Nguyễn Văn Phụng - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính;

Ngô Thị Nhung  - Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính;

Huỳnh Vương Nam  - Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính;

Nguyễn Thị Việt Anh  - Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính.

 

 

 

 Biên soạn phần thứ hai -  Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước:

  1. Ngô Thị Nhung -  Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính;
  2. Nguyễn Thị Hoàng Yến - Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính;
  3. Nguyễn Thị Việt Anh - Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính;
  4. Nguyễn Tân Thịnh  - Cục Quản lý công sản, Bộ Tài chính.
  5. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

    Luật sư tư vấn luật thuế qua điện thoại gọi: 1900 6162

  6. --------------------------------------------

Phần thứ nhất

LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

 

            A. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

 

I. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

1. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuỳ thuộc vào bản chất của Nhà nước và cách thức Nhà nước sử dụng, các nhà kinh tế có nhiều quan điểm về thuế khác nhau.

Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp.

            Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế. Hiện nay ở các nước phát triển, thuế thu nhập doanh nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách Nhà nước và thực hiện phân phối thu nhập. Mức thuế cao hay thấp áp dụng cho các chủ thể thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là khác nhau, điều đó phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong phân phối thu nhập của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.

            Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời bắt nguồn từ các lý do chủ yếu sau:

            - Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời bắt nguồn từ yêu cầu thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội.

            - Sự ra đời của thuế thu nhập doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu tài chính của Nhà nước.

            Ở Việt Nam, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức.

     Cùng với công cuộc cải cách thuế bước I năm 1990, Luật thuế lợi tức đã được ban hành. Tuy nhiên, qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới: giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã được ban hành nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới.

            2. Vị trí, vai trò của Thuế thu nhập doanh nghiệp

            2.1. Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội.

     Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, tất cả các thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đằng trên cơ sở pháp luật. Các doanh nghiệp với lực lượng lao động có tay nghề cao, năng lực tài chính mạnh thì doanh nghiệp đó sẽ có ưu thế và có cơ hội để nhận được thu nhập cao; ngược lại các doanh nghiệp với năng lực tài chính, lực lượng lao động bị hạn chế sẽ nhận được thu nhập thấp, thậm chí không có thu nhập. Ðể hạn chế nhược điểm đó, Nhà nước sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào ngân sách Nhà nước được công bằng, hợp lý.

·           2.2. Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước.

            Phạm vi áp dụng của thuế thu nhập doanh nghiệp là các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hoạt động sản xuất, kinh doanh có phát sinh lợi nhuận. Nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng phát triển và ổn định, tăng trưởng kinh tế được giữ vững ngày càng cao, các doanh nghiệp càng phát triển cả về số lượng cũng như quy mô tổ chức, năng lực quản lý, tài chính và phạm vi hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp ngày càng dồi dào.

·           2.3. Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện của Nhà nước.

            Xuất phát từ bản chất và chức năng của mình nên thuế (trong đó có thuế thu nhập doanh nghiệp) được sử dụng làm công cụ để phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội. Trong quá trình phát triển kinh tế, thuế thường được sử dụng để khuyến khích đầu tư, góp phần thúc đẩy sản xuất. Thuế suất hợp lý và các ưu đãi về thuế trong đầu tư có tác động rất lớn đối với các quyết định đầu tư mới hay mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Trên thực tế, nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt nam, thuế được sử dụng với những thuế suất ưu đãi hợp lý, có thời hạn nhằm khuyến khích sự phát triển của các ngành nghề cần khuyến khích phát triển như ngành công nghiệp cơ khí, công nghệ cao, chế biến nông sản v.v, hay thu hút đầu tư vào những vùng có khó khăn để đảm bảo sự phát triển đồng đều, tạo sự công bằng giữa các vùng trong quốc gia đối với các thành quả của tăng trưởng kinh tế. Các ưu đãi đó thường được áp dụng dưới hình thức miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hay một số loại thuế khác trong một thời hạn nhất định sau đầu tư, hay áp dụng thuế suất khác nhau tuỳ theo vùng hoặc ngành nghề.

            Đối với các doanh nghiệp, vấn đề thu hồi vốn nhanh từ các dự án đầu tư là điều hết sức quan trọng, do vậy để khuyến khích doanh nghiệp đồng thời hạn chế tình trạng lạm dụng khấu trừ thuế, có thể áp dụng biện pháp khuyến khích thay thế thông qua việc cho phép khấu hao nhanh tài sản. Về bản chất khấu hao nhanh không làm tăng giá trị được khấu hao so với giá trị ban đầu của tài sản. Mặt khác, đây là biện pháp ít tốn kém nhất, vì số thu ngân sách bị giảm trong những năm đầu sẽ được bù đắp lại trong những năm còn lại của quá trình khấu hao. Hơn nữa khấu hao nhanh còn khuyến khích và tạo thuận lợi về mặt vốn các nhà đầu tư triển khai ngay các dự án đầu tư trong tương lai. 

            Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò hết sức quan trọng ở cả những nước phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển do khu vực này đảm bảo công ăn việc làm cho một tỷ lệ lớn lực lượng lao động, mặt khác xuất phát từ bản chất linh hoạt vốn có, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ có thế mạnh là đổi mới kỹ thuật công nghệ nhanh, đóng vai trò vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, tạo nên một mạng lưới sản xuất vững chắc, ổn định trong nền kinh tế. Để phát triển khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách thuế có vai trò hết sức quan trọng, vừa có tính chất bà đỡ vừa mang vai trò hướng dẫn cho sự phát triển của các doanh nghiệp này. Hạn chế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là hạn chế về qui mô vốn, khó tiếp cận nguồn tín dụng, qui mô sản xuất nhỏ lẻ. Do đó, chính sách thuế với những ưu đãi, miễn, giảm thoả đáng (như miễn thuế cho các cơ sở đào nghề cho người lao động, nghiên cứu áp dụng thuế suất ưu đãi cho các doanh  nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp ở vùng có khó khăn, sử dụng nhiều lao động thủ công hoặc áp dụng các công nghệ mới, sản xuất ra các sản phẩm có tính năng công nghệ cao, hay có tính xã hội lớn) có tác động rất lớn đối với việc khuyến khích, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh của các doạnh nghiệp này.

II. KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

1. Những kết quả đạt được

Từ ngày 01/10/1990, Luật Thuế lợi tức đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990 có hiệu lực thi hành, theo đó tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế có lợi tức từ các hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ và hoạt động kinh doanh khác trên lãnh thổ Việt Nam (gọi chung là cơ sở kinh doanh) đều phải nộp thuế lợi tức theo quy định của Luật này.

Từ ngày 01/01/1999, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 10/5/1997 có hiệu lực thi hành, theo đó tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (dưới đây gọi chung là cơ sở kinh doanh) có thu nhập đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ đối tượng quy định tại Điều 2 của Luật này.

Sau gần 5 năm thực hiện, Luật này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần phải được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu, đòi hỏi của thực tế lúc bấy giờ. Do đó, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật thuế TNDN (sửa đổi) năm 2003. Mục tiêu của lần sửa đổi này là: Thống nhất điều chỉnh giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, tiếp tục ưu đãi theo hướng thuận lợi hơn trước nhằm tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn hơn, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Qua 4 năm thực hiện, Luật thuế TNDN (sửa đổi) năm 2003 đã đạt được mục tiêu sửa đổi đề ra và đánh dấu bước ngoặt quan trọng về cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh, đồng thời đảm bảo nguồn động viên nhằm đáp ứng nhu cầu chi NSNN cho phát triển và bảo vệ đất nước. Cụ thể:

(1) Góp phần tạo môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn và đảm bảo bình đẳng đối với mọi thành phần kinh tế:

- Trước khi Luật Thuế TNDN (sửa đổi) năm 2003 có hiệu lực thi hành, thuế suất thuế TNDN có phân biệt đối với từng thành phần kinh tế:

+ Doanh nghiệp trong nước áp dụng thuế suất thuế TNDN là 32%. Đối với doanh nghiệp kinh doanh có thu nhập cao do lợi thế khách quan mang lại, phần thu nhập còn lại sau khi nộp thuế TNDN phải nộp thuế TNDN bổ sung với thuế suất là 25%;

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng thuế suất thuế TNDN 25%, đồng thời có quy định thu thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (3%, 5%, 7%) áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.

Luật Thuế TNDN (sửa đổi) năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004 đã bỏ thuế TNDN bổ sung đối với doanh nghiệp trong nước và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, thực hiện một mức thuế suất thuế TNDN 28% thống nhất đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Việc giảm mức thuế suất thuế TNDN phổ thông từ 32% xuống 28% và bãi bỏ thuế TNDN bổ sung đối với các doanh nghiệp đầu tư trong nước tuy làm giảm đáng kể nghĩa vụ đóng góp của nhiều doanh nghiệp nhưng đã có tác động khuyến khích kinh doanh và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tăng tích luỹ, tích tụ, trên cơ sở đó có thêm nguồn lực để tăng đầu tư vào nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng. Cùng với việc gia tăng số lượng doanh nghiệp mới thành lập, nhiều doanh nghiệp đang hoạt động cũng thực hiện đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực kinh doanh, tạo thêm việc làm cho xã hội. Vốn đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng từ 29,7% năm 2003 lên 30,9% năm 2004 và đạt 32,2% năm 2005.

Đối với đầu tư nước ngoài, mặc dù mức thuế suất thuế TNDN tăng từ 25% lên 28% nhưng do không phải nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài đồng thời với chính sách thống nhất và bình đẳng nên môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn hơn nhiều so với trước. Vì vậy, từ năm 2004 đến nay, dòng vốn đầu tư nước ngoài không ngừng tăng lên: năm 2004 là 4,6 tỷ USD, năm 2005 là 5,8 tỷ USD, năm 2006 là 10,2 tỷ USD, năm 2007 vốn đăng ký dự kiến đạt trên 20 tỷ USD, trong đó công nghiệp là lĩnh vực thu hút lượng vốn lớn nhất (năm 2007 chiếm khoảng 50% vốn đăng ký).

- Luật Thuế TNDN (sửa đổi) năm 2003 đã thống nhất áp dụng mức ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:

Trước khi Luật Thuế TNDN (sửa đổi) 2003 có hiệu lực thi hành, doanh nghiệp trong nước áp dụng ưu đãi thuế TNDN theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng ưu đãi thuế TNDN theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Luật Thuế TNDN (sửa đổi) 2003 đã thống nhất điều kiện, mức ưu đãi, thời gian ưu đãi đối với cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng lựa chọn mức ưu đãi cao nhất, thuận lợi nhất của Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm thu hút vốn đầu tư vào những ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn theo định hướng của nhà nước.

Việc quy định nghĩa vụ thuế và ưu đãi thuế TNDN áp dụng thống nhất cho cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vừa tạo ra sự bình đẳng về nghĩa vụ thuế cho tất cả các nhà đầu tư, vừa tạo dựng được môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và là một bước tiến quan trọng trong lộ trình hướng tới xây dựng một mặt bằng pháp lý chung cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.

Nhìn chung Luật thuế TNDN năm 2003 về cơ bản đã đáp ứng được mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh và góp phần thu hút vốn đầu tư. Nếu tỉ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so GDP năm 2003 đạt 35,5% thì năm 2004 đạt 36,2%, năm 2005 đạt 39,8%, năm 2006 đạt 40,9% và dự kiến 2007 khoảng 40,4%.

(2) Góp phần đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước:

Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng của NSNN. Từ năm 2004 đến năm 2007, mặc dù có sự điều chỉnh giảm mức động viên thuế suất từ 32% xuống còn 28% nhưng số thu thuế TNDN hàng năm vẫn đảm bảo tăng trưởng là do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

- Số lượng doanh nghiệp, quy mô đầu tư đều tăng do môi trường đầu tư hấp dẫn (Luật thuế TNDN được sửa đổi đã tạo môi trường đầu tư thông thoáng và hấp dẫn hơn).

- Cùng với việc giảm thuế suất, các quy định về căn cứ tính thuế được quy định rõ ràng, minh bạch hơn trước đã tạo điều kiện và khuyến khích các doanh nghiệp tự giác hạch toán, kê khai đầy đủ  rõ ràng.

- Các quy định về xử phạt, cũng như các biện pháp chế tài đã từng bước hoàn thiện, góp phần tạo điều kiện cho cơ quan thuế tăng cường kiểm tra giám sát, cũng như chống thất thu cho NSNN.

Theo số liệu thống kê, số thu thuế TNDN (không kể thu thuế TNDN từ dầu khí) vẫn tiếp tục tăng qua các năm: năm 2003 thu 21.147 tỷ đồng; năm 2004 thu 24.201 tỷ đồng; năm 2005 thu 28.729 tỷ đồng; năm 2006 thu 33.663 tỷ đồng; năm 2007 thu 39.469 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân hàng năm gần 17% (tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế). Số liệu chi tiết như sau :

Tóm lại, trong điều kiện nguồn thu từ thuế nhập khẩu giảm dần, sự ổn định về nguồn thu thuế TNDN cùng với các nguồn thu quan trọng khác đã góp phần bảo đảm số thu cho NSNN nên giữ vững khả năng tự lực của NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho phát triển kinh tế - xã hội.

(3) Góp phần cải cách hành chính trong quản lý thuế:

Thực tiễn công tác quản lý thu thuế TNDN theo Luật thuế TNDN năm 2003 cho thấy bước đầu đã có sự chuyển biến tích cực, thể hiện trên các mặt sau đây:

- Trước đây cơ quan thuế tính thuế, ra thông báo thuế cho doanh nghiệp  để doanh nghiệp thực hiện nộp thuế theo thông báo thuế. Nay chuyển đổi sang cơ chế doanh nghiệp tự khai, tự tính, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Việc thực hiện cơ chế này đã giảm bớt được thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động trong việc kê khai, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Việc chuyển cơ chế này đã tạo điều kiện cho cơ quan thuế tập trung nguồn lực phục vụ cho công tác tuyên truyền, hỗ trợ và kiểm tra giám sát doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định của pháp luật về thuế .

- Giao quyền tự chủ cho doanh nghiệp trong việc tự xác định các điều kiện để được hưởng ưu đãi thuế TNDN mà không cần cấp Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, xoá bỏ cơ chế “xin, cho” nên đã tạo một bước tiến lớn trong cải cách quản lý hành chính về đầu tư và thuế theo hướng rõ ràng, minh bạch giữa quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp với trách nhiệm của Nhà nước.

 2. Tồn tại, hạn chế và những vấn đề đặt ra

Qua 4 năm thực hiện, Luật thuế TNDN (sửa đổi) cơ bản phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội của đất nước nên đã phát huy được những tác động tích cực nêu trên. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế (đặc biệt kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới – WTO) Luật thuế TNDN (sửa đổi) đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế sau đây:

2.1. Về căn cứ tính thuế.

Như đã nêu ở phần trên, về cơ bản các quy định về căn cứ tính thuế tại Luật thuế TNDN năm 2003 đã được quy định rõ ràng, minh bạch hơn, đồng thời cũng cho phép doanh nghiệp được căn cứ vào tình hình thực tế của mình để quyết định chi và hạch toán chi phí hợp lý cho phù hợp tình hình cụ thể của doanh nghiệp như: cho phép tự ban hành các định mức tiêu hao nguyên vật liệu, khấu hao nhanh tài sản cố định (TSCĐ) không quá hai lần theo quy định, chi phí trả lãi vay các tổ chức khác ngoài ngân hàng, tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế không quá 1,2 lần theo lãi vay của ngân hàng thương mại tại thời điểm vay, nâng tỷ lệ khống chế chi phí quảng cáo, tiếp thị từ 3%, 5%, 7% lên 10%; ... Tuy nhiên, trong thời gian tới, một số quy định về căn cứ tính thuế TNDN hiện hành cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập:

         - Quy định về chi phí:

+ Luật thuế TNDN hiện hành qui định 14 khoản chi phí hợp lý và 4 khoản chi phí không hợp lý, cụ thể :

1. Các khoản chi phí hợp lý được trừ để tính thu nhập chịu thuế bao gồm:

a) Chi phí khấu hao của tài sản cố định sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mức trích khấu hao được căn cứ vào giá trị tài sản cố định và thời gian trích khấu hao. Cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có hiệu quả kinh tế cao được khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao theo chế độ để nhanh chóng đổi mới công nghệ.

b) Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa thực tế sử dụng vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế trong kỳ được tính theo mức tiêu hao hợp lý và giá thực tế xuất kho;

c) Tiền lương, tiền công, phụ cấp theo quy định của Bộ luật lao động, tiền ăn giữa ca, trừ tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ cá thể kinh doanh và thu nhập của sáng lập viên công ty không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh;

d) Chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ; sáng kiến, cải tiến; y tế; đào tạo lao động theo chế độ quy định; tài trợ cho giáo dục;

đ) Chi phí dịch vụ mua ngoài: điện, nước, điện thoại; sửa chữa tài sản cố định; tiền thuê tài sản cố định; kiểm toán; dịch vụ pháp lý; thiết kế, xác lập và bảo vệ nhãn hiệu hàng hoá; bảo hiểm tài sản; chi trả tiền sử dụng tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép công nghệ không thuộc tài sản cố định; dịch vụ kỹ thuật và dịch vụ mua ngoài khác;

e) Các khoản chi cho lao động nữ theo quy định của pháp luật; chi bảo hộ lao động hoặc trang phục; chi bảo vệ cơ sở kinh doanh; chi công tác phí; trích nộp quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thuộc trách nhiệm của cơ sở kinh doanh sử dụng lao động; kinh phí công đoàn; chi phí hỗ trợ cho hoạt động của Đảng, đoàn thể tại cơ sở kinh doanh; khoản trích nộp hình thành nguồn chi phí quản lý cho cấp trên và các quỹ của hiệp hội theo chế độ quy định;

g) Chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, của các tổ chức kinh tế theo lãi suất thực tế; chi trả lãi tiền vay của các đối tượng khác theo lãi suất thực tế khi ký hợp đồng vay, nhưng tối đa không quá 1,2 lần mức lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại tại thời điểm vay;

h) Trích các khoản dự phòng theo chế độ quy định;

i) Trợ cấp thôi việc cho người lao động;

k) Chi phí về tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ;

l) Chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi phí khác được khống chế tối đa không quá 10% tổng số chi phí; đối với hoạt động thương nghiệp, tổng số chi phí để xác định mức khống chế không bao gồm giá mua của hàng hoá bán ra;

m) Các khoản thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất phải nộp có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ được tính vào chi phí hợp lý;

n) Chi phí quản lý kinh doanh do công ty nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường trú ở Việt Nam theo quy định của Chính phủ;

o) Chi phí mua hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không có hoá đơn chứng từ do Chính phủ quy định.

