan Trung ương Hội.

            Nghiên cứu, đề xuất với Thường vụ, Ban chấp hành Trung ương Hội về chủ trương, nhiệm vụ, kế hoạch, biện pháp công tác của Hội trong từng thời kỳ.

            Tổ chức triển khai Nghị quyết của Ban chấp hành, Thường vụ Trung ương Hội, kiểm tra nắm tình hình các đơn vị cơ sở, hướng dẫn giải quyết kịp thời những vướng mắc do thực tiễn đặt ra.

            Tổ chức quán triệt các quan điểm của Đảng đối với công tác Cựu chiến binh và bồi dưỡng về nghiệp vụ cho cán bộ Hội.

            Các ban và Văn phòng Trung ương Hội chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của các Ban Đảng, sự quản lý của các Bộ, các ngành có liên quan, quan hệ chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể Trung ương để tiếp thu sự chỉ đạo và nghiệp vụ chuyên môn công tác Hội.

            Sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm 6 tháng, 1 năm và từng chuyên đề.

            2. Tổ chức cơ quan Trung ương  Hội Cựu chiến binh Việt Nam gồm có:

- Lãnh đạo Trung ương Hội;

            - Ban Tuyên giáo;

            - Ban Tổ chức – chính sách

            - Ban Kinh tế đời sống

            - Ban kiểm tra

            - Ban Đối ngoại

            - Ban Tài chính

            - Văn phòng Trung ương Hội

            - Văn phòng trợ giúp pháp lý;

            - Đơn vị trực thuộc:      + Làng Hữu nghị Việt Nam

                                                            + Báo Cựu chiến binh Việt Nam

                                                            + Trường Trung cấp nghề Cựu chiến binh

II. Điều lệ Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Điều lệ Hội Cựu chiến binh Việt Nam được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Hội Cựu chiến binh Việt Nam thông qua ngày 13/12/2007.

CHƯƠNG I

TÍNH CHẤT, MỤC ĐÍCH CỦA HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Điều 1:

Hội Cựu chiến binh Việt Nam là một đoàn thể chính trị - xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là một cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ chức trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủ trương của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Hội.

Mục đích của Hội là tập hợp, đoàn kết, tổ chức, động viên các thế hệ Cựu chiến binh giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của Cựu chiến binh, chăm lo giúp đỡ nhau trong cuộc sống, gắn bó tình bạn chiến đấu.

CHƯƠNG II

CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Điều 2:

Hội Cựu chiến binh Việt Nam có chức năng đại diện ý chí, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng, hợp pháp của Cựu chiến binh. Hội làm tham mưu giúp cấp uỷ Đảng và làm nòng cốt tập hợp, đoàn kết, vận động Cựu chiến binh thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội của cách mạng, của Hội; tham gia giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà nước.

Điều 3:

Hội Cựu chiến binh Việt Nam có nhiệm vụ:

1. Tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa; đấu tranh chống mọi âm mưu, hoạt động chống phá hoại của các thế lực thù địch; chống các quan điểm sai trái với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tệ nạn xã hội; giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, của cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật.

2. Tham gia phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; kiến nghị với cơ quan Nhà nước, chính quyền địa phương về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến Cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh.

3. Tập hợp, đoàn kết, động viên Cựu chiến binh rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ hiểu biết đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiến thức về kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, thực hiện tốt nghĩa vụ côngdân.

T���p hợp quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ tiếp tục phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia tổ chức Câu lạc bộ, Ban liên lạc Cựu quân nhân, các phong trào cách mạng ở cơ sở.

4. Tổ chức chăm lo, giúp đỡ Cựu chiến binh nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phát triển kinh tế gia đình, xoá đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp; tổ chức hoạt động tình nghĩa để Cựu chiến binh tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.

5. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Cựu chiến binh; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tư vấn, trợ giúp pháp lý cho Cựu chiến binh.

