Mục lục

Phần thứ nhất: Một số vấn đề về Kiểm toán và kiểm toán nhà nước của Việt Nam

I- Vài nét về lịch sử phát triển Kiểm toán Nhà nước trên thế giới

II- Các định hướng chủ đạo của công tác kiểm tra tài chính

1. Tính độc lập của kiểm tra tài chính nhà nước

2. Các hình thức hoạt động của cơ quan kiểm toán tối cao

3. Quyền hạn và nghĩa vụ của cơ quan kiểm toán tối cao

III- Sự hình thành và phát triển của Kiểm toán Nhà nước trong nền kinh tế chuyển đổi ở Việt Nam:

1. Về tổ chức và hoạt động của KTNN Việt Nam:

2. Những vấn đề đặt ra về hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của KTNN

Phần thứ hai: Mô hình kiểm toán nhà nước của một số quốc gia trên thế giới

I- Các mô hình KTNN

 

1. Liên bang Nga

2. Liên bang Đức

3. Trung Quốc

 

.Tư vấn pháp luật thuế, kiếm toán

Luật sư tư vấn luật bảo hiểm xã hội trực tuyến (24/7) gọi số : 1900 6162

 

II- Trích dẫn một số điều khoản của Hiến pháp quy định về địa vị pháp lý, chức năng và nhiệm vụ của cơ quan KTNN

 

1. Liên bang Đức: (Mô hình độc lập với Quốc hội và Chính phủ)

2. Liên bang Nga: (Mô hình trực thuộc Quốc hội)

3. Trung Quốc: (Mô hình trực thuộc Chính phủ)

4. Nhật Bản: (Mô hình trực thuộc Chính phủ)

5. Ba Lan: (Mô hình trực thuộc Quốc hội)

Lời nói đầu

Trên cơ sở phân tích các định hướng chủ đạo của công tác kiểm tra tài chính công, tài liệu tập trung giới thiệu sự hình thành và phát triển của Kiểm toán Nhà nước trong nền kinh tế chuyển đổi của nước ta. Ngoài ra, tài liệu còn cung cấp một số nét sơ lược về mô hình kiểm toán truyền thống và mô hình của các nước trong khu vực. Hy vọng chuyên đề này sẽ cung cấp một số thông tin cơ bản về vấn đề kiểm toán phục vụ công tác nghiên cứu tham khảo của các vị đại biểu Quốc hội.

Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của cơ quan Kiểm toán Nhà nước trong việc biên soạn tài liệu này.

Phần thứ nhất: Một số vấn đề về Kiểm toán và kiểm toán nhà nước của Việt Nam

I- Vài nét về lịch sử phát triển Kiểm toán nhà nước trên thế giới

Kiểm toán có nguồn gốc từ tiếng Latinh, theo nghĩa của từ "Audit". Kiểm toán ra đời từ thời La Mã, thế kỷ thứ III trước Công nguyên. Tuy nhiên, hoạt động kiểm toán chỉ phát triển mạnh mẽ và mang tính phổ biến trong khoảng vài trăm năm trở lại đây. Ở Đức, từ năm 1714, Vua Phổ là Friedrich Wilhelm I đã ra Sắc lệnh thành lập Phòng Thẩm kế tối cao (hay Thẩm kế viện dưới thời Đế chế Đức). Ở Pháp, từ năm 1807, dưới thời Hoàng đế Napoleon I, Toà Thẩm kế (Cour des comptes) đã được thành lập.

Hoạt động kiểm toán xuất phát từ yêu cầu sử dụng hợp lệ và hợp lý các nguồn tài chính của Nhà nước. Bởi vậy, mục tiêu cụ thể của công tác này là sử dụng xác thực và có hiệu quả nguồn kinh phí công, phấn đấu đạt được sự quản lý kinh tế chặt chẽ, tính hợp lệ của công tác quản lý hành chính và việc thông tin cho các cơ quan nhà nước cũng như công luận thông qua việc công bố các báo cáo khách quan về sự ổn định và phát triển của nền tài chính quốc gia.