2. Các khoản chi phí sau đây không được tính vào chi phí hợp lý:

a) Các khoản trích trước vào chi phí mà thực tế không chi;

b) Các khoản chi không có chứng từ hoặc chứng từ không hợp pháp;

c) Các khoản tiền phạt, các khoản chi không liên quan đến doanh thu tính thuế và thu nhập chịu thuế;

d) Các khoản chi do các nguồn vốn khác đài thọ.”

Thực tế trong quá trình thực hiện cho thấy việc quy định cả các loại chi phí hợp lý được trừ và các chi phí không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế là cần thiết, phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế trong thời gian đầu được chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, từng bước chuyển sang cơ chế thị trường. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta đang trong quá trình vận động và phát triển theo hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (đa ngành nghề, đa lĩnh vực) việc quy định như trên không bao quát hết những khoản chi phí thực tế phát sinh dẫn đến việc hiểu và vận dụng khác nhau của doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước, tạo ra cơ chế “xin, cho” trong quá trình thực hiện.

Để việc xác định chi phí được thuận lợi và đảm bảo thực hiện thống nhất, tạo sự chủ động cho doanh nghiệp trong thực hiện khi có các nghiệp vụ kinh tế mới phát sinh, cần quy định rõ những khoản chi phí không được phép hạch toán vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN. Theo đó, sẽ đảm bảo nguyên tắc và xu hướng chung khi xây dựng văn bản pháp luật hiện nay là Nhà nước cần quy định rõ những điều cấm, mọi chủ thể được thực hiện những điều mà pháp luật không cấm. Đồng thời để phù hợp với cơ chế tự khai, tự nộp thuế theo quy định của Luật quản lý thuế, cần quy định những khoản chi phí không được trừ  khi xác định thu nhập chịu thuế (những khoản chi phí không quy định đương nhiên được công nhận là chi phí hợp lý).

 - Về thu nhập chịu thuế đối với chuyển quyền sử dụng đất:

Trước 01/01/2004, doanh nghiệp chuyển quyền sử dụng đất phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất (2% đối với đất ở nông thôn, 4% đối với đất ở đô thị). Tại thời điểm này, hoạt động chuyển quyền sử dụng đất đặc biệt là các doanh nghiệp được giao đất phát sinh thu nhập lớn, với quy định của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất như trên chưa đảm bảo mức điều tiết hợp lý đối với thu nhập từ hoạt động này. Do đó cần phải có chính sách điều tiết hợp lý, kịp thời đối với thu nhập từ hoạt động này. Trong bối cảnh đó, Luật thuế TNDN sửa đổi năm 2003 đã chuyển đối tượng trên sang áp dụng chính sách thuế TNDN bổ sung đối với hoạt động chuyền quyền sử dụng đất của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, thực hiện Luật đất đai sửa đổi, từ năm 2005 đến nay, mọi trường hợp được Nhà nước giao đất để đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư nhà để chuyển nhượng đều phải thực hiện thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc theo giá đất do UBND địa phương quy định hàng năm (sát với giá thị trường), khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản trên đất cho người mua đều chuyển nhượng theo giá thị trường. Nhờ sự thay đổi về cơ chế xác định giá đất theo giá thị trường, số thu về đất đai đã tăng lên và giảm bớt một phần lợi nhuận siêu ngạch của doanh nghiệp so với cơ chế định giá không sát giá thị trường trước đây. 

Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh bất động sản chuyển sang phát triển theo xu hướng thị trường, các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản có chuyển quyền sử dụng đất gắn với tài sản trên đất thường chuyển thu nhập từ hoạt động chuyển quyền sử dụng đất sang thu nhập kinh doanh tài sản trên đất để tránh thuế TNDN bổ sung và được hưởng ưu đãi. Việc tổ chức quản lý thu thuế trong trường hợp này gặp nhiều khó khăn, phức tạp, chưa đồng bộ.

Vì vậy, cần nghiên cứu bãi bỏ việc điều tiết bổ sung theo biểu thuế suất luỹ tiến từng phần đối với thu nhập từ hoạt động chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất cho phù hợp với yêu cầu quản lý thị trường bất động sản hiện nay. Đồng thời cần quy định việc hạch toán riêng đối với thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản để kê khai nộp thuế theo thuế suất thông thường, không được hưởng ưu đãi thuế cũng như chuyển lỗ sang thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác của doanh nghiệp (nếu có). 

2.2. Về quy định nơi nộp thuế.

Luật thuế TNDN được ban hành trong điều kiện doanh nghiệp thường có trụ sở điều hành và hoạt động trên địa bàn tại một địa phương, do đó việc quy định kê khai nộp thuế TNDN tại trụ sở điều hành là phù hợp. Nay khi nền kinh tế phát triển, nhiều doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình mới: mô hình tập đoàn, công ty mẹ con thực hiện sản xuất kinh doanh ở một nơi, trụ sở điều hành ở một nơi khác dẫn đến tình trạng địa phương nơi sản xuất kinh doanh phải gánh chịu tác động của môi trường, tạo ra sức ép lớn về bảo đảm trật tự an ninh, giải quyết các vấn đề xã hội nhưng lại không có nguồn thu vì nguồn thu thuế TNDN được tập trung nộp tại địa phương nơi đóng trụ sở chính.

(Đính kèm số liệu số thu từ năm 2002 đến năm 2007 của 30 Tổng Công ty và tập đoàn  lớn có trụ sở chính tại TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội, có các doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc đóng trên địa bàn tại 64 tỉnh, thành phố, nhưng chủ yếu nộp thuế TNDN tại nơi đóng trụ sở chính).

Để xử lý vấn đề này bảo đảm phân bổ hợp lý nguồn lực cho địa phương phát triển, phục vụ trở lại cho hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên địa bàn, tăng cường hiệu quả quản lý của cơ quan thuế, cần xem xét bổ sung, quy định phân bổ hợp lý số thuế doanh nghiệp phải nộp cho địa phương nơi có sản xuất kinh doanh.

2.3. Về chính sách ưu đãi thuế TNDN.

Thực tế 4 năm qua cho thấy những cải cách về chính sách thuế nói chung, chính sách thuế TNDN nói riêng đã đi vào thực tế hơn, tạo động lực tốt trong việc thu hút vốn đầu tư trong nước và ngoài nước. Đầu tư tăng dẫn đến tổng sản phẩm xã hội tăng, thu nhập xã hội tăng, nhu cầu tiêu dùng của xã hội cho đời sống cũng tăng. Vì vậy, đầu tư là động lực cơ bản để phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và sắp tới.

Luật thuế TNDN được ban hành trong thời gian nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, mặt bằng pháp luật chưa đồng bộ,... nên cần có chính sách ưu đãi để thu hút nguồn lực trong và ngoài nước. Những năm đầu thực hiện Luật thuế TNDN, trước tình hình đầu tư nước ngoài sút giảm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực Châu Á, Luật thuế TNDN được sửa đổi đã tổng hợp, thống nhất tất cả các mức ưu đãi cao nhất đang được quy định tại Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước nhằm tạo môi trường hấp dẫn để khuyến khích, thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước.

Tuy nhiên, các quy định về ưu đãi thuế TNDN còn phức tạp, dàn trải, cần tiếp tục được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong tình hình mới cụ thể như sau:

- Phức tạp: Chính sách ưu đãi thuế TNDN hiện hành được quy định nhiều hình thức, nhiều cấp độ, nhiều tiêu thức ưu đãi:

+ Về thuế suất ưu đãi: Có 03 mức thuế suất ưu đãi là 10%, 15% và 20% áp dụng theo thời hạn tương ứng 15 năm, 12 năm và 10 năm; trường hợp thật đặc biệt thì được áp dụng thuế suất 10% trong suốt thời gian hoạt động.

+ Về thời gian miễn thuế, giảm thuế: Có tới 5 mức miễn thuế, giảm 50% thuế TNDN tuỳ thuộc vào lĩnh vực, địa bàn đầu tư như: miễn 2 năm, giảm 2 năm; miễn 2 năm, giảm 3 năm; miễn 2 năm, giảm 6 năm; miễn 3 năm, giảm 7 năm; miễn 4 năm giảm 9 năm.

+ Về tiêu chí ưu đãi: Có nhiều tiêu chí gồm: lĩnh vực, ngành nghề; địa bàn; điều kiện lao động; ngoài ra còn các tiêu chí xã hội khác như: thương binh, lao động nữ, người tàn tật.

+ Về hình thức ưu đãi: Có 02 hình thức là ưu đãi đầu tư mới đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư và ưu đãi mở rộng đối với cơ sở kinh doanh đang hoạt động có dự án đầu tư. Do diện ưu đãi rộng với 02 hình thức ưu đãi phân biệt đã phát sinh các trường hợp lạm dụng để hưởng ưu đãi như: hết thời hạn hưởng ưu đãi thì giải thể cơ sở cũ để lập cơ sở mới; chuyển thu nhập từ dự án không hưởng ưu đãi sang dự án hưởng ưu đãi để tránh thuế.

+ Về thời điểm tính ưu đãi miễn, giảm thuế TNDN: hiện nay chính sách thuế TNDN đang quy định thời điểm xác định ưu đãi miễn, giảm thuế TNDN là thời điểm cơ sở kinh doanh có lãi. Quy định này chưa thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc diện ưu đãi nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để sớm có lãi, đồng thời cũng gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý.

+ Về ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng theo Luật Thuế TNDN hiện hành tuy có quy định, nhưng thực tế việc tính toán xác định thu nhập chịu thuế tăng thêm để được hưởng ưu đãi thuế do đầu tư mở rộng mang lại là phức tạp, chưa chính xác, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc hạch toán, kê khai nộp thuế .

+ Về văn bản pháp luật: Chính sách ưu đãi thuế không chỉ được quy định tại hệ thống văn bản pháp luật thuế TNDN mà còn được quy định trong các hệ thống văn bản pháp luật khác như: Luật khoa học công nghệ; Luật chuyển giao công nghệ; Luật giáo dục và các văn bản quy định về chính sách khuyến khích xã hội hoá,... dẫn đến khó khăn trong việc xây dựng kế hoạch nguồn thu ngân sách về thuế hàng năm cũng như trong quá trình triển khai thực hiện.

Việc quy định chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nêu trên đã tạo môi trường hấp dẫn, có tác động tích cực trong việc thu hút đầu tư. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp có những dự án đầu tư theo nhiều hạng mục, ngành nghề, địa bàn khác nhau dẫn đến việc xác định điều kiện ưu đãi, mức ưu đãi được hưởng  cũng như xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp rất phức tạp. Doanh nghiệp thường khó xác định đúng mức ưu đãi thu nhập doanh nghiệp được hưởng theo quy định. Theo báo cáo của các Cục thuế có nhiều doanh nghiệp được hưởng ưu đãi theo nhiều trường hợp khác nhau như: ưu đãi do mới thành lập, ưu đãi theo đầu tư mở rộng, ưu đãi do đáp ứng tỷ lệ xuất khẩu, ưu đãi do sử dụng lao động nữ, ưu đãi sử dụng lao động là người tàn tật, ưu đãi do thực hiện các hợp đồng dịch vụ kỹ thuật phục vụ nông nghiệp..... Tại tỉnh Đồng Nai, có doanh nghiệp trong năm 2006 được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo 4 trường hợp (ưu đãi mới thành lập, ưu đãi theo đầu tư mở rộng, ưu đãi do đáp ứng tỷ lệ xuất khẩu, ưu đãi do sử dụng lao động nữ) dẫn đến doanh nghiệp gặp nhiều lúng túng trong việc tự xác định ưu đãi miễn giảm.

Trong năm 2007, những vướng mắc về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp chiếm tới 25% những vướng mắc về thuế thu nhập doanh nghiệp do doanh nghiệp gửi về cơ quan thuế.

Theo nhận định của một số chuyên gia tài chính quốc tế, chế độ ưu đãi thuế TNDN của Việt Nam hiện nay là chế độ khuyến khích phức tạp nhất thế giới.

- Dàn trải:

+ Về địa bàn ưu đãi: Có 3 loại địa bàn ưu đãi là địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các loại Khu (Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế, Khu thương mại tự do, Khu công nghệ cao).

Theo quy định của pháp luật về đầu tư thì số lượng địa bàn ưu đãi thuế TNDN là 356 trên tổng số 635 địa bàn (huyện, thị) trong cả nước (chiếm 56%), trong đó có 203 là địa bàn ưu đãi đầu tư (chiếm 32%) và 153 địa bàn đặc biệt ưu đãi (chiếm 24%). Bên cạnh đó còn có 154 Khu công nghiệp, Khu chế xuất, 10 Khu kinh tế, 23 Khu kinh tế cửa khẩu do cấp Trung ương thành lập (bình quân mỗi tỉnh 3 Khu) và hàng trăm khu công nghiệp nhỏ và vừa, cụm công nghiệp do địa phương thành lập đều thuộc diện ưu đãi đầu tư.

Thực tế quản lý cho thấy các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài, tập trung chủ yếu vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất hoặc những địa bàn thuận lợi (TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh). Tổng diện tích các khu công nghiệp, khu chế xuất là 32,8 nghìn ha, đã cho thuê 21,7 nghìn ha, tỷ lệ lấp đầy là 66,2%. Từ một, hai năm nay, nhiều địa phương chỉ chấp thuận cho các dự án đáp ứng yêu cầu công nghệ cao, sản phẩm mới mới được đầu tư vào khu công nghiệp. Như vậy các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài chưa lựa chọn đầu tư theo định hướng của chính sách ưu đãi thuế TNDN như đã nêu trên (theo địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và khó khăn).

+ Về lĩnh vực ưu đãi: Hiện tại quy định 2 cấp độ ưu đãi là ưu đãi và đặc biệt ưu đãi. Theo quy định của pháp luật về đầu tư thì tổng số nhóm lĩnh vực ưu đãi thuế TNDN là 79 (chiếm 90% số lượng ngành kinh tế cấp II, khoảng 33% số lượng ngành kinh tế cấp III theo Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ).

Ngoài ra, chính sách ưu đãi về thuế còn nhằm thực hiện chính sách xã hội, chưa mang tính trung lập, như những cơ sở kinh doanh sử dụng nhiều lao động không phân biệt lĩnh vực, địa bàn cũng được hưởng ưu đãi (từ 500 lao động trở lên được ưu đãi ngang bằng lĩnh vực ưu đãi; sử dụng từ 5000 lao động trở lên được ưu đãi ngang bằng lĩnh vực đặc biệt ưu đãi), ưu đãi đối với sử dụng lao động nữ, dân tộc thiểu số, người tàn tật, đối tượng tệ nạn xã hội ...

Qua tham khảo các nước trong khu vực cho thấy xu hướng xây dựng chính sách ưu đãi thuế TNDN trong thời gian tới có sự khác biệt như sau:

Các nước chuyển chính sách ưu đãi thuế TNDN theo diện rộng gồm nhiều ngành nghề với mức ưu đãi cao sang chính sách khuyến khích tổng thể nền kinh tế bằng chính sách điều tiết thuế TNDN hợp lý mà không cần ưu đãi nhiều (chỉ tập trung cho một số rất ít ngành mũi nhọn và vùng đặc biệt khó khăn để giảm bớt chi phí cho nhà đầu tư).