6. Phối hợp với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan quân sự giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí tự lực, tự cường cho thế hệ trẻ.

7. Tiến hành các hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

CHƯƠNG III

HỘI VIÊN

Điều 4:

Những đối tượng được xét kết nạp vào Hội Cựu chiến binh:

- Các đồng chí đã tham gia các đơn vị vũ trang do Đảng tổ chức trước ngày Cách mạng Tháng Tám 1945.

- Các cán bộ và chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, biệt động đã tham gia kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, nay đã xuất ngũ, phục viên, chuyển ngành, nghỉ hưu.

- Các cán bộ và chiến sĩ dân quân, du kích, tự vệ đã trực tiếp tham gia chiến đấu, đội viên các đội công tác vũ trang vùng địch tạm chiếm.

- Các công nhân viên quốc phòng đã tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong thời kỳ chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc.

- Những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp hoàn thành nhiệm vụ trong Quân đội đã xuất ngũ, chuyển ngành, nghỉ hưu.

- Những hạ sĩ quan, chiến sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ tại ngũ, về định cư tại các xã, huyện miền núi, biên giới đất liền, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, địa bàn đồng bào dân tộc thiểu số.

- Những quân nhân đã hoàn thành nhiệm vụ ở tuyến đầu biên giới hải đảo.

- Những quân nhân trong quá trình làm nghĩa vụ quân sự tại ngũ có thành tích xuất sắc được Quân đội và Nhà nước khen thưởng.

-Những quân nhân được Bộ Quốc phòng đào tạo thành sĩ quan dự bị trước khi ra quân.

Những người trên đây, giữ được bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”, làm tròn nghĩa vụ công dân, tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện xin vào Hội đều được xét kết nạp vào Hội.

Việc kết nạp hội viên do tổ chức cơ sở Hội thảo luận và quyết định. Những tổ chức cơ sở có chia ra Chi hội, thì do Chi hội thảo luận xem xét, đề nghị Ban chấp hành cơ sở quyết định. Nơi có Phân hội, thì Phân hội đề nghị, báo cáo lên Chi hội xem xét và Ban chấp hành Hội cơ sở quyết định.

Điều 5:

Nhiệm vụ của hội viên:

1. Thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, gương mẫu chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.

2. Chấp hành Điều lệ, Nghị quyết của Hội, tích cực tham gia các hoạt động của Hội, thực hiện tốt các nhiệm vụ mà Hội giao cho.

3. Tích cực học tập rèn luyện, nâng cao kiến thức và giữ gìn phẩm chất, tư cách hội viên.

4. Đoàn kết tương trợ nhau trên tình đồng chí, đồng đội, nhất là khi gặp khó khăn.

5. Tuyên truyền phát triển hội viên mới, đóng hội phí, sinh hoạt trong một tổ chức cơ sở Hội và tham gia xây dựng tổ chức Hội trong sạch, vững mạnh về mọi mặt.

Điều 6:

Quyền lợi của hội viên:

1. Được thông tin, bồi dưỡng nâng cao kiến thức cần thiết theo sự phát triển của tình hình, nhiệm vụ cách mạng, tham gia các sinh hoạt, hoạt động của Hội.

2. Được giúp đỡ làm kinh tế, cải thiện đời sống theo khả năng của Hội.

3. Được Hội giúp đỡ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.

4. Thảo luận, phê bình, chất vấn, kiến nghị và biểu quyết các công việc của Hội.

5. Ứng cử, đề cử, bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Hội.

Điều 7:

Hội viên tuổi cao, thường xuyên đau yếu hoặc hoàn cảnh gia đình quá khó khăn được miễn công tác và sinh hoạt Hội trong từng thời gian, Chi hội xem xét và Ban chấp hành Hội cơ sở chuẩn y. Nơi có Phân hội, thì do Phân hội xem xét và Ban chấp hành Hội cơ sở chuẩn y.

