Chủ yếu việc hoàn thuế của cơ quan thuế hiện nay được thực hiện theo đề nghị của doanh nghiệp, sau đó mới tiến hành kiểm tra sau hoàn thuế (hậu kiểm). Tuy nhiên, những quy định về hoàn thuế trong Thông tư 120 vẫn còn những điểm cần được nghiên cứu hoàn thiện.

Nhiều điểm vênh giữa ví dụ và quy định.

Trước hết quy định về căn cứ hoàn thuế ví dụ chưa thống nhất quy phạm. Tại điểm 2, mục I, phần D, thông tư 120 quy định: ‘‘Đối với cơ sở kinh doanh có đầu tư mới đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế...được xét hoàn thuế đầu vào theo từng năm. Số thuế GTGT đầu vào của tài sản đầu tư được hoàn có giá trị lớn từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế từng quý’‘. Với quy định tại điểm này thì số thuế của tài sản đầu tư có giá trị lớn được xác định là từ 200 triệu đồng trở lên. Tuy nhiên tại ví dụ 1 minh hoạ quy định tại điểm 2 này thì lại giải thích khác đi. Số thuế GTGT đầu vào của tài sản đầu tư có giá trị lớn phải là số thuế lớn hơn 200 triệu đồng thì doanh nghiệp có thể đề nghị hoàn thuế từng quý’‘. Xét về bản chất thì quy định ‘‘từ 200 triệu đồng trở lên’‘ khác hoàn toàn so với quy định ‘‘lớn hơn 200 triệu đồng’‘. Đây là sai sót quá đơn giản, thông thường, không nên tồn tại trong một văn bản quy phạm pháp luật. Tiếp đến ví dụ chưa rõ ràng, chưa bao hàm hết các quy phạm: theo quy định tại điểm 6, mục I, phần D, thông tư 120 thì: Trong trường hợp các nhà thầu chính thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế cung cấp các hàng hoá, dịch vụ theo giá không có thuế GTGT cho chủ dự án sử dụng vốn ODA không được NSNN bố trí vốn đối ứng để thanh toán tiền thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án. Thì nhà thầu chính được ‘‘tính khấu trừ, hoàn thuế GTGT’‘ đầu vào của hàng hoá, dịch vụ đã cung cấp cho dự án.

.Luật sư tư vấn luật thuế qua điện thoại gọi:  1900 6162

Luật sư tư vấn luật thuế qua điện thoại gọi:  1900 6162

Theo ví dụ 1, điểm này thì.....Công ty A được khấu trừ thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, vật tư mua vào phục vụ cho xây dựng dự án công trình B. Đối chiếu giữa ví dụ và quy định ta thấy: Quy định thì cho khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào, ví dụ thì chi cho khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào. Xét về mặt bản chất của vấn đề thì trong trường hợp này có những điểm khác biệt.

Ví dụ chưa mang tính logich: Tại ví dụ 2: lấy giả thiết là công trình của dự án C, mà chủ dự án lại là chủ dự án B, theo chúng tôi cách trình bày một ví dụ minh hoạ cho quy phạm như trong ví dụ này còn thiếu tính logích, chưa khoa học cần được nghiên cứu. Theo ý kiến của chúng tôi, nếu giả thiết là công trình của dự án C, thì chủ dự án phải là chủ dự án C thì tính logích sẽ cao hơn, người đọc dễ hình dung, dễ hiểu hơn.

Quy định về nguyên tắc thực hiện hoàn thuế mang tính xung đột.

Theo quy định tại Mục I phần D, thông tư 120 thì: ‘‘Các cơ sở kinh doanh, tổ chức thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT theo quy định tại Mục I, phần D, thông tư 120 phải là đối tượng đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ( giấy phép đầu tư) có con dấu, lưu giữ sổ sách, chứng từ kế toán theo chế độ quy định và có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng.