Kiểm toán hiện diện như một công cụ không thể thiếu được đối với bất kỳ một mô hình kinh tế nào, một hình thái xã hội nào và không hề bị chi phối bởi kiến trúc thượng tầng. Tuy nhiên, hoạt động kiểm toán chỉ thực sự có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia kể từ sau các cuộc cách mạng về kinh tế và hiện đại hoá vào những năm đầu của thế kỷ XX.

Cơ quan Kiểm toán nhà nước (KTNN) ở mỗi quốc gia có những tên gọi khác nhau. Ví dụ: Toà Thẩm kế Cộng hoà Pháp, Cơ quan Tổng Kế toán Hoa Kỳ, Cục Kiểm toán Liên bang Nga, Uỷ ban Kiểm toán và Thanh tra Hàn Quốc, Uỷ ban Kiểm toán và Kiểm soát Ấn Độ; Uỷ ban Kiểm toán Nhật Bản; v.v.. Phần lớn các khu vực trên thế giới đều thành lập Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao của khu vực. Đồng thời các quốc gia cũng gia nhập Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (International Organization of Supreme Audit Institutions-INTOSAI). Cơ quan này gồm có 178 thành viên.

Năm 1996, KTNN Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao - INTOSAI). Năm 1997, KTNN Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức các Cơ quan Kiểm toán tối cao châu Á (Asian Organization of Supreme Audit Institutions - ASOSAI).

II- Các định hướng chủ đạo của công tác kiểm tra tài chính

Ngày nay, việc xác định địa vị pháp lý và các chức năng cơ bản của cơ quan kiểm toán tối cao của một quốc gia thường dẫn chiếu tới ‘’Tuyên bố Lima về những chuẩn mực của kiểm tra tài chính’’. Tuyên bố này được thông qua tại Đại hội lần thứ IX của Tổ chức INTOSAI tháng 10 năm 1997. Không chỉ soạn thảo ra những định hướng chung, Tuyên bố Lima còn tuyển chọn và hệ thống hoá những nguyên tắc cơ bản của kiểm tra tài chính công đã được các quốc gia ứng dụng và công nhận. Tuy không có sự ràng buộc về mặt pháp lý trong phạm vi của từng quốc gia, nhưng có thể thấy Tuyên bố Lima có ảnh hưởng rõ rệt đối với sự phát triển của cơ quan kiểm toán tối cao ở mỗi quốc gia. Các chuẩn mực do Tuyên bố Lima đưa ra được xem là những định hướng chủ đạo trong việc tổ chức một cơ quan kiểm tra tài chính hiệu quả.

1. Tính độc lập của kiểm tra tài chính nhà nước

Tính độc lập của cơ quan kiểm toán tối cao là tiền đề cơ bản trong việc kiểm tra tài chính công. Các cơ quan kiểm toán tối cao chỉ có thể hoạt động một cách khách quan và thật sự hiệu quả khi có vị trí độc lập với cơ quan bị kiểm tra và không phải chịu những tác động từ bên ngoài. Tính độc lập của cơ quan này cần phải được đảm bảo về mặt pháp lý, được ghi nhận bằng Hiến pháp và pháp luật.

Tính độc lập của hoạt động kiểm tra tài chính được thể hiện thông qua việc xác nhận địa vị pháp lý của cơ quan này trong hệ thống tài chính nhà nước, quy chế bổ nhiệm và bãi miễn các thành viên, sự độc lập về tài chính.

2. Các hình thức hoạt động của cơ quan kiểm toán tối cao

Bên cạnh các định hướng về thiết chế và tổ chức, Tuyên bố Lima cũng đưa ra các khuyến nghị về các hình thức kiểm toán, bao gồm việc kiểm tra trước, kiểm tra sau, kiểm tra nội bộ và kiểm tra từ bên ngoài.