CHƯƠNG IV

NGUYÊN TẮC VÀ HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA HỘI

Điều 8:

Hội Cựu chiến binh Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Ban chấp hành Hội các cấp do dân chủ bầu ra bằng cách bỏ phiếu kín và làm việc theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; trường hợp đặc biệt do cấp trên chỉ định; thời gian hoạt động của Ban chấp hành chỉ định không quá một năm.

Số lượng Ban chấp hành cấp nào do Đại hội cấp đó quyết định theo hướng dẫn của Ban chấp hành Trung ương Hội.

Ban chấp hành khoá mới nhận sự bàn giao từ Ban chấp hành khoá trước, điều hành công việc ngay sau khi được bầu; được công nhận chính thức khi có quyết định chuẩn y của Ban chấp hành cấp trên trực tiếp.

Việc bổ sung Uỷ viên Ban chấp hành thiếu, do Ban chấp hành đề nghị, Ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp quyết định; số lượng Uỷ viên Ban chấp hành sau khi bổ sung không vượt quá tổng số Uỷ viên Ban chấp hành do Đại hội quyết định. Khi cần thiết, Ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp được chỉ định tăng thêm một số Uỷ viên Ban chấp hành cấp dưới.

Uỷ viên Ban chấp hành Hội từ cấp tỉnh trở xuống xin rút khỏi Ban chấp hành ở cấp nào do Ban chấp hành cấp đó đề nghị, cấp trên trực tiếp quyết định. Đối với Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Hội, do Ban chấp hành Trung ương Hội quyết định.

Uỷ viên Ban chấp hành Hội các cấp khi thôi giữ các chức vụ công tác Hội thì thôi không tham gia Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh các cấp.

Điều 9:

Hệ thống tổ chức Hội có 4 cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và cấp cơ sở.

Ở những cơ quan hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp được thành lập tổ chức Hội theo hướng dẫn của Ban chấp hành Trung ương Hội.

Hội Cựu chiến binh mỗi cấp đặt dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng Cộng sản Việt Nam cùng cấp, sự chỉ đạo của Ban chấp hành Hội cấp trên, phối hợp chặt chẽ với cơ sở chính quyền, Quân đội, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân cấp đó và liên hệ gắn bó mật thiết với nhân dân.

Hội được tổ chức dựa theo hệ thống tổ chức của Đảng; tổ chức Đảng của đơn vị trực thuộc cấp uỷ nào thì tổ chức Hội của đơn vị cũng trực thuộc tổ chức Hội cấp tương ứng.

 

 

Điều 10:

 

Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là Đại hội đại biểu hoặc Đại hội toàn thể hội viên.

Đại hội cấp nào do Ban chấp hành cấp đó triệu tập theo kỳ hạn quy định. Khi Ban chấp hành xét thấy cần thiết hoặc khi có hơn 1 phần 2 số tổ chức Hội trực thuộc yêu cầu và được Ban chấp hành cấp trên trực tiếp đồng ý thì triệu tập Đại hội bất thường.

Đại biểu dự Đại hội gồm đại biểu do bầu cử từ cấp dưới lên và các Uỷ viên Ban chấp hành cấp triệu tập Đại hội.

Khi cần thiết Ban chấp hành triệu tập Đại hội được chỉ định một số đại biểu, không quá 5% tổng số đại biểu.

Sau khi Ban chấp hành mới được bầu ra, Đoàn Chủ tịch Đại hội uỷ nhiệm từ 1 đến 3 trong số các Uỷ viên được bầu, làm nhiệm vụ triệu tập Ban chấp hành mới họp phiên đầu tiên để bầu ra Ban Thường vụ, bầu ra Chủ tịch, các Phó chủ tịch ( trong Ban Thường vụ) và bầu ra Ban Kiểm tra. Số lượng Uỷ viên Ban Thường vụ không quá 1 phần 3 số lượng Uỷ viên Ban chấp hành.