Ví dụ: Trung Quốc đã hạ thuế suất thuế TNDN từ 33% xuống còn 25% đồng thời với việc xoá bỏ (có lộ trình trong 5 năm) hầu hết các ưu đãi thuế, kể cả ưu đãi đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trước đây. Các nước khác trong khu vực Đông và Đông Nam Á quy định nhiều mức thuế suất khác nhau xong nhìn chung đều ở mức thấp: Hồng Kông 17%, Indonesia thuế suất luỹ tiến 10%, 15% và 30%, Hàn Quốc 13% và 25%, Singapore 19% (năm 2007 là 20%), Đài Loan thuế suất luỹ tiến 25%, Thái Lan 30%, Philippines hạ thuế suất từ 35% xuống 30% áp dụng từ 01/01/2009, Malaysia 27%. Xu hướng gần đây của các nước trong khu vực châu Á cho thấy các nước thu gọn danh mục ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi; dành sự quan tâm nhiều hơn đến chất lượng nhà đầu tư khi sử dụng ưu đãi thuế TNDN trong thu hút đầu tư nước ngoài.

Thực tiễn nước ta trong thời gian vừa qua cũng như kinh nghiệm của các nước như đã nêu ở phần trên cho thấy: mặc dù chính sách ưu đãi thuế của Việt Nam có mức ưu đãi hấp dẫn hơn so với nhiều nước nhưng nếu như không sửa đổi để thu hút đầu tư có lựa chọn thì hiệu quả thu hút đầu tư trong nước cũng như nước ngoài để khuyến khích phát triển nền kinh tế sẽ rất khó có thể đạt được theo định hướng của Nhà nước. Để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc hưởng ưu đãi đầu tư và thực hiện cơ chế tự tính, tự khai, tư nộp cần thiết phải nghiên cứu, sửa đổi các quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đảm bảo tránh phức tạp và dàn trải theo hướng:

+ Thay thế chính sách ưu đãi khuyến khích theo diện rộng bằng cách hạ thuế suất phổ thông xuống 25% như nêu tại Chiến lược cải cách thuế đến năm 2010. Đồng thời rà soát lại những tiêu chí đặc biệt khuyến khích đầu tư để ưu đãi có chọn lọc đối với một số ít ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng và sắp xếp hợp lý mức ưu đãi để tăng cường phân bổ nguồn lực đầu tư cho địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

+ Quy định lại điều kiện, mức ưu đãi theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch để doanh nghiệp dễ thực hiện và thuận tiện cho cơ quan Nhà nước trong việc quản lý.

+ Thời điểm áp dụng ưu đãi cần được xác định kể từ khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh để phù hợp với thông lệ quốc tế, thúc đẩy các doanh nghiệp sớm đi vào hoạt động kinh doanh có hiệu quả.

Từ 1/1/2009, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp mới được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008 có hiệu lực thi hành, quy định:

Điều 2. Người nộp thuế

1. Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật này (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm:

a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;

b) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam;

c) Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã;

d) Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;

đ) Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.

2. Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam; 

b) Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú đó;

c) Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam mà khoản thu nhập này không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú;

d) Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam.

3. Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mang lại thu nhập, bao gồm:

a) Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu, khí hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam;

b) Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp;

c) Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hay một tổ chức, cá nhân khác;

d) Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài;

đ) Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.”

B. GIỚI THIỆU LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) hiện hành được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 17/6/2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004 để thay thế cho Luật thuế TNDN (1997). Qua tổng kết, đánh giá 4 năm thực hiện Luật cho thấy: Nhìn chung, Luật thuế TNDN hiện hành đã đạt được mục tiêu đề ra, góp phần quan trọng cải thiện môi trường đầu tư, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Cụ thể:

- Thứ nhất, Luật thuế TNDN đã có tác động tích cực trong việc cải thiện môi trường đầu tư:

Luật thuế TNDN hiện hành đã bỏ thu thuế bổ sung và hạ mức thuế từ 32% xuống 28% đối với doanh nghiệp trong nước; bãi bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (3%, 5%, 7%) đối với nhà đầu tư nước ngoài để chuyển từ mức thuế TNDN 25% sang áp dụng chung mức thuế 28% như các doanh nghiệp trong nước. Việc điều chỉnh giảm mức thuế đối với doanh nghiệp trong nước không chỉ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp mới thành lập mà còn tạo thêm tiềm lực tài chính cho các doanh nghiệp đổi mới thiết bị, bổ sung vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Theo số liệu thống kê năm 2006, chỉ tính riêng 45 Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, vốn kinh doanh đã được tích luỹ, bổ sung thêm gần 5.300 tỷ đồng, quỹ đầu tư phát triển tăng gần 13.000 tỷ đồng và quỹ dự phòng tài chính để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh tăng khoảng 2.000 tỷ đồng.

Luật thuế TNDN hiện hành cũng quy định chính sách ưu đãi trên cơ sở chọn mức ưu đãi thuế cao nhất trong Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam để áp dụng chung cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã khắc phục sự phân biệt đối xử trong ưu đãi đầu tư, tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài cùng phát triển, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế cao trong những năm vừa qua.

- Thứ hai, góp phần bảo đảm nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước (NSNN):

Mặc dù đã hạ mức thuế và áp dụng các mức ưu đãi cao nhưng số thu NSNN về thuế TNDN vẫn bảo đảm tăng trưởng do có tác động cải thiện môi trường đầu tư, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đều phát triển về số lượng, quy mô và hiệu quả kinh doanh, mức thuế hợp lý cùng với thay đổi cơ chế quản lý thuế tác động đến việc các doanh nghiệp tự giác tuân thủ tốt hơn,...

Trong giai đoạn 2004 – 2007, số thu thuế TNDN (không kể thu từ dầu khí) đạt mức bình quân trên 30 ngàn tỷ đồng/năm với mức tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 16%. Luật thuế TNDN đã góp phần bảo đảm nguồn thu quan trọng của NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng về đầu tư phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng của đất nước.

- Thứ ba, thúc đẩy cải cách hành chính trong quản lý thuế và thực hiện ưu đãi đầu tư:

Luật thuế TNDN áp dụng cơ chế doanh nghiệp tự tính, tự khai, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của số liệu đã kê khai thay cho cơ chế cơ quan thuế tính thuế, thông báo thuế, quyết toán thuế. Việc ban hành và thực thi Luật thuế TNDN đã đánh dấu một bước tiến về cải cách thủ tục hành chính trong quản lý thuế và đầu tư khi đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc lựa chọn, xác định điều kiện và mức ưu đãi thuế mà không cần giấy phép, giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư. Nhờ việc chuyển sang cơ chế mới, cơ quan thuế có điều kiện tập trung nguồn lực vào công tác tuyên truyền, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát để giúp cho doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định của pháp luật.

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, trong quá trình thực hiện và trước yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn tới, Luật thuế TNDN đã bộc lộ một số hạn chế, tồn tại như sau:

- Mức thuế suất 28% tuy phù hợp với tình hình thực tế khi ban hành nhưng đến nay chưa thực sự cạnh tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài do các nước trong khu vực đã có sự điều chỉnh giảm;

- Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp còn dàn trải, phức tạp, chưa phát huy hiệu quả phân bổ nguồn lực trong đầu tư để đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế theo vùng và lãnh thổ, nhất là thu hút đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

- Căn cứ tính thuế (bao gồm thu nhập chịu thuế, chi phí được trừ và không được trừ) chưa thực sự minh bạch, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế;

- Một số nội dung của Luật đã được chuyển sang điều chỉnh tại các luật khác như Luật quản lý thuế, Luật thuế thu nhập cá nhân…

Vì vậy, để phát huy hơn nữa những ưu điểm của thuế TNDN, khắc phục những tồn tại nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn tới, cần thiết phải sửa đổi Luật thuế TNDN hiện hành.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ, bảo đảm môi trường thuận lợi, khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh”.

Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 đã xác định là: “hoàn thiện theo hướng giảm mức thuế suất, giảm diện miễn, giảm thuế; thống nhất mức thuế suất và ưu đãi thuế giữa các thành phần kinh tế để khuyến khích đầu tư và đảm bảo bình đẳng trong cạnh tranh.”

Quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, việc sửa đổi Luật thuế TNDN lần này nhằm đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu sau đây:

Một là, tiếp tục tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, bảo đảm công bằng, bình đẳng trong cạnh tranh; thực hiện giảm mức thuế suất chung để  doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích luỹ, tích tụ đổi mới thiết bị, đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Hai là, cải cách ưu đãi thuế nhằm tạo sự chuyển biến trong phân bổ nguồn lực, khuyến khích và thu hút đầu tư có chọn lọc để phát triển các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và một số ít ngành, lĩnh vực quan trọng theo chính sách phát triển của Nhà nước trong giai đoạn sắp tới trên cơ sở thu hẹp diện ưu đãi theo ngành, lĩnh vực.

Ba là, việc sửa đổi Luật thuế TNDN tuy có tác động giảm thu ngân sách nhà nước trong vài năm đầu nhưng phải đảm bảo ổn định và tăng trưởng nguồn thu ngân sách nhà nước trong trung và dài hạn.

III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

1. Bố cục Luật

- Chương I: Những quy định chung gồm 5 điều quy định về phạm vi điều chỉnh; người nộp thuế thu nhập chịu thuế; thu nhập được miễn thuế; kỳ tính thuế.

- Chương II: Căn cứ và phương pháp tính thuế gồm 7 điều quy định về căn cứ tính thuế; xác định thu nhập tính thuế; doanh thu; các khoản chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế; thuế suất; phương pháp tính thuế; nơi nộp thuế.

- Chương III: Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp gồm 6 điều quy định về ưu đãi về thuế suất; ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế; các trường hợp giảm thuế khác; chuyển lỗ; trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp; điều kiện áp dụng ưu đãi thuế.

- Chương IV: Điều khoản thi hành gồm 2 điều quy định về hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành.

2. Nội dung Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

2.1. Về phạm vi điều chỉnh của Luật

Ngày 21/11/2007, Quốc hội đã thông qua Luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, trong đó các cá nhân, hộ kinh doanh đang nộp thuế TNDN được chuyển sang nộp thuế theo Luật thuế thu nhập cá nhân. Luật quản lý thuế (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2007) đã quy định các nội dung về quản lý thuế bao gồm đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm thuế TNDN. Vì vậy, Luật thuế TNDN sửa đổi chỉ quy định các nội dung về chính sách, đồng thời để thể hiện rõ nội dung mà Luật sẽ điều chỉnh, bảo đảm sự thống nhất về thể thức văn bản theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Phạm vi điều chỉnh của Luật quy định về người nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế và ưu đãi thuế TNDN (Điều 1).

2.2. Về đối tượng nộp thuế (Người nộp thuế)

- Như đã đề cập ở phần trên, những đối tượng là cá nhân và hộ gia đình sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ sẽ chuyển sang nộp thuế theo Luật thuế thu nhập cá nhân kể từ ngày 01/01/2009. Vì vậy, đối tượng nộp thuế theo quy định của Luật thuế TNDN chỉ còn bao gồm tổ chức, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

- Các quy định về quyền đánh thuế của nước ta đối với các tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam hiện hành đang được quy định tại các văn bản dưới luật nay cũng được đưa vào quy định tại Luật để nâng cao cơ sở pháp lý trong thực hiện.

- Các thuật ngữ về “doanh nghiệp” và “cơ sở thường trú” hiện hành đang  quy định tại Điều “Giải thích từ ngữ”, nay Luật không quy định điều riêng về giải thích từ ngữ nên kế thừa nội dung và chuyển vào quy định về đối tượng nộp thuế để làm rõ hơn phạm vi quyền đánh thuế của Nhà nước Việt Nam.

Những nội dung về người nộp thuế nêu trên được thể hiện tại Điều 2, Cụ thể:

“Điều 2. Người nộp thuế

1. Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật này (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm:

a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;

b) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam;

c) Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã;

d) Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;

đ) Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.

2. Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam; 

b) Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú đó;

c) Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam mà khoản thu nhập này không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú;

d) Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam.

3. Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mang lại thu nhập, bao gồm:

a) Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu, khí hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam;

b) Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp;

c) Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hay một tổ chức, cá nhân khác;

d) Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài;

đ) Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.”

2.3. Về thu nhập chịu thuế, thu nhập miễn thuế

Luật hiện hành quy định thu nhập chịu thuế phù hợp với thực tiễn tại thời điểm ban hành nhưng trước diễn biến thực tế của đời sống xã hội thì một số quy định không còn phù hợp, cần phải sửa đổi như sau:

- Về thu nhập chịu thuế: Trước đây, các doanh nghiệp được giao đất để kinh doanh nhà, cơ sở hạ tầng theo giá thấp nhưng giá bán nhà, cơ sở hạ tầng cùng với việc chuyển quyền sử dụng đất theo giá thị trường nên có lợi nhuận siêu ngạch. Để khắc phục hiện tượng này, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, Khoá IX của Đảng, Luật thuế TNDN hiện hành (Điều 7) có quy định những trường hợp chuyển quyền sử dụng đất ngoài việc nộp thuế 28% còn chịu thuế TNDN bổ sung theo biểu thuế luỹ tiến từng phần tối đa không quá 30%.

Kể từ năm 2005, khi Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực, các trường hợp được giao đất để kinh doanh bất động sản phải thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án, nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước theo giá đất sát giá thị trường, đồng thời nghiêm cấm việc phân lô, bán nền, chuyển nhượng đất thô để xây nhà ở nên doanh nghiệp không còn lợi nhuận siêu ngạch từ chuyển quyền sử dụng đất. Mặt khác, hoạt động kinh doanh bất động sản bao gồm cả việc bán nhà, tài sản gắn với việc chuyển quyền sử dụng đất nên khó có thể xác định riêng thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất với thu nhập từ bán tài sản trên đất. Vì vậy, để phù hợp với thực tế, Luật Thuế TNDN sửa đổi bỏ quy định thu bổ sung đối với chuyển quyền sử dụng đất mà áp dụng chính sách thuế TNDN đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (bao gồm cả chuyển nhượng đất và tài sản trên đất) theo hướng: Kê khai riêng thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản để nộp thuế theo thuế suất chung (25%); nếu doanh nghiệp được hưởng ưu đãi đầu tư thì thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản không được ưu đãi thuế và nếu có lỗ thì chỉ được bù trừ với lãi từ hoạt động này trong 5 năm tiếp theo mà không được bù trừ với lãi từ các hoạt động kinh doanh khác.

Trong quá trình soạn thảo dự án Luật cũng có ý kiến cho rằng thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản là một trong các khoản thu nhập của doanh nghiệp nên cần được tính chung vào tổng thu nhập trong năm, được bù trừ với lỗ của các hoạt động khác (nếu có) và nếu doanh nghiệp được ưu đãi đầu tư thì cũng được ưu đãi miễn, giảm thuế đối với khoản thu nhập này. Quốc hội đã thảo luận vấn đề này và đã thông qua theo hướng: Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản có phần do công sức của doanh nghiệp nhưng cũng có phần bởi lợi thế khách quan mang lại do Nhà nước điều chỉnh quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng; bên cạnh việc đấu giá quyền sử dụng đất vẫn còn những trường hợp giao đất, bán nhà gắn với chuyển quyền sử dụng đất theo phương thức chỉ định cá biệt chưa sát đúng với giá thị trường. Việc kê khai riêng thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản để thực hiện như trên sẽ bảo đảm được mục tiêu điều tiết đề ra, hạn chế được việc chuyển lãi từ chuyển nhượng bất động sản (trong đó có đất đai) sang bù lỗ cho các hoạt động kinh doanh khác và hưởng ưu đãi (nếu có) trong khi lĩnh vực kinh doanh này vẫn còn nhiều lợi thế.

- Về thu nhập miễn thuế: Luật hiện hành quy định thu nhập được miễn thuế tại nhiều điều khác nhau như: Điều 2 quy định miễn thuế đối với thu nhập từ hoạt động nông nghiệp của các hợp tác xã ; Điều 19 quy định miễn thuế đối với một số loại thu nhập từ thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp… Ngoài ra,  một số loại thu nhập của doanh nghiệp do tính chất, nguồn gốc hình thành và ý nghĩa đối với kinh tế xã hội cần được xem xét không thu thuế, như: thu nhập từ hoạt động góp cổ phần, liên doanh liên kết (đã nộp thuế tại đơn vị nhận vốn góp), khoản tài trợ nhận được của tổ chức có thu nhập không chia dùng cho hoạt động từ thiện, nhân đạo, văn hoá, giáo dục, nghệ thuật, nghiên cứu khoa học và các hoạt động xã hội khác vì mục tiêu hoà bình, hữu nghị, phát triển kinh tế - xã hội; thu nhập do người sau cai nghiện làm ra.