Với quy định này thì chỉ đúng với các cơ sở sản xuất kinh doanh. Còn không phù hợp đối với các trường hợp hoàn thuế GTGT đã trả đối với các dự án sử dụng vốn ODA, trường hợp sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá tại Việt Nam để viện trợ. Bởi vì: Chủ dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại có thể là các Bộ, các Sở, ban, ngành là các cơ quan hành chính sự nghiệp, các tiểu ban quản lý, không pahỉ là cơ sở kinh doanh do đó không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, không có giấy phép đầu tư mà chỉ có quyết định đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (quy định ở phần hồ sơ hoàn thuế GTGT, điểm 4, Mục II, phần D thông tư 120). Mặt khác, cơ quan tổ chức như Hội chữ thập đỏ, Sở lao động - thương binh và xã hội....sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá tại Việt Nam để viện trợ thuộc đối tượng hoàn thuế GTGT. Những trường hợp này cơ quan xin hoàn thuế không phải là cơ sở kinh doanh do đó không có giấy phép đăng ký kinh doanh, không có quyết định đầu tư nhưng vấn thuộc đối tượng được hoàn thuế.

Quy định về đối tượng được hoàn thuế chưa rõ ràng

Theo quy định tại điểm 3 mục I, phần D, thông tư 120 thì : Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có dự án đầu tư của cơ sở sản xuất kinh doanh đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, có số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho dự án đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên được xét hoàn thuế theo quý. Cơ sở kinh doanh phải kê khai, lập hồ sơ hoàn thuế riêng cho dự án đầu tư.

Đối chiếu với nguyên tắc thực hiện hoàn thuế tại Mục I, phần D, thông tư 120 thì quy định này không mang tính khả thi. Bởi vì một nguyên tắc cơ bản nếu muốn hoàn thuế cho cơ sở sản xuất kinh doanh nào thì đối tượng đó phải có mã số thuế để quản lý số thuế được hoàn. Không đăng ký nộp thuế thì không thể có mã số thuế để thực hiện quyết định hoàn thuế, không có mã số thuế thì hoá đơn chứng từ mua bán hàng hoá dịch vụ đầu vào của dự án đầu tư liệu có hợp pháp không để thực hiện hoàn thuế theo nguyên tắc chung.

Mẫu quyết định hoàn thuế chưa chuẩn xác

Việc ra quyết định hoàn thuế ở cấp cục thuế được thực hiện theo mẫu quy định. Mẫu số 13/GTGT ban hành kèm theo thông tư 120. Nếu là mẫu quyết định để hướng dẫn thực hiện thì phải chuẩn xác, tuy nhiên qua xem xét mẫu số 13/GTGT chúng tôi nhận thấy mẫu này còn quá nhiều điểm sai sót cần phải chỉnh sửa lại. Cụ thể như:

Mẫu quyết định hoàn thuế chưa chuẩn xác

Việc ra quyết định hoàn thuế ở cấp cục thuế được thực hiện theo mẫu quy định. Mẫu số 13/GTGT ban hành kèm theo Thông tư 120. Nếu là mẫu quyết định để hướng dẫn thực hiện thì phải chuẩn xác, tuy nhiên qua xem xét mẫu số 13/GTGT chúng tôi nhận thấy mẫu này còn quá nhiều điểm sai sót cần phải chỉnh sửa lại. Cụ thể như:

Phần căn cứ ra quyết định theo mẫu đã lạc hậu, thiếu chính xác. Lạc hậu đó còn là việc trích dẫn vào Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000; thiếu chính xác đó là thay vì viện dẫn căn cứ Thông tư 120 thì lại viện dẫn căn cứ thông tư 125/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính. Với mẫu này trong thực tiễn không phải là không có những quyết định hoàn thuế của một cục thuế nào đó, còn phần căn cứ giống hết như mẫu này. Khi đó kết luận sai cũng dở, mặc dù căn cứ ra quyết định theo mẫu này là không phù hợp.

Tại điều 3, mẫu quyết định quy định các đối tượng phải thực hiện quyết định còn chưa theo kịp với quy định hiện nay. Cụ thể như, theo cơ cấu tổ chức bộ máy mới của ngành thuế thì không còn phòng Kế hoạch - Kế toán thống kê, máy tính vậy quyết định hoàn thuế giao cho phòng nào?. Với quy định này trong thực tiễn hoạt động mỗi nơi sẽ làm một khác trong việc gửi quyết định hoàn thuế, dẫn đến hiện tượng không đồng bộ thiếu thống nhất

(Nguồn: Báo Thời báo tài chính Việt nam số 30 ngày 10/3/2004)

(LUATMINHKHUE.VN: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)