Điều 11:

Đại hội đại biểu toàn quốc của Hội 5 năm họp 1 lần, có nhiệm vụ: đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của nhiệm kỳ vừa qua, quyết định phương hướng nhiệm vụ, chương trình công tác nhiệm kỳ tới, sửa đổi, bổ sung Điều lệ Hội và bầu Ban chấp hành Trung ương Hội.

Ban chấp hành Trung ương Hội có nhiệm vụ: tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội, xây dựng và định hướng nội dung hoạt động, chỉ đạo các chương trình, kế hoạch hoạt động về các mặt công tác của Hội giữa hai kỳ Đại hội. Ban chấp hành Trung ương Hội đại diện cho Hội quan hệ với các cơ quan Nhà nước, với các ban, ngành, các đoàn thể ở Trung ương, với các tổ chức xã hội trong và ngoài nước.

Ban chấp hành Trung ương bầu ra Ban Thường vụ, Chủ tịch, các Phó chủ tịch và Ban Kiểm tra của Hội. Số lượng Ban Thường vụ và Ban Kiểm tra do Ban chấp hành Trung ương quyết định.

Ban chấp hành Trung ương họp thường lệ 6 tháng một lần, họp bất thường khi cần. Ban Thường vụ họp thường lệ 3 tháng một lần, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện Nghị quyết của Ban chấp hành. Chủ tịch, các Phó chủ tịch là bộ phận thay mặt Ban Thường vụ điều hành công tác thường xuyên của Hội.

Khi khuyết Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương thì hội nghị Ban chấp hành Trung ương bầu cử bổ sung cho đủ số lượng do Đại hội đại biểu toàn quốc đã quyết định.

Trường hợp cần tăng thêm Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương thì do hội nghị Ban chấp hành Trung ương Hội quyết định.

Điều 12:

Đại hội đại biểu Hội Cựu chiến binh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 5 năm họp một lần, có nhiệm vụ: thảo luận văn kiện của Ban chấp hành Hội cấp trên, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết nhiệm kỳ vừa qua, quyết định nhiệm vụ nhiệm kỳ tới, bầu Ban chấp hành, bầu đại biểu đi dự Đại hội cấp trên.

Ban chấp hành Hội tỉnh, thành phố có nhiệm vụ: thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc, Nghị quyết, chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương Hội và Nghị quyết của Đại hội cấp mình, tham gia xây dựng và cụ thể hoá các Nghị quyết, chương trình, phong trào của Hội, chỉ đạo công tác của Hội ở địa phương giữa hai kỳ Đại hội, đại diện cho Hội quan hệ với các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội ở tỉnh, thành phố.

Ban chấp hành Hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bầu ra Ban Thường vụ, Chủ tịch, các Phó chủ tịch và bầu Ban Kiểm tra.

Ban chấp hành họp thường lệ 6 tháng một lần, họp bất thường khi cần. Ban Thường vụ họp 3 tháng một lần. Chủ tịch, các Phó chủ tịch là bộ phận thay mặt Ban Thường vụ điều hành công tác thường xuyên của Hội.

Điều 13:

Đại hội đại biểu Hội Cựu chiến binh huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị tương đương 5 năm họp một lần, có nhiệm vụ: thảo luận văn kiện của Ban chấp hành Hội cấp trên, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết nhiệm kỳ vừa qua, quyết định nhiệm vụ nhiệm kỳ tới, bầu Ban chấp hành, bầu đại biểu đi dự Đại hội cấp trên.

Ban chấp hành Hội huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có nhiệm vụ: tổ chức thực hiện Nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và Nghị quyết của Đại hội cấp mình, hướng dẫn các tổ chức cơ sở thực hiện các nhiệm vụ, chương trình, phong trào của Hội, chỉ đạo công tác Hội ở địa phương giữa hai kỳ Đại hội, phối hợp với các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội trong các hoạt động chính trị ở địa phương.

Ban chấp hành huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và các đơn vị tương đương bầu ra Ban Thường vụ, Chủ tịch, 2 Phó chủ tịch và bầu Ban Kiểm tra.