Để phù hợp với thực tế nêu trên, bảo đảm rõ ràng, minh bạch và thể hiện được chính sách điều tiết đối với từng loại thu nhập, Luật thuế TNDN sửa đổi quy định rõ thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế (không phải tính thuế) và thu nhập tính thuế trên cơ sở sắp xếp lại các Điều 2, Điều 7, Điều 19 của Luật hiện hành. Cụ thể tại Điều 3 (thu nhập chịu thuế), Điều 4 (thu nhập được miễn thuế) như sau:

“Điều 3. Thu nhập chịu thuế

1. Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Thu nhập khác bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; hoàn nhập các khoản dự phòng; thu khoản nợ khó đòi đã xoá nay đòi được; thu khoản nợ phải trả không xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoản thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam.

Điều 4. Thu nhập được miễn thuế

1. Thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã.

2. Thu nhập từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp.

3. Thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm, sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu áp dụng tại Việt Nam.

4. Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp dành riêng cho lao động là người tàn tật, người sau cai nghiện, người nhiễm HIV. Chính phủ quy định tiêu chí, điều kiện xác định doanh nghiệp dành riêng cho lao động là người tàn tật, người sau cai nghiện, người nhiễm HIV.

5. Thu nhập từ hoạt động dạy nghề dành riêng cho người dân tộc thiểu số, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đối tượng tệ nạn xã hội.

6. Thu nhập được chia từ hoạt động góp vốn, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp trong nước, sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật này.

7. Khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học, văn hoá, nghệ thuật, từ thiện, nhân đạo và hoạt động xã hội khác tại Việt Nam.”

2.4. Về các khoản chi được trừ và các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

Điều 9, Luật thuế TNDN hiện hành quy định cả chi phí được trừ và chi phí không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Cách quy định này có thuận lợi là doanh nghiệp biết các khoản chi phí để tự đối chiếu, kê khai; nhưng có bất lợi là trong thực tiễn nền kinh tế đang vận động theo cơ chế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp theo xu hướng đa ngành, đa lĩnh vực, ngày càng phát sinh nhiều khoản chi mới không thuộc danh mục chi phí được trừ nhưng cũng không thuộc chi phí không được trừ theo quy định, dẫn đến việc hiểu và vận dụng khác nhau giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước (kiểm toán, thuế, thanh tra).

Để khắc phục hạn chế này, bảo đảm rõ ràng, minh bạch, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp chủ động trong hạch toán kinh doanh, thực hiện tốt cơ chế tự khai, tự nộp, tự xác định nghĩa vụ thuế theo quy định của Luật quản lý thuế một cách có hiệu quả, Luật thuế TNDN sửa đổi kỹ thuật lập pháp theo hướng: quy định điều kiện xác định khoản chi được trừ và liệt kê cụ thể các khoản chi không được trừ. Theo cách này, những khoản chi còn lại không kê trong Luật thì đương nhiên doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

Cụ thể một số vấn đề sửa đổi như sau:

- Chi trả lãi tiền vay: Luật hiện hành quy định được tính vào chi phí hợp lý “tối đa không quá 1,2 lần mức lãi suất cho vay của Ngân hàng thương mại tại thời điểm vay”. Luật sửa đổi quy định không được tính vào chi phí hợp lý phần “vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm vay”.

- Về tỷ lệ giới hạn tối đa 10% đối với chi phí quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị, tiếp khách, môi giới trong chi phí được trừ khi xác định thu nhập tính thuế: Luật hiện hành quy định tỷ lệ giới hạn 10% đối với các khoản chi này nhằm bảo vệ các doanh nghiệp Việt Nam (quy mô chủ yếu là nhỏ và vừa) trong cạnh tranh với các tập đoàn đa quốc gia, đồng thời hạn chế việc lợi dụng chi không đúng mục đích. Tới đây nước ta phải mở cửa thị trường nhiều hơn trong khi hệ thống pháp luật về chống độc quyền, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh còn đang tiếp tục hoàn thiện, đa số doanh nghiệp vẫn còn yếu thế trên thương trường nên việc tiếp tục giữ giới hạn đối với các khoản chi này là cần thiết.

Qua thảo luận, một số ý kiến đề nghị tỷ lệ giới hạn nên ở mức hợp lý đối với doanh nghiệp mới thành lập nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp này gia nhập thị trường. Sau khi cân nhắc ý kiến này và qua nghiên cứu khảo sát thực tế, Quốc hội quy định tỷ lệ giới hạn 10% tổng chi phí được trừ, đối với doanh nghiệp mới thành lập được giới hạn 15% trong 3 năm đầu.

Cụ thể, Điều 9 Luật quy định như sau:

“Điều 9. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

1. Trừ các khoản chi quy định tại khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;

b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.

2. Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:

a) Khoản chi không đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, trừ phần giá trị tổn thất do thiên tai, dịch bệnh và trường hợp bất khả kháng khác không được bồi thường;

b) Khoản tiền phạt do vi phạm hành chính;

c) Khoản chi được bù đắp bằng nguồn kinh phí khác;

d) Phần chi phí quản lý kinh doanh do doanh nghiệp nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường trú tại Việt Nam vượt mức tính theo phương pháp phân bổ do pháp luật Việt Nam quy định;

đ) Phần chi vượt mức theo quy định của pháp luật về trích lập dự phòng;

e) Phần chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa vượt định mức tiêu hao do doanh nghiệp xây dựng, thông báo cho cơ quan thuế và giá thực tế xuất kho;

g) Phần chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh của đối tượng không phải là tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm vay;

h) Trích khấu hao tài sản cố định không đúng quy định của pháp luật;

i) Khoản trích trước vào chi phí không đúng quy định của pháp luật;

k) Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân; thù lao trả cho sáng lập viên doanh nghiệp không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh; tiền lương, tiền công, các khoản hạch toán khác để trả cho người lao động nhưng thực tế không chi trả hoặc không có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật;

l) Chi trả lãi tiền vay vốn tương ứng với phần vốn điều lệ còn thiếu;

m) Thuế giá trị gia tăng đầu vào đã được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng nộp theo phương pháp khấu trừ, thuế thu nhập doanh nghiệp;

n) Phần chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh vượt quá 10% tổng số chi được trừ; đối với doanh nghiệp thành lập mới là phần chi vượt quá 15% trong ba năm đầu, kể từ khi được thành lập. Tổng số chi được trừ không bao gồm các khoản chi quy định tại điểm này; đối với hoạt động thương mại, tổng số chi được trừ không bao gồm giá mua của hàng hoá bán ra;

o) Khoản tài trợ, trừ khoản tài trợ cho giáo dục, y tế, khắc phục hậu quả thiên tai và làm nhà tình nghĩa cho người nghèo theo quy định của pháp luật.

3. Khoản chi bằng ngoại tệ được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh chi phí bằng ngoại tệ".

2.5. Về nơi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

Luật thuế TNDN hiện hành quy định doanh nghiệp kê khai, nộp thuế TNDN tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đóng trụ sở chính đã tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong hạch toán tập trung, điều hành nhưng trong thực tế phát sinh điểm bất cập là: các doanh nghiệp có thể làm thay đổi cân đối nguồn thu giữa các địa phương khi thay đổi địa điểm đặt trụ sở chính.

Xu thế hiện nay và những năm tới khi kinh tế thị trường càng phát triển thì doanh nghiệp thường sẽ chọn đặt trụ sở chính tại thành phố lớn, hoặc những nơi trung tâm để có điều kiện thuận lợi hơn trong giao dịch; trong khi đó các nhà máy, cơ sở sản xuất của doanh nghiệp được đặt tại địa bàn các tỉnh khác. Tại những nơi này, chính quyền địa phương phải cung cấp nhiều dịch vụ phục vụ cho sản xuất – kinh doanh như: bệnh viện, trường học, nhà ở công nhân, vệ sinh môi trường, trật tự trị an, nhưng không có nguồn thu vì thuế TNDN được nộp tại nơi đóng trụ sở chính. Để khắc phục những bất cập nêu trên, đảm bảo sự hài hoà mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp với các địa phương nơi doanh nghiệp mở các nhà máy, cơ sở sản xuất hoặc thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, Luật thuế TNDN sửa đổi quy định về nơi nộp thuế TNDN theo hướng kết hợp giữa nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính và nơi thực hiện sản xuất kinh doanh trên nguyên tắc tạo điều kiện thuận lợi nhất, không làm tăng thêm chi phí của doanh nghiệp, không gây phức tạp về thủ tục hành chính trong kê khai, quyết toán thuế. Việc nộp thuế chủ yếu được thực hiện tập trung tại địa phương nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính, doanh nghiệp chỉ nộp 01 (một) tờ khai quyết toán thuế như hiện hành nhưng có bảng phân bổ số thuế giữa các địa phương theo tiêu thức phân bổ phù hợp với từng loại hình kinh doanh. Đây là nội dung mới, hướng dẫn tiêu chí phân bổ phức tạp, do đó trong Luật chỉ quy định mang tính nguyên tắc và đề nghị giao cho Chính phủ hướng dẫn cụ thể, phù hợp với đặc thù của từng ngành nghề, lĩnh vực.

Nội dung sửa đổi này được thể hiện tại Điều 12 như sau:

“Điều 12. Nơi  nộp thuế

Doanh nghiệp nộp thuế tại nơi có trụ sở chính. Trường hợp doanh nghiệp có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc hoạt động tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với địa bàn nơi doanh nghiệp có trụ sở chính thì số thuế được tính nộp theo tỷ lệ chi phí giữa nơi có cơ sở sản xuất và nơi có trụ sở chính. Việc phân cấp, quản lý, sử dụng nguồn thu được thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này.”

2.6. Về thuế suất và ưu đãi thuế 

Luật hiện hành quy định thuế suất chung là 28%. Để khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, Luật quy định ba (03) mức thuế suất ưu đãi là 10%, 15% và 20% áp dụng trong thời gian tương ứng là 15 năm, 12 năm và 10 năm kể từ khi bắt đầu kinh doanh; thời gian miễn thuế tối đa là 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế, giảm 50% số thuế phải nộp tối đa trong 9 năm tiếp theo tuỳ thuộc vào nhiều tiêu chí ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn ưu đãi theo quy định của pháp luật về đầu tư. Ngoài ra, Luật còn quy định miễn thuế, giảm thuế đối với dự án đầu tư mở rộng sản xuất và một số trường hợp để tham gia thực hiện chính sách kinh tế - xã hội khác như khuyến khích ứng dụng khoa học, công nghệ, sử dụng lao động là đối tượng xã hội.

Về thuế suất: Khi ban hành Luật thuế TNDN (2003), để bảo đảm tính cạnh tranh trong thu hút đầu tư, Quốc hội đã cân nhắc rất kỹ để quy định mức thuế suất 28%, thấp hơn so với các nước trong khu vực có điều kiện về cơ sở hạ tầng tốt hơn ta như: Ma-lai-xi-a (32%), Thái Lan (30%), Phi-lip-pin (35%) In-đô-nê-xi-a (30%, riêng thuế suất đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực khai thác mỏ, dầu khí, thuỷ điện từ 30% đến 45%) và Trung Quốc (33%).

Do tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài giữa các quốc gia ngày càng gay gắt hơn, các nước trên thế giới và trong khu vực đều chú trọng thực hiện các biện pháp cải thiện môi trường đầu tư, trong đó thuế TNDN là một trong những công cụ, giải pháp chính. Xu hướng quốc tế gần đây cho thấy nhiều nước chuyển từ ưu đãi nhiều ngành, lĩnh vực sang ưu đãi theo diện rộng, khuyến khích tổng thể nền kinh tế bằng chính sách điều tiết thuế TNDN hợp lý (hạ thuế suất), chỉ tập trung ưu đãi để phát triển một số rất ít ngành mũi nhọn và vùng đặc biệt khó khăn. Ví dụ: Trung Quốc cùng với việc hạ thuế suất thuế TNDN từ 33% xuống 25% đã xoá bỏ hầu hết các ưu đãi thuế theo lộ trình 5 năm, kể cả ưu đãi trước đây đã cấp cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Đối với lĩnh vực, Trung Quốc chỉ còn ưu tiên cho một số ít lĩnh vực như: công nghệ cao đồng thời là công nghệ mới, bảo vệ môi trường sinh thái; đối với địa bàn chỉ có ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư vào các vùng tự trị, vùng khó khăn ở phía Tây; Ma-lai-xi-a đã giảm từ 32% xuống 28%; Phi-lip-pin giảm từ 35% xuống 30%.

Vì vậy để khuyến khích tổng thể nền kinh tế, tạo thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp có điều kiện tăng tích luỹ, tích tụ, thêm nguồn lực để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh và tăng khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực, Luật sửa đổi hạ mức thuế suất chung từ 28% xuống 25% đồng thời với việc cải cách ưu đãi thuế.

Về ưu đãi thuế: Để thống nhất về chính sách, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, các quy định về ưu đãi thuế hiện hành được tổng hợp và kế thừa từ tất cả các văn bản pháp luật ban hành từ lúc nền kinh tế nước ta mới mở cửa, môi trường đầu tư còn kém hấp hẫn, cơ sở hạ tầng còn khó khăn, trên nguyên tắc chọn mức ưu đãi cao nhất, thuận lợi nhất.

Các ưu đãi thuế TNDN như nêu trên đã phát huy tác dụng tích cực góp phần cải thiện môi trường đầu tư trong những năm đầu mới ban hành nhưng trước thực tế phát triển kinh tế - xã hội hiện nay và những năm tới thì chính sách ưu đãi thuế TNDN ngày càng bộc lộ nhược điểm dàn trải, phức tạp; chưa đáp ứng được yêu cầu là công cụ phân bổ nguồn lực để phát triển kinh tế theo vùng và lãnh thổ, nhất là các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Do ưu đãi dàn trải vừa theo ngành nghề, lĩnh vực, vừa theo địa bàn nên các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài, đều tập trung chủ yếu vào các khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc những địa bàn thuận lợi tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh. 

Nhằm khắc phục những nhược điểm như nêu trên, bảo đảm chính sách ưu đãi thuế phát huy tác dụng là công cụ tạo sự chuyển biến trong phân bổ nguồn lực, thu hút đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và một số ngành, lĩnh vực quan trọng theo chính sách phát triển của Nhà nước trong giai đoạn sắp tới, Luật sửa đổi đã cải cách ưu đãi thuế theo nguyên tắc giữ mức ưu đãi thuế cao nhất để không ảnh hưởng đến môi trường đầu tư nhưng cần có khoảng cách chênh lệch đủ lớn so với mức ưu đãi thấp hơn; thu hẹp diện ưu đãi theo lĩnh vực để tạo sức hấp dẫn của mức ưu đãi cao theo địa bàn, cụ thể như sau:

- Áp dụng mức ưu đãi cao nhất về thuế TNDN (thuế suất 10% trong 15 năm và miễn thuế tối đa trong 4 năm, giảm 50% số thuế tối đa trong 9 năm tiếp theo) đối với các doanh nghiệp mới thành lập, hoạt động tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; doanh nghiệp mới thành lập, hoạt động trong các lĩnh vực mũi nhọn gồm: công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển, các lĩnh vực đang được khuyến khích đẩy mạnh xã hội hoá (giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá - nghệ thuật, thể thao) và bảo vệ môi trường. Đối với các trường hợp đặc biệt thì có thể được hưởng thuế suất 10% trong thời gian dài hơn theo quy định của Chính phủ.

- Áp dụng mức thuế suất 20% trong thời gian 10 năm, miễn thuế tối đa 2 năm và giảm 50% tối đa 4 năm tiếp theo đối với doanh nghiệp mới thành lập, hoạt động tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn như hiện hành. Đồng thời bỏ mức thuế suất 15% là mức thuế suất hiện hành chủ yếu áp dụng đối với dự án thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, dự án sản xuất trong các khu công nghiệp để vừa đơn giản, vừa tạo sức hấp dẫn của các mức ưu đãi 10% và 20% như nêu trên.

- Các trường hợp đầu tư mở rộng, đầu tư theo chiều sâu sẽ được trích khấu hao nhanh hơn so với mức thông thường thay thế cho việc giảm thuế hiện nay để bảo đảm tính khả thi và minh bạch.

- Thời gian áp dụng miễn thuế, giảm thuế tính từ năm đầu tiên có doanh thu thay thế cho quy định hiện hành (tính từ khi có thu nhập chịu thuế) nhằm hạn chế khả năng lợi dụng chính sách ưu đãi để chuyển thu nhập về công ty mẹ, chuyển lãi ra nước ngoài thông qua giá.