Kiểm tra trước đối với một nền tài chính lành mạnh là cần thiết, nhưng đó không phải là nhiệm vụ hàng đầu của cơ quan kiểm toán tối cao. Kiểm tra sau là hoạt động chính của cơ quan này.

Công tác kiểm toán mang tính Nhà nước cần có sự phân biệt rạch ròi giữa kiểm toán ngoại vi (hay ngoại kiểm) và kiểm toán nội bộ (hay nội kiểm). Trong một Nhà nước pháp quyền hiện đại, kiểm toán ngoại vi được thực hiện thông qua KTNN hay nói một cách khác, cơ quan kiểm toán ngoại vi không nằm trong khối tổ chức các cơ quan bị kiểm tra. Kiểm toán nội bộ được hiểu là hoạt động kiểm tra tài chính công trong phạm vi một tổ chức, cơ quan, đơn vị và đặt dưới quyền của người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị đó. Các cơ quan, đơn vị, các tổ chức Nhà nước và các doanh nghiệp Nhà nước có sử dụng Kiểm toán nội bộ đều phải chịu sự kiểm tra của KTNN. KTNN có trách nhiệm đánh giá, kiểm tra chất lượng kiểm toán và ấn định cả những chuẩn mực và quy trình kiểm toán áp dụng cho các tổ chức Kiểm toán nội bộ.

Kiểm toán ngoại vi không mang tính Nhà nước là sự kiểm toán đối với khu vực kinh tế không phải do Nhà nước tổ chức, hoặc là những doanh nghiệp mà Nhà nước không phải là chủ sở hữu chính. Những doanh nghiệp như vậy, chịu sự kiểm toán của các tổ chức Kiểm toán độc lập (hay còn gọi là các Công ty dịch vụ tư vấn kế toán và kiểm toán).

Về nguyên tắc, các cơ quan kiểm toán tối cao phải đạt được các mục tiêu kiểm toán, bao gồm: tính hợp pháp, tính tuân thủ, tính kinh tế, đúng mục đích và tính tiết kiệm ngang bằng như nhau.

3. Quyền hạn và nghĩa vụ của cơ quan kiểm toán tối cao

Với tư cách là cơ quan kiểm tra tài chính công tối cao, KTNN phải thực hiện 4 nhiệm vụ quan trọng:

Một là, KTNN phải báo cáo và tư vấn cho Quốc hội về những vấn đề có liên quan trong quá trình ra các quyết định của Quốc hội, không chỉ vì Quốc hội là cơ quan giám sát cơ quan hành pháp, mà còn với tư cách là cơ quan ban hành Luật NSNN và các đạo luật chuyên môn có hiệu lực tài chính.

Hai là, KTNN phải báo cáo, tư vấn và giải toả trách nhiệm cho Chính phủ, cụ thể là cho các cấp quản lý hành chính Nhà nước, các Bộ, ban, ngành trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, cũng như về tác động tài chính của những biện pháp đề ra.

Ba là, KTNN thực hiện chức năng phòng ngừa và răn đe đối với bộ máy hành chính Nhà nước nhằm chống lại việc sử dụng phung phí và lạm dụng các phương tiện tài chính của Nhà nước.

Bốn là, KTNN cần thông báo công khai trước công luận về việc sử dụng các phương tiện tài chính Nhà nước của Chính phủ và Quốc hội.

4 nhiệm vụ trên là biểu thị th­ước đo giá trị thành công của một cơ quan KTNN với tư cách là cơ quan công quyền có chức năng kiểm tra tài chính công tối cao của Nhà nước.

Để cơ quan KTNN có thể đảm nhiệm được những chức năng, nhiệm vụ của mình trong một Nhà nước pháp quyền thì đòi hỏi 3 tiền đề cơ bản, đó là:

1. Tính độc lập của cơ quan KTNN với các cơ quan quyền lực khác của Nhà nước phải được đảm bảo bằng Hiến pháp và pháp luật:

- Đảm bảo tính độc lập về tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động.