Ban chấp hành họp thường lệ 3 tháng một lần, họp bất thường khi cần. Những địa bàn có khó khăn đặc biệt, họp thường lệ 6 tháng 1 lần, do Ban chấp hành Trung ương Hội hướng dẫn. Ban Thường vụ họp 1 tháng 1 lần. Chủ tịch, các Phó chủ tịch là bộ phận thay mặt Ban Thường vụ điều hành công tác thường xuyên của Hội.

Điều 14:

Tổ chức Hội cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được thành lập cơ quan giúp việc theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương Đảng và Thường vụ Trung ương Hội.

Điều 15:

Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh các cấp cần quan hệ chặt chẽ với các Ban liên lạc truyền thống đơn vị, chiến trường và các hình thức tập hợp Cựu chiến binh hợp pháp khác nhằm phát huy hiệu quả hoạt động của Hội trong đông đảo Cựu chiến binh.

Đối với những quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về(không thuộc đối tượng kết nạp vào Hội) Hội Cựu chiến binh phối hợp với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cơ quan quân sự địa phương, các ngành chức năng cùng cấp bằng các hình thức thích hợp, tập hợp, bồi dưỡng, động viên anh chị em phát huy vai trò tích cực của Cựu quân nhân trong các phong trào, các cuộc vận động ở cơ sở.

CHƯƠNG V

TỔ CHỨC CƠ SỞ CỦA HỘI

Điều 16:

Tổ chức cơ sở Hội là nền tảng của Hội.

Ở các xã, phường, thị trấn, các cơ quan hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp được thành lập tổ chức cơ sở Hội.

Tổ chức cơ sở là nơi tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Hội, của địa phương và của cơ quan, đơn vị, có nhiệm vụ:

- Tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, thực hiện pháp lệnh về dân chủ ở xã, phường; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia giám sát và phản biện xã hội; giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở.

- Bồi dưỡng về phẩm chất và năng lực cho hội viên.

- Hướng dẫn hoạt động của hội viên và vận động Cựu chiến binh thực hiện các nhiệm vụ, các chương trình, phong trào của Hội.

- Chủ động phối hợp với các ngành, đoàn thể thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh ở cơ sở.

- Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho hội viên, tổ chức giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, phát triển kinh tế gia đình.

- Xây dựng tổ chức Hội cơ sở vững mạnh.

Các tổ chức cơ sở Hội ở cơ quan hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp có nhiệm vụ:

Tập hợp, đoàn kết, hướng dẫn, động viên Cựu chiến binh giữ gìn và phát huy bản chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”; nâng cao ý thức trách nhiệm chính trị, tích cực góp phần xây dựng và thực hiện các chương trình kế hoạch công tác, sản xuất, kinh doanh của cơ quan đơn vị; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ quan đơn vị; gương mẫu chấp hành các quy tắc chế độ công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ chức trách người cán bộ, công nhân viên chức; chăm lo giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất.

Điều 17:

Đại hội đại biểu hoặc Đại hội toàn thể hội viên ở cơ sở xã, phường, thị trấn và các cơ sở khác 5 năm họp 1 lần, có nhiệm vụ: thảo luận văn kiện của Ban chấp hành cấp trên, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết nhiệm kỳ vừa qua, quyết định nhiệm vụ nhiệm kỳ tới, bầu Ban chấp hành, bầu đại biểu đi dự Đại hội cấp trên.

Ban chấp hành Hội cơ sở tổ chức thực hiện Nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và Nghị quyết của Đại hội cấp mình, chỉ đạo công tác ở cơ sở giữa 2 nhiệm kỳ Đại hội.

Ban chấp hành Hội cơ sở có từ 9 Uỷ viên trở lên bầu ra Ban Thường vụ, bầu Chủ tịch, Phó chủ tịch và Ban Kiểm tra do Phó chủ tịch kiêm Trưởng Ban Kiểm tra; dưới 9 Uỷ viên chỉ bầu Chủ tịch, Phó chủ tịch kiêm phụ trách kiểm tra.