 - Luật thuế TNDN sửa đổi còn quy định ưu đãi mới cho tất cả các doanh nghiệp được trích tối đa 10% thu nhập trước khi tính thuế hàng năm để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ nhằm tạo thuận lợi, khuyến khích doanh nghiệp chủ động đầu tư phát triển, ứng dụng công nghệ mới, đổi mới thiết bị. Về nội dung này Điều 45 của Luật chuyển giao công nghệ quy định: “Doanh nghiệp được trích một phần lợi nhuận trước thuế hằng năm lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ để tiến hành hoạt động nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ. Trong thời hạn năm năm, nếu quỹ không được sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích thì doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách nhà nước phần thuế thu nhập doanh nghiệp trên số lợi nhuận trước thuế mà Nhà nước để lại cho doanh nghiệp và phần lãi phát sinh từ khoản lợi nhuận trước thuế đó” “Chính phủ trình Quốc hội quyết định mức khấu trừ lợi nhuận trước thuế quy định tại Điều này”. Triển khai việc này Chính phủ đã có Tờ trình số 106/TTr-CP ngày 08/11/2007 báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội ban hành Nghị quyết về mức khấu trừ lợi nhuận trước thuế. Ngày 21/11/2007, Quốc hội có Nghị quyết số 11/2007/QH12 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội Khoá XII và năm 2008, trong đó nội dung sửa đổi Luật thuế TNDN sẽ bao gồm cả nội dung trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp.  

Xét về mặt tổng thể, việc thiết kế thuế suất và các ưu đãi thuế nêu trên đảm bảo duy trì được chính sách ưu đãi hiện hành (thậm chí còn ưu đãi cao hơn), tạo được động lực khuyến khích mới cho toàn bộ nền kinh tế như Chương trình cải cách thuế đến năm 2010 đã được Bộ Chính trị cho ý kiến và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Bên cạnh đó, hệ thống chính sách ưu đãi này khắc phục được các hạn chế, tồn tại của chính sách hiện hành về tình trạng dàn trải, phức tạp và hạn chế trong việc ưu tiên phân bổ nguồn lực cho vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời, hệ thống ưu đãi này bảo đảm cải thiện được môi trường đầu tư, kinh doanh của nước ta phù hợp với xu thế của các nước trên thế giới và trong khu vực, nâng cao tính cạnh tranh của cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế.

Việc điều chỉnh giảm thuế suất từ 28% xuống 25%, sắp xếp lại ưu đãi thuế, lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ như báo cáo trên đây ảnh hưởng làm giảm thu ngân sách khoảng 5.000 tỷ mỗi năm (khoảng 13% so với số thu thuế TNDN không kể thu từ dầu khí của năm 2007). Trước mắt, tuy có giảm thu nhưng những thay đổi về ưu đãi thuế như bỏ thuế suất 15%, thu hẹp ưu đãi theo lĩnh vực, cách tính miễn thuế kể từ khi có doanh thu làm tăng thu khoảng 2.000 tỷ đồng/năm. Như vậy, xét về tổng thể thì việc sửa đổi Luật có làm giảm thu NSNN những năm trước mắt, nhưng với chính sách ưu đãi đồng bộ, môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi hơn, tạo điều kiện để các doanh nghiệp mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh sẽ tạo nên sự tăng trưởng nguồn thu một cách bền vững, ổn định trong tương lai. Ngoài ra, việc sửa đổi lần này còn bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch trong xác định chi phí được trừ, thu nhập chịu thuế, ưu đãi thuế cũng sẽ khuyến khích doanh nghiệp nâng cao tính tự giác trong kê khai nộp thuế, thuận lợi trong việc kiểm tra thuế, trên cơ sở đó góp phần hạn chế thất thu ngân sách.

Nội dung sửa đổi cụ thể về thuế suất và ưu đãi thuế như trình bày ở trên được quy định trong Luật thuế TNDN sửa đổi tại các Điều 13, 14, 15, 16 và 17. Cụ thể:

“Điều 13. Ưu đãi về thuế suất 

1. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước, sản xuất sản phẩm phần mềm được áp dụng thuế suất 10% trong thời gian mười lăm năm.

2. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường được áp dụng thuế suất 10%.

3. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được áp dụng thuế suất 20% trong thời gian mười năm.

4. Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và quỹ tín dụng nhân dân được áp dụng thuế suất 20%.

5. Đối với dự án cần đặc biệt thu hút đầu tư có quy mô lớn và công nghệ cao thì thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể kéo dài thêm, nhưng thời gian kéo dài thêm không quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này.

6. Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi quy định tại Điều này được tính từ năm đầu tiên doanh nghiệp có doanh thu.

Điều 14. Ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế

1. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước, sản xuất sản phẩm phần mềm; doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường được miễn thuế tối đa không quá bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá chín năm tiếp theo.

2. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được miễn thuế tối đa không quá hai năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá bốn năm tiếp theo.

3. Thời gian miễn thuế, giảm thuế quy định tại Điều này được tính từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế; trường hợp doanh nghiệp không có thu nhập chịu thuế trong ba năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu thì thời  gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư.

Điều 15. Các trường hợp  giảm thuế khác

1. Doanh nghiệp sản xuất, xây dựng, vận tải sử dụng nhiều lao động nữ được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp bằng số chi thêm cho lao động nữ.

2. Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp bằng số chi thêm cho lao động là người dân tộc thiểu số .

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này. 

Điều 16. Chuyển lỗ

1. Doanh nghiệp có lỗ được chuyển số lỗ sang năm sau; số lỗ này được trừ vào thu nhập tính thuế. Thời gian được chuyển lỗ không quá năm năm, kể từ năm tiếp theo năm phát sinh lỗ.

2. Doanh nghiệp có lỗ từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản chỉ được chuyển số lỗ vào thu nhập tính thuế của hoạt động này.

Điều 17. Trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp

1. Doanh nghiệp được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam được trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp.

2. Trong thời hạn năm năm, kể từ khi trích lập, nếu Quỹ phát triển khoa học và công nghệ không được sử dụng hoặc sử dụng không hết 70% hoặc sử dụng không đúng mục đích thì doanh nghiệp phải nộp ngân sách nhà nước phần thuế thu nhập doanh nghiệp tính trên khoản thu nhập đã trích lập quỹ mà không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích và phần lãi phát sinh từ số thuế thu nhập doanh nghiệp đó.

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp dùng để tính số thuế thu hồi là thuế suất áp dụng cho doanh nghiệp trong thời gian trích lập quỹ.

Lãi suất tính lãi đối với số thuế thu hồi tính trên phần quỹ không sử dụng hết là lãi suất trái phiếu kho bạc loại kỳ hạn một năm áp dụng tại thời điểm thu hồi và thời gian tính lãi là hai năm.

Lãi suất tính lãi đối với số thuế thu hồi tính trên phần quỹ sử dụng sai mục đích là lãi phạt chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế và thời gian tính lãi là khoảng thời gian kể từ khi trích lập quỹ đến khi thu hồi.

3. Doanh nghiệp không được hạch toán các khoản chi từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế.

4. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp chỉ được sử dụng cho đầu tư khoa học và công nghệ tại Việt Nam.”

2.7. Về điều kiện ưu đãi thuế

Điều 21, Luật hiện hành vừa quy định về thủ tục, vừa quy định về điều kiện để hưởng ưu đãi thuế TNDN. Luật quản lý thuế đã bãi bỏ các quy định về quản lý thuế trong các luật thuế, do đó Luật thuế TNDN sửa đổi chỉ quy định về điều kiện để hưởng ưu đãi theo hướng kế thừa quy định hiện hành. Nội dung này được thể hiện tại Điều 18 của Luật, cụ thể:

“Điều 18. Điều kiện áp dụng ưu đãi thuế

1. Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại các điều 13, 14, 15, 16 và 17 của Luật này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ và nộp thuế theo kê khai.

2. Doanh nghiệp phải hạch toán riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được ưu đãi thuế quy định tại Điều 13 và Điều 14 của Luật này với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh không được ưu đãi thuế; trường hợp không hạch toán riêng được thì thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được ưu đãi thuế được xác định theo tỷ lệ doanh thu giữa hoạt động sản xuất, kinh doanh được ưu đãi thuế trên tổng doanh thu của doanh nghiệp.

3. Việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Điều 13 và Điều 14 của Luật này không áp dụng đối với:

a) Thu nhập quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật này;

b) Thu nhập từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quí hiếm khác;

c) Thu nhập từ kinh doanh trò chơi có thưởng, cá cược theo quy định của pháp luật;

d) Trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.”

2.8. Về hiệu lực thi hành và xử lý đối với các trường hợp đang được hưởng ưu đãi theo Luật hiện hành

Về hiệu lực thi hành của Luật thuế TNDN sửa đổi, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.

Về xử lý đối với các trường hợp đang được hưởng ưu đãi theo Luật hiện hành: Luật quy định doanh nghiệp đang hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo các quy định của Luật thuế TNDN hiện hành thì tiếp tục được hưởng ưu đãi trong thời gian còn lại. Trường hợp được miễn thuế, giảm thuế nhưng chưa có thu nhập chịu thuế thì thời điểm tính miễn, giảm thuế được xác định kể từ khi Luật sửa đổi có hiệu lực thi hành. Trường hợp mức ưu đãi theo quy định của Luật hiện hành mà thấp hơn quy định của Luật sửa đổi thì được hưởng ưu đãi theo Luật sửa đổi cho thời gian còn lại.

Nội dung này được thể hiện tại Điều 19 Luật như sau:

“Điều 19. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.

2. Luật này thay thế Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11.

3. Doanh nghiệp đang hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11 tiếp tục được hưởng các ưu đãi này cho thời gian còn lại theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11; trường hợp mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm cả thuế suất ưu đãi và thời gian miễn thuế, giảm thuế thấp hơn mức ưu đãi theo quy định của Luật này thì được áp dụng ưu đãi thuế theo quy định của Luật này cho thời gian còn lại.

4. Doanh nghiệp thuộc diện hưởng thời gian miễn thuế, giảm thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11 mà chưa có thu nhập chịu thuế thì thời điểm bắt đầu tính thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính theo quy định của Luật này và kể từ ngày Luật này có hiệu lực.”

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần thứ hai

GIỚI THIỆU

LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

 

 

 

 

            Ngày 03 tháng 6 năm 2008, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật số 09/2008/QH12 về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân, tạo ra khuôn khổ chính sách pháp luật có tính pháp lý cao, là cơ sở để củng cố và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, góp phần triển khai đồng bộ với Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Luật Phòng, chống tham nhũng. Sau đây là một số nội dung cơ bản của Luật này.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

Thứ nhất:  Yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững đòi hỏi phải phát huy cao độ và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, trong đó tài sản nhà nước là nguồn lực to lớn và đầy tiềm năng. Để phát huy có hiệu quả nguồn lực quan trọng này cần phải có Luật điều chỉnh việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Thứ hai: Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và sự chuyển dịch cơ chế quản lý sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, tài sản nhà nước không ngừng được đầu tư phát triển cả về số lượng và chất lượng, đối tượng sử dụng ngày càng đa dạng, nhiều nội dung mới xuất hiện đặt ra yêu cầu phải đổi mới công tác quản lý như: việc trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập để phát triển các hoạt động sự nghiệp, thực hiện xã hội hoá, giảm sức ép chi từ ngân sách nhà nước; việc đi thuê và cho thuê tài sản; việc sử dụng tài sản nhà nước để liên doanh, liên kết, ... Theo đó, cơ chế tài chính đối với một số lĩnh vực, một số đối tượng đã có những thay đổi quan trọng (như chính sách tài chính khuyến khích xã hội hoá, khuyến khích huy động nguồn lực). Trong khi đó cơ chế quản lý tài sản nhà nước hiện hành tuy đã có những nội dung được đổi mới, nhưng nhìn chung còn manh mún, nặng về xử lý tình thế chưa theo kịp với tình hình thực tiễn. Để phù hợp với các tiến trình này, cơ chế quản lý tài sản nhà nước cần phải được hoàn thiện bổ sung cho phù hợp và phải được thể chế hoá thành luật.

Thứ ba: Xuất phát từ thực tiễn quản lý tài sản nhà nước còn nhiều yếu kém, tồn tại; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định “cần bổ sung hoàn thiện các cơ chế, chính sách, quy chế, quy định của Đảng và Nhà nước về quản lý kinh tế- tài chính, quản lý tài sản công, không để sơ hở cho kẻ xấu lợi dụng; phải tăng cường quản lý, kiểm tra ngăn chặn lãng phí, tham nhũng tiền và tài sản công”; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định: “phải sớm ban hành Luật quản lý tài sản nhà nước nhằm quản lý, sử dụng có hiệu quả nhà, đất và các tài sản khác”. Từ đó việc xây dựng và ban hành tổ chức thực hiện Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước là nội dung hết sức quan trọng trong việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, góp phần triển khai đồng bộ với Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Luật Phòng, chống tham nhũng.

          II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

          Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được xây dựng dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau đây:

Một là: Kế thừa và phát triển các chính sách hiện hành về quản lý tài sản nhà nước, luật hoá một số quy định đã phát huy hiệu quả, phù hợp để nâng cao tính pháp lý, đảm bảo cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn trong thực tế quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Hai là: Đổi mới phương thức quản lý tài sản nhà nước phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội theo nguyên tắc kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đảm bảo quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài sản nhà nước.

Ba là: Phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và của cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; phân định rõ tài sản của nhà nước và tài sản của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

Bốn là: Tiếp thu những kinh nghiệm quản lý tài sản nhà nước của các nước vận dụng vào điều kiện thực tế của Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

1. Bố cục của Luật

Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gồm 39 điều, được chia thành 6 chương, cụ thể như sau:

Chương I. Những quy định chung, gồm 6 điều (từ Điều 01 đến Điều 06): Phạm vi điều chỉnh; nguyên tắc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; chính sách quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; quyền, nghĩa vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; các hành vi bị nghiêm cấm.

Chương II. Trách nhiệm quản lý nhà nước về tài sản nhà nước, gồm 05 điều (từ Điều 7 đến Điều 11): Trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trách nhiệm của Bộ Tài chính; trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương; trách nhiệm của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp.

Chương III. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, gồm  17 điều ( từ Điều 12 đến Điều 28): Nguồn hình thành tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước; đầu tư xây dựng trụ sở làm việc; mua sắm tài sản nhà nước; thuê trụ sở làm việc, tài sản khác phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước; sử dụng tài sản nhà nước; bảo dưỡng, sửa chữa tài sản nhà nước; lập, quản lý hồ sơ tài sản nhà nước; hạch toán tài sản nhà nước; thu hồi tài sản nhà nước; điều chuyển tài sản nhà nước; thanh lý tài sản nhà nước; bán tài sản nhà nước; tiêu huỷ tài sản nhà nước; kiểm kê, báo cáo tài sản nhà nước; công khai việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan nhà nước của Việt Nam tại nước ngoài; quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị vũ trang nhân dân.

Chương IV. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính và đơn vị sự nghiệp chưa tự chủ tài chính, gồm 06 điều ( từ Điều 29 đến Điều 34): Nguồn hình thành tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập; quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính; quyền, nghĩa vụ của đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; quản lý, sử dụng tài sản nhà nước dùng vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết tại đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính; quản lý, sử dụng tiền thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, liên doanh, liên kết, cho thuê tài sản nhà nước của đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính; quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính.

Chương V. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, gồm điều 03 điều ( từ Điều 35 đến Điều 37): Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp; quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

Chương VI. Điều khoản thi hành, gồm điều 02 điều (Điều 38 và Điều 39): Hướng dẫn thi hành và hiệu lực thi hành.

2. Nội dung của Luật

2.1. Phạm vi điều chỉnh

Điều 1 của Luật quy định: “1. Luật này quy định chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức, đơn vị), bao gồm trụ sở làm việc và tài sản khác gắn liền với đất; quyền sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc và các tài sản khác do pháp luật quy định. 2. Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước khác được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan”.

Như vậy, Luật này chỉ điều chỉnh đối với những tài sản nhà nước phục vụ hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị như: trụ sở làm việc, tài sản khác gắn liền với đất, quyền sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc...

Đối với tài sản nhà nước là tiền, hàng hoá, vật tư, tài sản dự trữ quốc gia tại cơ quan, đơn vị, tổ chức; tài sản là đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước..., việc quản lý, sử dụng thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan (như Luật Đất đai, Pháp lệnh dự trữ quốc gia, Luật doanh nghiệp nhà nước...), không thuộc phạm vi điều chỉnh tại Luật này.

2.2. Nguyên tắc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đưa ra hệ thống 6 nguyên tắc cần quán triệt trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất là “Mọi tài sản nhà nước đều được Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng”. Đây là nguyên tắc phổ biến trong Luật Quản lý tài sản nhà nước hoặc luật tương đương của các quốc gia. Theo đó, mọi tài sản nhà nước đều phải xác định được chủ thể quản lý, sử dụng, tránh tình trạng “cha chung không ai khóc”. Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản có quyền sử dụng, khai thác tài sản nhà nước theo đúng mục đích được giao, đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả, đồng thời phải chịu trách nhiệm nếu có sai phạm trong quản lý, sử dụng tài sản.

Nguyên tắc thứ hai là:Quản lý nhà nước về tài sản nhà nước được thực hiện thống nhất, có phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan nhà nước”. Tài sản nhà nước bao gồm nhiều loại khác nhau và do nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng. Để đảm bảo cho mọi tài sản nhà nước được quản lý, sử dụng theo đúng mục đích, đảm bảo công bằng, tiết kiệm nhằm đạt được mục tiêu của  Nhà nước thì công tác quản lý nhà nước về tài sản nhà nước phải được thực hiện thống nhất (thể hiện ở hệ thống cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, sử dụng thống nhất và giao cho một cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước) song cũng cần có sự phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan nhà nước.