- Đảm bảo quyền chủ động của cơ quan KTNN trong việc xây dựng Chương trình kế hoạch kiểm toán, mục tiêu của mỗi cuộc kiểm toán và nội dung kiểm toán.

- Đảm bảo quyền được công khai kết quả kiểm toán trước công luận.

2. Nguyên tắc kiểm toán đầy đủ phải được thể chế hoá trong luật:

- Về nguyên tắc, cơ quan KTNN phải có thẩm quyền kiểm toán tất cả các chức năng Nhà nước có tác động đến ngân sách, không phụ thuộc vào việc những chức năng đó được thực hiện dưới bất cứ hình thức pháp lý nào. Nếu lĩnh vực nào đó (bí mật quốc gia) mà không muốn kiểm toán thì cũng phải xác định rõ bằng luật và thông báo cho công luận biết.

- Thẩm quyền kiểm toán của cơ quan KTNN phải không bị hạn chế về thực chất. Điều đó có nghĩa là, bao gồm cả việc kiểm tra tính hợp pháp, tính tuân thủ, tính kinh tế và tính tiết kiệm của các hoạt động kinh tế nhà nước.

3. Phải có một tài phán độc lập để cơ quan KTNN có thể khiếu kiện khi tính độc lập và thẩm quyền kiểm toán của mình bị xâm phạm:

- Khi tính độc lập của mình bị xâm phạm thì con đ­ường pháp lý mở ra đối với cơ quan KTNN là kiện lên Toà án tối cao.

- Đối với kiểm tra tài chính, khi có v­ướng mắc về thẩm quyền kiểm toán thì sẽ được giải quyết thông qua các Toà hành chính.

Ngay trong 178 nước có cơ quan KTNN là thành viên của INTOSAI, việc đáp ứng những tiền đề này rất khác nhau và chắc chắn, hiệu lực của chúng cũng rất khác nhau.

III- Sự hình thành và phát triển của Kiểm toán Nhà nước trong nền kinh tế chuyển đổi ở Việt Nam

1. Về tổ chức và hoạt động của KTNN Việt Nam

Để tăng cườờng sự quản lý của Nhà nước trong việc sử dụng ngân sách Nhà nước và công quỹ quốc gia, bảo đảm tính trung thực, chính xác, hợp pháp và hợp lệ của việc sử dụng nguồn lực tài chính công; ngăn ngừa đối với sự xâm phạm tài sản Nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền có hiệu lực trong việc quản lý kinh tế - xã hội, đòi hỏi phải thành lập một cơ quan độc lập với cơ quan trực tiếp quản lý ngân sách và tài sản Nhà nước. Cơ quan này sẽ kiểm tra tính tuân thủ trong việc sử dụng tiền của của nhân dân theo những quy định của pháp luật hiện hành; đảm bảo sự minh bạch về tài chính và hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính này.

Chính vì vậy, ngày 11/7/1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/CP về việc thành lập cơ quan KTNN và Quyết định số 61/TTg ngày 24/01/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Kiểm toán nhà nước nhằm "giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của các tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế Nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội có sử dụng kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp" (Điều 1); đánh giá sự tuân thủ pháp luật và hiệu quả hoạt động của các đơn vị được kiểm toán.

Với tinh thần đó, hàng năm các số liệu, báo cáo quyết toán ngân sách của các địa phương trước khi trình ra Hội đồng nhân dân; Tổng quyết toán NSNN trước khi trình ra Quốc hội; báo cáo quyết toán của các cơ quan, đơn vị thụ hưởng ngân sách, các chương trình, dự án, công trình đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước, các DNNN cần phải được KTNN tiến hành kiểm toán và xác nhận.