Ban chấp hành Hội cơ sở nơi có Ban Thường vụ, họp thường lệ 3 tháng 1 lần, họp bất thường khi cần. Ban Thường vụ họp thường lệ 1 tháng 1 lần, điều hành công tác của Hội giữa 2 kỳ họp Ban chấp hành. Ban chấp hành Hội cơ sở nơi không có Ban Thường vụ, họp thường lệ 1 tháng 1 lần, họp bất thường khi cần.

Điều 18:

Những tổ chức cơ sở đông hội viên hoặc địa bàn quá rộng, được thành lập ra các Chi hội và dưới Chi hội là Phân hội, tạo thuận lợi cho sinh hoạt, công tác và thăm hỏi giúp đỡ nhau. Chi hội và Phân hội bầu ra Chi hội trưởng, Phân hội trưởng. Nơi có đông hội viên, có nhiều Phân hội, bầu ra 1 hoặc nhiều Chi hội phó.

Phân hội, Chi hội (nơi không chia ra Phân hội) sinh hoạt thường kỳ từ 1 đến 3 tháng 1 lần.

CHƯƠNG VI

CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA HỘI VÀ BAN KIỂM TRA CÁC CẤP

Điều 19:

Kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo, một nhiệm vụ công tác của tổ chức Hội các cấp. Ban chấp hành các cấp Hội phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát các tổ chức Hội cấp dưới và hội viên về chấp hành Điều lệ, chỉ thị, Nghị quyết của Hội.

Tổ chức Hội và hội viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Hội.

Ban chấp hành Hội các cấp bầu ra Ban Kiểm tra cấp mình. Số lượng Uỷ viên Ban Kiểm tra do Ban chấp hành mỗi cấp quy định, trong đó có 1 phần 3 là Uỷ viên Ban chấp hành.

Điều 20:

Ban Kiểm tra các cấp chịu sự lãnh đạo của Ban chấp hành cấp mình và sự chỉ đạo của Ban Kiểm tra cấp trên, làm việc theo chế độ tập thể.

Ban Kiểm tra các cấp có nhiệm vụ:

- Kiểm tra hội viên, Uỷ viên Ban chấp hành Hội cùng cấp, tổ chức Hội cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành nhiệm vụ hội viên, nhiệm vụ Uỷ viên Ban chấp hành, trong việc chấp hành Điều lệ, chỉ thị, Nghị quyết của Hội và trong việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản của Hội.

- Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra và xử lý kỷ luật trong nội bộ Hội của tổ chức Hội cấp dưới.

- Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, đề nghị Ban chấp hành quyết định hình thức xử lý.

- Giám sát Uỷ viên Ban chấp hành cùng cấp, Hội CCB cấp dưới trong việc chấp hành Điều lệ, tổ chức thực hiện chỉ thị, Nghị quyết của Hội.

- Tiếp nhận, xem xét, kiến nghị với Ban chấp hành giải quyết khiếu nại, tố cáo của hội viên và của nhân dân có liên quan đến hội viên và tổ chức Hội.

Ban Kiểm tra được quyền yêu cầu tổ chức Hội cấp dưới và hội viên báo cáo, cung cấp tài liệu về những vấn đề có liên quan đến nội dung kiểm tra.

CHƯƠNG VII

KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT

Điều 21:

Hội viên và tổ chức Hội có nhiều thành tích được các cấp Hội xét khen thưởng theo Luật Thi đua khen thưởng và hướng dẫn của Ban chấp hành Trung ương Hội và của Nhà nước.

Điều 22:

Những hội viên và tổ chức Hội làm trái Điều lệ, Nghị quyết của Hội, làm tổn hại đến uy tín và tài sản của Hội thì tuỳ tính chất, mức độ sai lầm mà áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật sau đây:

Đối với hội viên: khiển trách, cảnh cáo, khai trừ khỏi Hội.