Nguyên tắc thứ ba là: “Tài sản nhà nước phải được đầu tư, trang bị và sử dụng đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ, bảo đảm công bằng, hiệu quả, tiết kiệm”. Đây là nguyên tắc đồng thời là yêu cầu trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Theo đó, trước hết tài sản nhà nước phải được sử dụng đúng mục đích (trụ sở thì không được sử dụng để ở; xe ô tô công thì không được sử dụng vào mục đích riêng ...), đúng tiêu chuẩn, chế độ, định mức. Đây là căn cứ quan trọng để bố trí dự toán đầu tư, mua sắm, cũng như để quản lý, sử dụng và kiểm soát chi tiêu, đồng thời cũng là chuẩn mực để xác định mức độ vi phạm và xử lý vi phạm theo đúng người, đúng việc. Đồng thời việc sử dụng tài sản nhà nước phải tiết kiệm, có hiệu quả, đem lại lợi ích cao nhất cho Nhà nước, cho nhân dân xét về trước mắt cũng như lâu dài.

Nguyên tắc thứ tư là: “Tài sản nhà nước phải được hạch toán đầy đủ về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật. Việc xác định giá trị tài sản trong quan hệ mua, bán, thuê, cho thuê, liên doanh, liên kết, thanh lý tài sản hoặc trong các giao dịch khác được thực hiện theo cơ chế thị trường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Việc hạch toán đầy đủ về hiện vật và giá trị tài sản nhà nước đảm bảo cho cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan trực tiếp sử dụng tài sản nắm được số lượng, giá trị và tình trạng tài sản, từ đó đề ra các biện pháp xử lý phù hợp và phục vụ tốt công tác hoạch định chính sách, chế độ. Còn việc xác định giá trị tài sản trong quan hệ mua, bán, thuê, cho thuê, liên doanh, liên kết, thanh lý tài sản hoặc trong các giao dịch khác được thực hiện theo cơ chế thị trường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đây là nội dung đổi mới, tiếp cận kịp thời với nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hiệu quả, công khai, minh bạch; mọi quan hệ trong giao dịch mua sắm, bán, thanh lý, thuê, cho thuê, liên doanh, liên kết tài sản được thực hiện theo cơ chế thị trường thông qua việc đầu thầu, đấu giá công khai theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối với một số trường hợp đặc biệt thì không nhất thiết phải thực hiệu đấu giá, đấu thầu theo cơ chế thị trường, như việc điều chuyển tài sản giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị; bán, thanh lý tài sản nhà nước có giá trị nhỏ...

Nguyên tắc thứ năm là: “Tài sản nhà nước được bảo dưỡng, sửa chữa, bảo vệ theo chế độ quy định”. Nguyên tắc này đảm bảo việc sử dụng tài sản nhà nước hiệu quả, tiết kiệm, tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, tránh sử dụng theo kiểu "vắt kiệt" tài sản, đồng thời cho phép bố trí hợp lý, khoa học giữa chi thường xuyên và chi đầu tư trong dự toán ngân sách nhà nước nói chung cũng như trong kế hoạch tài chính của từng cơ quan, đơn vị nói riêng.

Nguyên tắc cuối cùng là:“Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được thực hiện công khai, minh bạch; mọi hành vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật”. Theo đó, toàn bộ quá trình đầu tư, mua sắm, sử dụng, hiệu quả sử dụng tài sản nhà nước phải công khai (trừ một số nội dung không được công khai theo quy định của pháp luật bảo vệ bí mật quốc gia). Đây là nội dung rất quan trọng để tăng cường sự giám sát của cán bộ, công chức và toàn thể nhân dân đối với việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

2.3. Chính sách quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

Để tài sản nhà nước được quản lý, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, góp phần phòng, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, Điều 3 của Luật quy định: “Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển, khai thác và bảo vệ tài sản nhà nước; thực hiện hiện đại hóa công tác quản lý tài sản nhà nước và nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước”.

2.4. Quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

Như trên đã trình bày, nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước là “Mọi tài sản nhà nước đều được Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng”. Để thực hiện được nguyên tắc này, tại Điều 4 của Luật đã quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước như sau:

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có 4 quyền: (i) sử dụng tài sản nhà nước phục vụ hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao; (ii) quyết định biện pháp bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả tài sản nhà nước được giao; (iii) được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và (iv) khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật.

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có 3 nghĩa vụ: (i) sử dụng tài sản nhà nước đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ  và bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm; (ii) thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa, bảo vệ tài sản nhà nước theo chế độ quy định và (iii) lập và quản lý hồ sơ tài sản nhà nước; hạch toán, ghi chép tài sản; báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được giao theo quy định của Luật này và pháp luật về kế toán, thống kê.

2.5. Quyền, nghĩa vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm rất lớn trước Nhà nước, trước pháp luật trong việc quản lý, sử dụng, bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình. Do vậy, Luật đề cao vai trò của người đứng đầu, trao cho họ những quyền về (i) chỉ đạo tổ chức thực hiện quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; (ii) xử lý theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Đồng thời, Luật cũng quy định nghĩa vụ của họ trong việc (i) ban hành và tổ chức thực hiện quy chế quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý theo thẩm quyền; (ii) chấp hành các quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm sử dụng tài sản nhà nước đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ và hiệu quả, tiết kiệm; (iii) chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý.

2.6. Các hành vi bị nghiêm cấm

Căn cứ vào các quy định hiện hành tại Bộ luật hình sự, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật phòng, chống tham nhũng, Pháp lệnh cán bộ, công chức… và thực tế quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thời gian vừa qua, Điều 6 của Luật quy định 6 nhóm hành vi bị nghiêm cấm như sau: (i)Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản nhà nước dưới mọi hình thức;  (ii) Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; (iii) sử dụng tài sản nhà nước không đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ; sử dụng tài sản nhà nước lãng phí hoặc không sử dụng tài sản được giao gây lãng phí; sử dụng tài sản nhà nước để kinh doanh trái pháp luật; (iv) huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nhà nước; chiếm giữ, sử dụng trái phép tài sản nhà nước; (v) thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; (vi)không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm trên đây sẽ bị xử lý theo các hình thức khác nhau như: thu hồi tài sản; xử lý kỷ luật, xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.

2.7. Về trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

Khoản 1 Điều 7 của Luật quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tài sản nhà nước” và có các trách nhiệm cụ thể sau đây:

- Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;

- Phân cấp đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, sửa chữa, bảo dưỡng, điều chuyển, thu hồi, thanh lý, bán, liên doanh, liên kết, cho thuê, tiêu huỷ tài sản nhà nước;

- Hằng năm báo cáo Quốc hội về tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Việc quy định các trách nhiệm cụ thể của Chính phủ trên đây thể hiện nguyên tắc quản lý nhà nước về tài sản nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phân cấp và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan. Theo đó, việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được thống nhất về cơ chế, chính sách nhưng có sự phân cấp trong việc quyết định cụ thể các biện pháp quản lý.

Việc hằng năm Chính phủ báo cáo Quốc hội tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có mối liên hệ mật thiết với nguyên tắc “Tài sản nhà nước phải được hạch toán đầy đủ về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật” và quy định tại Điều 25 của Luật về kiểm kê, báo cáo tài sản nhà nước. Cơ quan trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước phải thực hiện hạch toán đầy đủ về hiện vật và giá trị; định kỳ báo cáo cơ quan quản lý cấp trên, để tổng hợp báo cáo Bộ Tài chính, trình Chính phủ báo cáo Quốc hội. Để thực hiện nội dung này, đòi hỏi phải hiện đại hoá công tác quản lý công sản, đồng thời nâng cao nhận thức và ý thức thực hiện trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Khoản 1 Điều 7 của Luật quy định: “Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, xe ô tô và các tài sản khác có giá trị lớn, trang bị phổ biến tại cơ quan, tổ chức, đơn vị”. Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ sẽ thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân cấp của Chính phủ.

Thực tế, hiện nay Thủ tướng Chính phủ đã ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng đối với tài sản nhà nước được sử dụng phổ biến tại cơ quan, tổ chức, đơn vị như: tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc (Quyết định số 147/1999/QĐ-TTg, Quyết định số 260/2006/QĐ-TTg); xe ô tô phục vụ công tác (Quyết định số 59/2007/QĐ-TTg, Quyết định số 184/2007/QĐ-TTg); trang thiết bị và phương tiện làm việc của cơ quan và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước (Quyết định số 170/2006/QĐ-TTg); điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động (Quyết định số 78/2001/QĐ-TTg, Quyết định số 179/2002/QĐ-TTg, Quyết định số 168/2005/QĐ-TTg). Do vậy trước mắt, tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản nhà nước cần được tiếp tục thực hiện sau khi Luật có hiệu lực thi hành. Trong trường hợp, khi có điều chỉnh sửa đổi, bổ sung, thì căn cứ vào từng loại tài sản nhà nước để trình cấp có thẩm quyền ban hành cho phù hợp với phân cấp thẩm quyền quyết định của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

2.8. Về trách nhiệm của Bộ Tài chính và trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương

Luật quy định Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương đều có trách nhiệm trong quản lý nhà nước về tài sản nhà nước. Tuy nhiên, Luật cũng quy định rõ Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về tài sản nhà nước trong phạm vi cả nước, còn các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương có trách nhiệm quản lý nhà nước về tài sản nhà nước trong phạm vi quản lý của bộ, cơ quan mình.

Với trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về tài sản nhà nước trong phạm vi cả nước, Bộ Tài chính có các trách nhiệm cụ thể là: (i) ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; (ii) quy định chế độ quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, xe ô tô và các tài sản khác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, trừ tài sản chuyên dùng; (iii) quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản nhà nước, trừ tài sản chuyên dùng, trụ sở làm việc, xe ô tô phục vụ công tác và các tài sản được trang bị sử dụng phổ biến, có giá trị lớn; (iv) tổ chức thực hiện công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; (v) phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương trong việc ban hành tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng tài sản chuyên dùng; (vi) quyết định điều chuyển tài sản nhà nước giữa bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); mua sắm, thu hồi, thanh lý, bán tài sản nhà nước theo phân cấp của Chính phủ; (vii) hằng năm báo cáo Chính phủ về tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trong phạm vi cả nước và (viii) kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo thẩm quyền.

Với trách nhiệm quản lý nhà nước về tài sản nhà nước trong phạm vi quản lý của bộ, cơ quan mình, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương có các trách nhiệm cụ thể là: (i) chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính trong việc ban hành tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng tài sản chuyên dùng tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý; (ii) quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, sửa chữa, bảo dưỡng, điều chuyển, thu hồi, thanh lý, bán, liên doanh, liên kết, cho thuê, tiêu huỷ tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý theo phân cấp của Chính phủ; (iii) hằng năm báo cáo Bộ Tài chính về tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý và (iv) kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý.

2.9. Về trách nhiệm của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp

Một trong những thay đổi quan trọng trong nội dung này so với các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trước đây, đó là tại Điều 10 của Luật quy định: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm phân cấp thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, sửa chữa, bảo dưỡng, điều chuyển, thu hồi, thanh lý, bán, liên doanh, liên kết, cho thuê, tiêu huỷ tài sản nhà nước tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của địa phương. (Trước đây, việc phân cấp thực hiện các nhiệm vụ nêu trên do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, sau khi có ý kiến thống nhất của Hội đồng nhân dân cùng cấp). Sự thay đổi này đã phát huy được vai trò của Hội đồng nhân dân, vai trò của cơ quan dân cử trong việc quyết định những vấn đề lớn, có tính chất quan trọng của địa phương; đồng thời tăng cường được sự giám sát việc thi hành pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của Hội đồng nhân dân. Với quy định trên đây, thì sau ngày 01/01/2009, việc đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, sửa chữa, bảo dưỡng, điều chuyển, thu hồi, thanh lý, bán, liên doanh, liên kết, cho thuê, tiêu huỷ tài sản chỉ thực hiện được khi HĐND cấp tỉnh có quyết định về việc phân cấp.

Về trách nhiệm của UBND các cấp, Điều 11 của Luật quy định: Căn cứ quy định của Luật này, phân cấp của Chính phủ, phân cấp của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm: (i) xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương; (ii) quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, sửa chữa, bảo dưỡng, điều chuyển, thu hồi, thanh lý, bán, liên doanh, liên kết, cho thuê, tiêu huỷ tài sản nhà nước tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của địa phương; (iii) hằng năm báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp và Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Tài chính về tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương; (iv) lập và quản lý hồ sơ về tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương; (v) kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương.

2.10. Đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước

Khoản 1 Điều 13 của Luật quy định: “1. Nhà nước đầu tư xây dựng trụ sở làm việc để phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước bằng các phương thức sau đây:

            a) Giao cho tổ chức có chức năng thực hiện đầu tư xây dựng trụ sở làm việc;

            b) Giao ngân sách cho cơ quan trực tiếp sử dụng trụ sở làm việc thực hiện đầu tư xây dựng”.

Như vậy, bên cạnh phương thức Nhà nước giao ngân sách cho cơ quan trực tiếp sử dụng trụ sở làm việc thực hiện đầu tư xây dựng như hiện nay, Luật còn quy định phương thức Nhà nước giao cho tổ chức có chức năng thực hiện đầu tư xây dựng trụ sở làm việc. Quy định này, một mặt thể hiện sự bảo đảm của Nhà nước về trang bị đầy đủ tài sản phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước; mặt khác bảo đảm tính chuyên môn hoá, sự hiệu quả trong đầu tư xây dựng trụ sở làm việc, tránh tình trạng các cơ quan nhà nước không có chuyên môn về xây dựng nhưng phải thực hiện vai trò là chủ đầu tư, thực hiện lập dự án đầu tư, xem xét phê duyệt thiết kế, tổ chức đấu thầu, giám sát xây dựng, nghiệm thu công trình, thanh quyết toán đầu tư xây dựng trụ sở làm việc...

Việc đầu tư xây dựng trụ sở làm việc phải phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của cơ quan đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc và được thực hiện theo các quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng.

            2.11. Mua sắm tài sản nhà nước

Điều 14 của Luật quy định việc mua sắm tài sản nhà nước phải phù hợp với tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và được thực hiện công khai, theo trình tự, thủ tục do pháp luật về đấu thầu và pháp luật có liên quan quy định. Về thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản nhà nước được quy định như sau: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, người đứng đầu cơ quan khác ở trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương.

2.12. Thuê trụ sở làm việc, tài sản khác phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước

Cơ quan, đơn vị thuộc khu vực nhà nước bao gồm nhiều loại hình khác nhau, trong đó có những cơ quan nhất thiết phải đầu tư xây dựng trụ sở làm việc, không đặt vấn đề thuê trụ sở làm việc như Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, lực lượng vũ trang nhân dân... Tuy nhiên, trong thực tế có những cơ quan, đơn vị hoặc chỉ tồn tại trong thời gian ngắn hoặc số lượng cán bộ, công chức ít như các Ban quản lý dự án, văn phòng đại diện ... thì việc thuê trụ sở làm việc là hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm hơn là giao ngân sách để đầu tư, xây dựng trụ sở làm việc. Do đó, Điều 15 của Luật quy định cơ quan nhà nước được thuê trụ sở làm việc, tài sản khác để phục vụ hoạt động trong các trường hợp: khi chưa có trụ sở làm việc hoặc chưa được giao ngân sách đầu tư xây dựng, mua sắm; việc thuê trụ sở làm việc, tài sản khác có hiệu quả hơn việc đầu tư xây dựng, mua sắm. Số lượng, chủng loại trụ sở làm việc, tài sản khác được thuê phải phù hợp với tiêu chuẩn, định mức, chế độ; giá thuê được xác định theo cơ chế thị trường.

Quy định này, nhằm bảo đảm đáp ứng điều kiện công tác cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách và tài sản của nhà nước. Qua nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn từ một số quốc gia phát triển trên thế giới, như Cộng hoà Liên bang Đức, Australia, Canada..., cơ sở vật chất phục vụ công tác của các cơ quan nhà nước, như trụ sở làm việc hầu như các đơn vị đi thuê, kể cả thuê của Nhà nước. Đây chính là một trong những giải pháp thực hành tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước và tuân thủ đúng tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản, vì khi lập dự toán ngân sách, Nhà nước chỉ cấp lượng kinh phí đủ để đơn vị thuê diện tích nhà theo đúng tiêu chuẩn, định mức, phù hợp với số lượng công chức và thậm chí phù hợp với cả vị trí của trụ sở làm việc thuê sử dụng. Do vậy, có thể nói, đây là một trong những quy định của Luật có tầm nhìn, có tính lâu dài.

2.13. Sử dụng tài sản nhà nước

Tài sản nhà nước được đầu tư, trang bị cho cơ quan nhà nước quản lý, sử dụng là để phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ. Trường hợp tài sản không được sử dụng hoặc sử dụng không hết thì phải được thu hồi, điều chuyển cho cơ quan khác để bảo đảm tài sản được sử dụng, phát huy tối đa công dụng của nó. Nếu để cơ quan nhà nước cho thuê tài sản nhà nước sẽ đồng nghĩa với việc cho cơ quan nhà nước kinh doanh thì sẽ không đúng với nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật và cũng không đúng với mục đích của việc đầu tư, trang bị tài sản. Thực tế cho thấy đã có không ít trường hợp tổ chức, cá nhân lợi dụng việc cho thuê tài sản nhà nước tại các cơ quan nhà nước để tham ô, trục lợi, gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước và sao nhãng việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Do vậy, Điều 16 của Luật quy định tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước phải được sử dụng đúng mục đích, công năng, tiêu chuẩn, định mức, chế độ và bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm. Cơ quan nhà nước không được sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích cá nhân, cho thuê hoặc thực hiện hoạt động kinh doanh khác.

Tuy nhiên, trong thực tiễn có một số trường hợp tài sản của cơ quan nhà nước dùng không hết công suất, như hội trường, phương tiện vận tải... trong khi đó một số cơ quan, đơn vị, tổ chức của nhà nước lại có nhu cầu sử dụng, vì thế để khai thác hiệu quả nguồn tài sản này, giảm chi cho ngân sách nhà nước, khoản 3 Điều 38 của Luật quy định đối với hội trường, phương tiện vận tải của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chưa sử dụng hết công suất được cho cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng theo đúng mục đích và thu một khoản kinh phí để bù đắp chi phí (không bao gồm chi phí khấu hao và lợi nhuận).

2.14. Thu hồi tài sản nhà nước

Thu hồi tài sản nhà nước là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp của Chính phủ quyết định thu lại tài sản nhà nước đã giao cho cơ quan nhà nước quản lý, sử dụng. Đây là biện pháp chế tài của Nhà nước để đảm bảo việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đúng tiêu chuẩn, định mức, chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả.

Tại khoản 2 Điều 20 của Luật quy định: Tài sản nhà nước bị thu hồi trong các trường hợp: (i) không sử dụng (như trụ sở làm việc, tài sản khác gắn liền với đất bị bỏ trống; máy móc, phương tiện vận tải không được sử dụng trong một thời gian nhất định...); (ii) sử dụng sai mục đích, vượt tiêu chuẩn, định mức, chế độ và (iii) các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Tài sản nhà nước bị thu hồi được xử lý theo hình thức điều chuyển cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc xử lý bán theo quy định.

2.15. Điều chuyển tài sản nhà nước

Điều chuyển tài sản nhà nước là việc Nhà nước quyết định chuyển giao tài sản nhà nước từ cơ quan, tổ chức, đơn vị này sang cơ quan, tổ chức, đơn vị khác trong khu vực nhà nước trong một số trường hợp. Việc điều chuyển tài sản nhà nước không làm thay đổi chủ sở hữu tài sản mà chỉ làm thay đổi chủ thể quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Tại khoản 2 Điều 21 của Luật quy định: Tài sản nhà nước chỉ được điều chuyển giữa các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, trừ trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Tại khoản 2 Điều 21 của Luật quy định: Tài sản nhà nước được điều chuyển trong các trường hợp: (i) từ nơi thừa sang nơi thiếu; (ii) để mang lại hiệu quả sử dụng cao hơn và (iii) các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2.16. Bán tài sản nhà nước

Bán tài sản nhà nước là việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản nhà nước cho tổ chức, cá nhân để nhận khoản tiền tương ứng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật, thì tài sản nhà nước được bán trong các trường hợp: (i) không còn nhu cầu sử dụng hoặc việc sử dụng không có hiệu quả, trừ trường hợp tài sản không được bán theo quy định của pháp luật và (ii) các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Việc bán tài sản nhà nước được thực hiện công khai, theo cơ chế thị trường. Theo đó, việc bán tài sản nhà nước sẽ được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức đấu giá công khai, tạo điều kiện cho nhiều tổ chức, cá nhân tham gia mua tài sản. Một số trường hợp đặc biệt không thể bán đấu giá được thì được bán chỉ định như tài sản nhà nước có giá trị nhỏ, chỉ có một người đăng ký mua, bán cho các đơn vị xã hội hoá.v.v… Tuy nhiên, khi bán chỉ định thì giá bán cũng phải xác định theo giá thị trường. Khi bán tài sản nhà nước là trụ sở làm việc hoặc tài sản khác gắn liền với đất được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Tiền thu được từ việc bán tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, sau khi trừ các chi phí hợp lý liên quan đến việc bán tài sản được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.

2.17. Thanh lý tài sản nhà nước

Khoản 1 Điều 22 của Luật quy định tài sản nhà nước được thanh lý trong các trường hợp: (i) tài sản hết hạn sử dụng; (ii) tài sản bị hư hỏng không thể sử dụng được hoặc việc sửa chữa không có hiệu quả và (iii) trụ sở làm việc hoặc tài sản khác gắn liền với đất phải phá dỡ theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Việc thanh lý tài sản được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau như huỷ tài sản, tháo dỡ thu hồi vật liệu, bán. Trong đó, khoản 3 của Luật quy định: “Việc thanh lý theo hình thức bán tài sản nhà nước được thực hiện công khai, theo cơ chế thị trường”tương tự quy định về bán tài sản nhà nước quy định tại Điều 23 của Luật.

Về thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản nhà nước được quy định như sau:

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, người đứng đầu cơ quan khác ở trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý;

- Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản nhà nước của cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương.

Tiền thu được từ việc thanh lý tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, sau khi trừ các chi phí hợp lý liên quan đến việc thanh lý tài sản được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.

2.18. Tiêu huỷ tài sản nhà nước

Tiêu huỷ tài sản nhà nước là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định xóa bỏ sự tồn tại của tài sản nhà nước. Tài sản nhà nước bị tiêu huỷ theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật. Nhà nước đảm bảo kinh phí cho việc tiêu huỷ tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước.

Thẩm quyền quyết định tiêu huỷ tài sản nhà nước được quy định tại Điều 24 của Luật như sau:

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, người đứng đầu cơ quan khác ở trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định tiêu huỷ tài sản của cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý;

- Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp thẩm quyền quyết định tiêu huỷ tài sản của cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương;

- Những người khác theo quy định của pháp luật.

2.19. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan nhà nước của Việt Nam tại nước ngoài và quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị vũ trang nhân dân

Tài sản nhà nước trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng và tài sản nhà nước của cơ quan nhà nước của Việt Nam tại nước ngoài có tính đặc thù; việc mua sắm, trang bị, sử dụng, bán, thanh lý có những đặc điểm khác biệt so với tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước. Vì vậy, Luật quy định:

- Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan nhà nước của Việt Nam tại nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Luật này, phù hợp với quy chế ngoại giao và pháp luật của nước sở tại. Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan nhà nước của Việt Nam tại nước ngoài” (Điều 27).

- “Căn cứ các nguyên tắc quy định tại Luật này, Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị vũ trang nhân dân” (Điều 28).

2.20. Về việc phân loại đơn vị sự nghiệp

Theo quy định hiện hành của pháp luật, đơn vị sự nghiệp công lập được chia thành 3 loại: (i) Loại tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên; (ii) loại đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên; (iii) loại do Nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên. Tuy nhiên, việc phân loại này và các quy định hiện hành về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập nhìn chung còn chưa thể tách bạch rõ ràng giữa cung cấp dịch vụ công theo nhiệm vụ Nhà nước giao với hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của đơn vị, chưa phân định rõ được tài sản sử dụng vào mục đích hoạt động sự nghiệp với sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh, dịch vụ…. Để giải quyết những tồn tại nêu trên, Luật chia đơn vị sự nghiệp công lập thành 02 loại hình: đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính và đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính; trên cơ sở đó xây dựng cơ chế quản lý, sử dụng tài sản nhà nước phù hợp với đặc điểm của từng loại hình.

Theo Báo cáo giài trình, tiếp thu, chỉnh lý Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì việc xác định tiêu chí phân loại đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính hay chưa tự chủ tài chính là một vấn đề quan trọng. Từ thực tiễn quản lý nhà nước về vấn đề này thời gian qua, có thể đưa ra 4 tiêu chí cơ bản để phân loại là nguồn thu sự nghiệp, năng lực quản lý, lĩnh vực hoạt động và địa bàn hoạt động. Cụ thể:

- Về nguồn thu, các đơn vị tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoặc phần lớn kinh phí hoạt động thường xuyên thuộc nhóm tự chủ tài chính, các đơn vị còn lại thuộc nhóm chưa tự chủ tài chính. Về lâu dài, Nhà nước thực hiện chế độ đặt hàng cung cấp dịch vụ và thanh toán chi phí dịch vụ thay cho việc cấp phát ngân sách như hiện nay và coi đó là nguồn thu sự nghiệp của đơn vị;

- Về năng lực quản lý, các đơn vị thuộc nhóm tự chủ tài chính phải có bộ máy tổ chức và độ ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu về quản lý tài chính, tài sản;

- Về lĩnh vực hoạt động, các lĩnh vực có khả năng huy động nguồn lực của xã hội như phát thanh, truyền hình, giáo dục đại học, bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh…, được xếp vào nhóm tự chủ tài chính; các lĩnh vực cung cấp dịch vụ thiết yếu cho xã hội hoặc ít có khả năng huy động nguồn lực của xã hội như giáo dục tiểu học, phổ thông cơ sở, cơ sở y tế tuyến xã, tuyến huyện, cơ sở y tế điều trị bệnh xã hội… được xếp vào nhóm chưa tự chủ tài chính;

- Về địa bàn hoạt động, các đơn vị hoạt động tại đô thị lớn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi được xếp vào nhóm chủ tài chính; các đơn vị hoạt động tại vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn được xếp vào nhóm chưa tự chủ tài chính.

Các tiêu chí trên đây có thể thay đổi, tuỳ thuộc vào tình hình, đặc điểm, chiến lược phát triển  kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta trong từng thời kỳ. Vì vậy, tại khoản 1 Điều 30 của Luật, Quốc hội giao Chính phủ quy định tiêu chí đơn vị sự nghiệp công lập phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

2.21. Về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính

Điều 30 của Luật quy định: “Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính được thực hiện theo quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước quy định tại Chương III của Luật này”. Như vậy, toàn bộ các nội dung về đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, sửa chữa, bảo dưỡng, điều chuyển, thu hồi, thanh lý, bán, tiêu huỷ, kiểm kê, hạch toán, báo cáo, công khai tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp chưa tự chủ tài chính được thực hiện theo quy định áp dụng đối với cơ quan nhà nước. Trong đó, cần lưu ý là đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính sẽ không được cho thuê tài sản nhà nước, sử dụng tài sản nhà nước để sản xuất, kinh doanh dịch vụ, liên doanh, liên kết.

2.22. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính

Khác với đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính, cơ chế quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính theo quy định của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được đổi mới cơ bản theo hướng tạo điều kiện cho đơn vị chủ động trong việc sử dụng tài sản được giao để thực hiện nhiệm vụ được giao, đồng thời khai thác tối đa công suất của tài sản để nâng cao chất lượng dịch vụ công, cải thiện đời sống của cán bộ, nhân viên. Một số nội dung đổi mới như sau:

a) Điều 30 của Luật quy định: Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính là đơn vị có đủ điều kiện theo quy định của Chính phủ được Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp. Thẩm quyền quyết định việc giao tài sản nhà nước được quy định như sau:

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, người đứng đầu cơ quan khác ở trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định giao tài sản nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính thuộc phạm vi quản lý;

- Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định giao tài sản nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính thuộc phạm vi quản lý của địa phương.

b) Điều 31 của Luật quy định: Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính có các quyền, nghĩa vụ chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Luật; đồng thời có các quyền, nghĩa vụ sau đây:

(1) Sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết theo quy định tại Điều 32 và Điều 33 của Luật này;

(2) Bảo toàn, phát triển vốn và tài sản nhà nước được giao quản lý, sử dụng;

(3) Thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước dùng vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết tại đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

Yêu cầu thứ nhất là “không ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao”. Các đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước thành lập để thực hiện việc cung cấp các dịch vụ công cho xã hội thuộc các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, thể dục thể thao, y tế… Do vậy, việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị phải hướng vào việc thực hiện mục tiêu này.

Yêu cầu thứ hai là: “sử dụng tài sản đúng mục đích đầu tư xây dựng, mua sắm”. Điều đó có nghĩa là khi sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết cũng phải hướng tới mục tiêu đảm bảo cho việc cung cấp dịch vụ công theo chức năng, nhiệm vụ được giao ngày càng tốt hơn. Với các cơ sở giáo dục, đào tạo thì chỉ được sử dụng tài sản nhà nước để cho thuê, liên doanh, liên kết vào mục đích giảng dạy; với các cơ s�� ý tế thì chỉ được cho thuê, liên doanh, liên kết vào mục đích khám, chữa bệnh… Nhà nước không cho phép sử dụng tài sản nhà nước để cho thuê, liên doanh, liên kết trái với mục đích đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản như cho thuê để tổ chức đám cưới; liên doanh để kinh doanh văn phòng cho thuê, khách sạn, nhà hàng…

Yêu cầu thứ ba là: “phát huy công suất và hiệu quả sử dụng tài sản nhà nước”. Yêu cầu này đảm bảo cho việc khai thác tối đa công suất sử dụng của tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, đồng thời khi xem xét, quyết định việc sử dụng tài sản nhà nước cho thuê, sản xuất, kinh doanh dịch vụ, liên doanh, liên kết phải tính toán sao cho việc sử dụng tài sản đó có hiệu quả.

Yêu cầu thứ tư là “thực hiện theo cơ chế thị trường và tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan”. Yêu cầu này quán triệt nguyên tắc thứ tư trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (Việc xác định giá trị tài sản trong quan hệ mua, bán, thuê, cho thuê, liên doanh, liên kết, thanh lý tài sản hoặc trong các giao dịch khác được thực hiện theo cơ chế thị trường), có nghĩa là việc xác định giá cho thuê tài sản, xác định vốn góp khi liên doanh, liên kết phải theo giá thị trường; tài sản được sử dụng vào sản xuất, kinh doanh dịch vụ phải được trích khấu hao, hạch toán đầy đủ chi phí để có nguồn tái tạo lại tài sản mới. Các đơn vị sự nghiệp công lập khi sử dụng tài sản vào các mục đích nêu trên phải tuân thủ các quy định của pháp luật như Luật Đất đai, Luật bảo vệ môi trường, pháp luật về thuế…

c) Điều 33 của Luật quy định:

- Tiền thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, liên doanh, liên kết phải được hạch toán đầy đủ theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng theo cơ chế tài chính áp dụng đối với doanh nghiệp.

- Tiền thu được từ cho thuê tài sản, đơn vị phải hạch toán riêng, sau khi trừ chi phí hợp lý liên quan, nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước, đơn vị được sử dụng để phát triển hoạt động sự nghiệp.

2.23. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, thì ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt động cho Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội như đối với cơ quan nhà nước. Chính vì vậy, Điều 35 của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước quy định: Nhà nước giao tài sản bằng hiện vật, quyền sử dụng đất, giao ngân sách để tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Tài sản được Nhà nước giao cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quản lý, sử dụng hoặc được Nhà nước giao ngân sách để đầu tư xây dựng, mua sắm thuộc sở hữu của Nhà nước; việc quản lý, sử dụng tài sản này được thực hiện theo quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước.

Tuy nhiên, đối với tài sản được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, tài sản được tặng cho chung và từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật; tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước đã chuyển giao quyền sở hữu cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là tài sản thuộc sở hữu của tổ chức đó. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình theo quy định của pháp luật và phù hợp với mục đích hoạt động được quy định trong Điều lệ của từng tổ chức.

2.24. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp

Hiện nay, việc quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước giao cho tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp chưa có sự tách bạch, nhất là đối với những tài sản Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để đầu tư xây dựng, mua sắm. Vì vậy, tại Điều 36 của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước quy định:

- Tài sản là trụ sở làm việc hoặc tài sản khác gắn liền với đất mà Nhà nước giao cho tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp quản lý, sử dụng thuộc sở hữu của Nhà nước; việc quản lý, sử dụng tài sản này được thực hiện theo quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước. Tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có trách nhiệm bảo vệ tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật và thực hiện việc bảo dưỡng, sửa chữa tài sản bằng kinh phí của tổ chức.

- Tài sản còn lại mà Nhà nước giao cho tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp quản lý, sử dụng thuộc sở hữu của tổ chức; việc quản lý, sử dụng tài sản này được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự, pháp luật có liên quan và Điều lệ của tổ chức.