Những hội viên bỏ sinh hoạt Hội, không đóng hội phí liên tục từ 1 năm trở lên, mà không có lý do chính đáng, thì xoá tên trong danh sách hội viên.

Đối với Uỷ viên Ban chấp hành: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ khỏi Hội.

Đối với tổ chức Hội: khiển trách, cảnh cáo.

Việc xử lý kỷ luật hội viên phải được Chi hội thảo luận, biểu quyết với sự đồng ý của quá 1 phần 2 tổng số hội viên, Ban chấp hành Hội cơ sở xem xét quyết định. Với hình thức khai trừ khỏi Hội phải được Chi hội biểu quyết với sự đồng ý của 2 phần 3 tổng số hội viên, Ban chấp hành Hội cơ sở xem xét, quyết định.

Xử lý kỷ luật 1 Uỷ viên Ban chấp hành Hội cấp nào do hội nghị Ban chấp hành cấp ấy thảo luận, biểu quyết với sự đồng ý của quá 1 phần 2 tổng số Uỷ viên Ban chấp hành, Ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp chuẩn y. Xử lý kỷ luật 1 Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Hội do hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương quyết định.

Xử lý kỷ luật 1 tổ chức Hội với hình thức khiển trách, cảnh cáo do Ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp quyết định. Trường hợp đặc biệt cần áp dụng hình thức xử lý kỷ luật cao hơn do sai phạm nghiêm trọng, thì do Ban chấp hành Hội cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên xem xét quyết định.

CHƯƠNG VIII

TÀI CHÍNH CỦA HỘI

Điều 23:

Tài chính của Hội gồm các nguồn:

- Ngân sách Nhà nước cấp.

- Hội phí do hội viên đóng.

- Tiền ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và các khoản thu hợp pháp khác. Tài chính, ngân sách ở cấp nào do cấp ấy tự quản, có tài khoản riêng và chịu sự kiểm tra của cơ quan Nhà nước theo luật định. Ban chấp hành Trung ương Hội quy định mức đóng hội phí, chế độ thu nộp và sử dụng.

Hàng năm hội nghị Ban chấp hành nghe báo cáo về thu, chi hội phí của cấp mình.

CHƯƠNG IX

CHẤP HÀNH ĐIỀU LỆ HỘI

Điều 24:

Mọi hội viên và tổ chức Hội có trách nhiệm chấp hành Điều lệ Hội.

Ban chấp hành Trung ương Hội có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Điều lệ Hội.

Điều 25:

Chỉ có Đại hội đại biểu toàn quốc mới có quyền sửa đổi Điều lệ Hội.

III. Tổ chức của Cựu chiến binh ở một số quốc gia

1. Hàn Quốc 

Bộ Cựu chiến binh và những người yêu nước Hàn Quốc

Hội Cựu chiến binh thương tật Hàn Quốc

2. Lào

Hiệp hội Cựu chiến binh quốc gia Lào

3. Campuchia

Hội Cựu chiến binh Campuchia

5. Môdămbích

Hội Chiến sĩ giải phóng dân tộc Mô – dăm – bích (ACLLN)

6. Mỹ

Bộ Cựu chiến binh Mỹ

7. Nga

Uỷ ban Liên bang Nga về Cựu chiến binh

8. Pháp

Hội Cựu chiến binh Pháp

9. Úc

Hội Cựu chiến binh bang New South Wales

10. Cuba

Hội Các Chiến sĩ cách mạng Cuba

11. Thái Lan

Hội Cựu chiến binh chiến tranh Thái Lan

12. New Zealand

Bộ Cựu chiến binh New Zealand

13. Inđônêxia

Hiệp hội Cựu chiến binh Inđônêxia

14. Malayxia

Hội Cựu chiến binh Malayxia

15. Philippines

Liên đoàn Cựu chiến binh Philippines

16. Singapore

Hội Cựu chiến binh Singapore

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)