2.25. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

Điều 37 của Luật quy định: Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp tự bảo đảm kinh phí đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản, Nhà nước không giao tài sản hoặc hỗ trợ ngân sách đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản cho tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Như vậy, từ ngày 01/01/2009, Nhà nước sẽ không giao tài sản hoặc hỗ trợ ngân sách đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản cho tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Đối với những tài sản trước ngày Luật có hiệu lực Nhà nước đã giao cho tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp thì việc quản lý, sử dụng thực hiện như sau:

- Đối với tài sản là trụ sở làm việc hoặc tài sản khác gắn liền với đất vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước; việc quản lý, sử dụng tài sản này được thực hiện theo quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước. Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có trách nhiệm bảo vệ tài sản nhà nước được giao theo quy định của pháp luật và thực hiện việc bảo dưỡng, sửa chữa tài sản bằng kinh phí của tổ chức.

- Đối với tài sản còn lại mà Nhà nước đã giao cho tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp quản lý, sử dụng thuộc sở hữu của tổ chức; việc quản lý, sử dụng tài sản này được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự, pháp luật có liên quan và Điều lệ của tổ chức.

2.26. Điều khoản thi hành

Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.

Để bảo đảm quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ theo quy định của Luật này, Điều 38 của Luật giao Chính phủ thực hiện các công việc sau đây:

(1) Tổ chức sắp xếp lại việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo mục đích được giao, bảo đảm để tài sản nhà nước không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích, vượt tiêu chuẩn, định mức, chế độ quy định phải được thu hồi trước ngày 31 tháng 12 năm 2010. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề đối với Chính phủ, các bộ, ngành ở trung ương và chính quyền địa phương các cấp. Theo đó, ngoài việc tiếp tục đẩy nhanh tiến độ sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương còn phải triển khai việc sắp xếp lại để sử dụng theo đúng mục đích được giao đối với các tài sản khác như phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc.v.v...

(2) Quy định cụ thể việc chuyển nhà khách của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội sang hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp. Về vấn đề này, ngày 02/11/1998, Chính phủ có Công văn số 1298/CP-KTTH yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của các đoàn thể, Chủ tịch UBND cấp tỉnh chuyển ngay các nhà khách, nhà nghỉ sang hoạt động kinh doanh theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Trường hợp nhà khách, nhà nghỉ không thể chuyển sang kinh doanh được, các bộ, ngành, cơ quan có trách nhiệm chuyển giao cho các địa phương để sắp xếp, chuyển sang hoạt động kinh doanh. Các nhà khách thuộc Ban Tài chính - Quản trị TW (nay là Văn phòng Trung ương Đảng), Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam được tiếp tục hoạt động để phục vụ yêu cầu lưu trú của cán bộ, đại biểu về làm việc, dự hội nghị của Đảng, Quốc hội, Chính phủ (kể cả các bộ, ngành trung ương), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam. Tuy nhiên, đến nay nhiều nhà khách, nhà nghỉ của các bộ, ngành, cơ quan trung ương và địa phương chưa chuyển hoàn toàn sang cơ chế kinh doanh. Sau khi Luật này có hiệu lực, các nhà, khách nhà nghỉ trên đây sẽ phải chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, trừ một số trường hợp đặc biệt như nhà khách thuộc Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ... sẽ hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính.

(3) Quy định cụ thể việc dùng hội trường, phương tiện vận tải của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chưa sử dụng hết công suất cho cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng theo đúng mục đích và thu một khoản kinh phí để bù đắp chi phí. Theo đó, trường hợp hội trường, phương tiện vận tải được giao cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quản lý, sử dụng mà không sử dụng hết công suất thì được cho cơ quan, tổ chức khác của Nhà nước sử dụng theo đúng mục đích được giao. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quản lý, sử dụng hội trường, phương tiện vận tải chỉ được thu một khoản kinh phí để bù đắp chi phí điện, nước, xăng dầu, nhân công phục vụ (không bao gồm chi phí khấu hao và lợi nhuận).

 

 

 

 

 

 

Phần thứ ba

 

LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

CỦA QUỐC HỘI KHÓA XII, KỲ HỌP THỨ 3, SỐ 14/2008/QH12

NGÀY 03 THÁNG 06 NĂM 2008

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về người nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Điều 2. Người nộp thuế

1. Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật này (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm:

a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;

b) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam;

c) Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã;

d) Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;

đ) Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.

2. Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam

b) Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú đó;

c) Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam mà khoản thu nhập này không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú;

d) Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam.

3. Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mang lại thu nhập, bao gồm:

a) Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu, khí hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam;

b) Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp;

c) Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hay một tổ chức, cá nhân khác;

d) Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài;

đ) Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.

Điều 3. Thu nhập chịu thuế

1. Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Thu nhập khác bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; hoàn nhập các khoản dự phòng; thu khoản nợ khó đòi đã xoá nay đòi được; thu khoản nợ phải trả không xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoản thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam.

Điều 4. Thu nhập được miễn thuế

1. Thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã.

2. Thu nhập từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp.

3. Thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm, sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu áp dụng tại Việt Nam.

4. Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp dành riêng cho lao động là người tàn tật, người sau cai nghiện, người nhiễm HIV. Chính phủ quy định tiêu chí, điều kiện xác định doanh nghiệp dành riêng cho lao động là người tàn tật, người sau cai nghiện, người nhiễm HIV.

5. Thu nhập từ hoạt động dạy nghề dành riêng cho người dân tộc thiểu số, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đối tượng tệ nạn xã hội.

6. Thu nhập được chia từ hoạt động góp vốn, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp trong nước, sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật này.

7. Khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học, văn hoá, nghệ thuật, từ thiện, nhân đạo và hoạt động xã hội khác tại Việt Nam.

            Điều 5. Kỳ tính thuế

1. Kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo từng lần phát sinh thu nhập áp dụng đối với doanh nghiệp nước ngoài được quy định tại điểm c và điểm d khoản 2 Điều 2 của Luật này.

 

 

 

Chương II
CĂN CỨ VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ

 

Điều 6. Căn cứ tính thuế

Căn cứ tính thuế là thu nhập tính thuế và thuế suất.

Điều 7. Xác định thu nhập tính thuế

1. Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước.

2. Thu nhập chịu thuế bằng doanh thu trừ các khoản chi được trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh cộng thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được ở ngoài Việt Nam.

3. Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản phải xác định riêng để kê khai nộp thuế.

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này.

Điều 8. Doanh thu

Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ, trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng. Doanh thu được tính bằng đồng Việt Nam; trường hợp có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu bằng ngoại tệ.

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này.

Điều 9. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

1. Trừ các khoản chi quy định tại khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;

b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.

2. Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:

a) Khoản chi không đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, trừ phần giá trị tổn thất do thiên tai, dịch bệnh và trường hợp bất khả kháng khác không được bồi thường;

b) Khoản tiền phạt do vi phạm hành chính;

c) Khoản chi được bù đắp bằng nguồn kinh phí khác;

d) Phần chi phí quản lý kinh doanh do doanh nghiệp nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường trú tại Việt Nam vượt mức tính theo phương pháp phân bổ do pháp luật Việt Nam quy định;

đ) Phần chi vượt mức theo quy định của pháp luật về trích lập dự phòng;

e) Phần chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa vượt định mức tiêu hao do doanh nghiệp xây dựng, thông báo cho cơ quan thuế và giá thực tế xuất kho;

g) Phần chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh của đối tượng không phải là tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm vay;

h) Trích khấu hao tài sản cố định không đúng quy định của pháp luật;

i) Khoản trích trước vào chi phí không đúng quy định của pháp luật;

k) Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân; thù lao trả cho sáng lập viên doanh nghiệp không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh; tiền lương, tiền công, các khoản hạch toán khác để trả cho người lao động nhưng thực tế không chi trả hoặc không có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật;

l) Chi trả lãi tiền vay vốn tương ứng với phần vốn điều lệ còn thiếu;

m) Thuế giá trị gia tăng đầu vào đã được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng nộp theo phương pháp khấu trừ, thuế thu nhập doanh nghiệp;

n) Phần chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh vượt quá 10% tổng số chi được trừ; đối với doanh nghiệp thành lập mới là phần chi vượt quá 15% trong ba năm đầu, kể từ khi được thành lập. Tổng số chi được trừ không bao gồm các khoản chi quy định tại điểm này; đối với hoạt động thương mại, tổng số chi được trừ không bao gồm giá mua của hàng hoá bán ra;

o) Khoản tài trợ, trừ khoản tài trợ cho giáo dục, y tế, khắc phục hậu quả thiên tai và làm nhà tình nghĩa cho người nghèo theo quy định của pháp luật.

3. Khoản chi bằng ngoại tệ được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh chi phí bằng ngoại tệ.

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này.

Điều 10. Thuế suất

1. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này và Điều 13 của Luật này.

2. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quí hiếm khác từ 32% đến 50% phù hợp với từng dự án, từng cơ sở kinh doanh.

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này.

Điều 11. Phương pháp tính thuế

1. Số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế được tính bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất; trường hợp doanh nghiệp đã nộp thuế thu nhập ở ngoài Việt Nam thì được trừ số thuế thu nhập đã nộp nhưng tối đa không quá số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quy định của Luật này.

2. Phương pháp tính thuế đối với doanh nghiệp quy định tại điểm c và điểm d khoản 2 Điều 2 của Luật này được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Điều 12. Nơi  nộp thuế

Doanh nghiệp nộp thuế tại nơi có trụ sở chính. Trường hợp doanh nghiệp có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc hoạt động tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với địa bàn nơi doanh nghiệp có trụ sở chính thì số thuế được tính nộp theo tỷ lệ chi phí giữa nơi có cơ sở sản xuất và nơi có trụ sở chính. Việc phân cấp, quản lý, sử dụng nguồn thu được thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này.

Chương III
ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

Điều 13. Ưu đãi về thuế suất 

1. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước, sản xuất sản phẩm phần mềm được áp dụng thuế suất 10% trong thời gian mười lăm năm.

2. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường được áp dụng thuế suất 10%.

3. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được áp dụng thuế suất 20% trong thời gian mười năm.

4. Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và quỹ tín dụng nhân dân được áp dụng thuế suất 20%.

5. Đối với dự án cần đặc biệt thu hút đầu tư có quy mô lớn và công nghệ cao thì thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể kéo dài thêm, nhưng thời gian kéo dài thêm không quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này.

6. Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi quy định tại Điều này được tính từ năm đầu tiên doanh nghiệp có doanh thu.

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này.

Điều 14. Ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế

1. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước, sản xuất sản phẩm phần mềm; doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường được miễn thuế tối đa không quá bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá chín năm tiếp theo.

2. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được miễn thuế tối đa không quá hai năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá bốn năm tiếp theo.

3. Thời gian miễn thuế, giảm thuế quy định tại Điều này được tính từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế; trường hợp doanh nghiệp không có thu nhập chịu thuế trong ba năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu thì thời  gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư.

 Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này.

Điều 15. Các trường hợp  giảm thuế khác

1. Doanh nghiệp sản xuất, xây dựng, vận tải sử dụng nhiều lao động nữ được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp bằng số chi thêm cho lao động nữ.

2. Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp bằng số chi thêm cho lao động là người dân tộc thiểu số .

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này. 

Điều 16. Chuyển lỗ

1. Doanh nghiệp có lỗ được chuyển số lỗ sang năm sau; số lỗ này được trừ vào thu nhập tính thuế. Thời gian được chuyển lỗ không quá năm năm, kể từ năm tiếp theo năm phát sinh lỗ.

2. Doanh nghiệp có lỗ từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản chỉ được chuyển số lỗ vào thu nhập tính thuế của hoạt động này.

Điều 17. Trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp

1. Doanh nghiệp được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam được trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp.

2. Trong thời hạn năm năm, kể từ khi trích lập, nếu Quỹ phát triển khoa học và công nghệ không được sử dụng hoặc sử dụng không hết 70% hoặc sử dụng không đúng mục đích thì doanh nghiệp phải nộp ngân sách nhà nước phần thuế thu nhập doanh nghiệp tính trên khoản thu nhập đã trích lập quỹ mà không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích và phần lãi phát sinh từ số thuế thu nhập doanh nghiệp đó.

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp dùng để tính số thuế thu hồi là thuế suất áp dụng cho doanh nghiệp trong thời gian trích lập quỹ.

Lãi suất tính lãi đối với số thuế thu hồi tính trên phần quỹ không sử dụng hết là lãi suất trái phiếu kho bạc loại kỳ hạn một năm áp dụng tại thời điểm thu hồi và thời gian tính lãi là hai năm.

Lãi suất tính lãi đối với số thuế thu hồi tính trên phần quỹ sử dụng sai mục đích là lãi phạt chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế và thời gian tính lãi là khoảng thời gian kể từ khi trích lập quỹ đến khi thu hồi.

3. Doanh nghiệp không được hạch toán các khoản chi từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế.

4. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp chỉ được sử dụng cho đầu tư khoa học và công nghệ tại Việt Nam.

Điều 18. Điều kiện áp dụng ưu đãi thuế

1. Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại các điều 13, 14, 15, 16 và 17 của Luật này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ và nộp thuế theo kê khai.

2. Doanh nghiệp phải hạch toán riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được ưu đãi thuế quy định tại Điều 13 và Điều 14 của Luật này với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh không được ưu đãi thuế; trường hợp không hạch toán riêng được thì thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được ưu đãi thuế được xác định theo tỷ lệ doanh thu giữa hoạt động sản xuất, kinh doanh được ưu đãi thuế trên tổng doanh thu của doanh nghiệp.

3. Việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Điều 13 và Điều 14 của Luật này không áp dụng đối với:

a) Thu nhập quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật này;

b) Thu nhập từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quí hiếm khác;

c) Thu nhập từ kinh doanh trò chơi có thưởng, cá cược theo quy định của pháp luật;

d) Trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.

Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 19. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.

2. Luật này thay thế Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11.

3. Doanh nghiệp đang hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11 tiếp tục được hưởng các ưu đãi này cho thời gian còn lại theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11; trường hợp mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm cả thuế suất ưu đãi và thời gian miễn thuế, giảm thuế thấp hơn mức ưu đãi theo quy định của Luật này thì được áp dụng ưu đãi thuế theo quy định của Luật này cho thời gian còn lại.

4. Doanh nghiệp thuộc diện hưởng thời gian miễn thuế, giảm thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11 mà chưa có thu nhập chịu thuế thì thời điểm bắt đầu tính thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính theo quy định của Luật này và kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

Điều 20. Hướng dẫn thi hành

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều 4, 7, 8,  9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 18 và các nội dung cần thiết khác của Luật này theo yêu cầu quản lý.

 

 

 

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008.

 

            CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

                           Đã ký

                Nguyễn Phú Trọng.

 

 

 

 

 

 

 

            Quyết định số 115/2008/QĐ-TTg ngày 27/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định về công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

 

            Ngày 27/8/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 115/2008/QĐ-TTg quy định về công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Theo quy định này các loại tài sản cần công khai, minh bạch gồm: Nhà, vật kiến trúc, công trình xây dựng, phương tiện đi lại, tài sản được quy định là tài sản cố định (hữu hình) theo quy định của nhà nước về chế độ quản lý tài sản cố định được hình thành từ nguồn gốc ngân sách; tài sản là hàng viện trợ, quà biếu, tặng cho của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, được Nhà nước giao cho các đơn vị, cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng.

            Trong Quyết định số 115/2008/QĐ-TTg nêu rõ các nội dung công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, gồm: Công khai chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; công khai kinh phí, kế hoạch đầu tư, mua sắm, trang bị tài sản nhà nước; công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; công khai việc điều chuyển, thanh lý, bán, chuyển nhượng và các hình thức chuyển đổi sở hữu khác đối với tài sản nhà nước. Nội dung trên được thực hiện định kỳ hằng năm, chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày kết thúc năm dương lịch; công khai việc quản lý, sử dụng các tài sản được viện trợ, quà biếu, tặng cho. Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận tài sản trên, cơ quan, đơn vị nhận viện trợ, quà biếu, tặng cho phải công khai quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền và phương án sử dụng tài sản tại đơn vị mình và báo cáo cơ quan quản lý cấp trên theo quy định.

            Về nguyên tắc, cơ quan có trách nhiệm công khai quản lý, tài sản nhà nước phải cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin về quản lý, sử dụng tài sản qua các hình thức: Công bố trong các kỳ họp thường niên của cơ quan, đơn vị, tổ chức; phát hành ấn phẩm; niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của cơ quan; thông báo bằng văn bản đến các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan; đưa thông tin lên trang thông tin điện tử và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

            Các tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc đối tượng được tiếp nhận thông tin công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có quyền được chất vấn cơ quan, tổ chức, đơn vị về các nội dung công khai trên. Việc chất vấn được thực hiện theo quy chế công khai, dân chủ ở cơ sở. Người có trách nhiệm thực hiện công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước phải trả lời chất vấn cho người chất vấn chậm nhất không quá 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận nội dung chất vấn.

 (MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)