Cơ cấu tổ chức bộ máy giúp Tổng Kiểm toán Nhà nước thực hiện nhiệm vụ được giao gồm: 4 tổ chức KTNN chuyên ngành (Kiểm toán Ngân sách Nhà nước; Kiểm toán Đầu tư­ xây dựng cơ bản và các chương trình, dự án, vay nợ, viện trợ Chính phủ; Kiểm toán Doanh nghiệp Nhà nước; Kiểm toán Chương trình đặc biệt: an ninh, quốc phòng, dự trữ quốc gia)...; Văn phòng Kiểm toán Nhà nước; Trung tâm Khoa học và bồi dưỡng cán bộ; Phòng Thanh tra và kiểm tra nội bộ và 4 tổ chức KTNN khu vực (KTNN khu vực phía Bắc, KTNN khu vực miền Trung, KTNN khu vực phía Nam và KTNN khu vực miền Tây Nam Bộ).

Đứng đầu KTNN là Tổng Kiểm toán Nhà nước, giúp Tổng Kiểm toán Nhà nước phụ trách từng lĩnh vực công tác của KTNN có các Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước. Tổng Kiểm toán Nhà nước và các Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm. Đứng đầu các Kiểm toán chuyên ngành và KTNN khu vực là Kiểm toán trưởng (Vụ trưởng); giúp việc Kiểm toán trưởng có các Phó Kiểm toán trưởng. Kiểm toán trưởng và Phó Kiểm toán trưởng do Tổng Kiểm toán Nhà nước bổ nhiệm và miễn nhiệm.

Kinh phí hoạt động của hệ thống KTNN do NSNN cấp. Biên chế của hệ thống KTNN thuộc biên chế quản lý Nhà nước. Tổng Kiểm toán Nhà nước xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt biên chế và kinh phí hoạt động của hệ thống kiểm toán.

Hiện nay, KTNN có 460 cán bộ, kiểm toán viên và nhân viên. Qua 7 năm hoạt động từ 1994 tới 2001, KTNN đã khẳng định được sự cần thiết và vai trò quan trọng của mình; góp phần tăng cường quản lý làm lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia.

Trong quá trình hoạt động, vai trò của KTNN không ngừng được củng cố và tăng cường thông qua kết quả kiểm toán đã đạt được, thể hiện trên một số mặt chủ yếu sau:

Thứ nhất, góp phần kiểm tra việc chấp hành những quy định hiện hành về nghĩa vụ nộp NSNN, thực hiện nộp đúng, nộp đủ theo quy định của pháp luật. Kết quả kiểm toán ở các đơn vị và địa phương trong 7 năm qua, KTNN đã phát hiện và kiến nghị tăng thu, tiết kiệm chi cho NSNN gần 4000 tỷ đồng, trong đó tăng thu về thuế trên 2000 tỷ đồng, tiết kiệm chi NSNN gần 1000 tỷ đồng và đưa vào quản lý qua NSNN trên 800 tỷ đồng.

Thứ hai, kiểm soát việc sử dụng NSNN, chống thất thoát, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản Nhà nước. Trong điều kiện nhu cầu chi NSNN rất lớn, khả năng đáp ứng các nhu cầu này còn hết sức hạn hẹp thì việc tăng c­ường quản lý NSNN, hạn chế thất thoát, lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội đã được hoạch định. Ngoài việc phát hiện và xuất toán, bồi hoàn NSNN hàng ngàn tỷ đồng do chi sai chính sách chế độ, lập quỹ trái phép... KTNN đã phát hiện và kiến nghị xử lý những sai phạm về quản lý kinh tế- tài chính góp phần tăng cường kỷ luật tài chính, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của Nhà nước.

Thứ ba, cung cấp dữ liệu phục vụ các cơ quan quản lý tài chính và NSNN sát thực và có hiệu quả hơn. Thông qua việc kiểm tra tài chính, KTNN đã chỉ ra những điểm bất hợp lý trong việc xác định những chỉ tiêu thu, nhiệm vụ chi NSNN và tình hình chấp hành dự toán thu-chi ngân sách; góp phần tạo lập căn cứ để xây dựng dự toán NSNN cho những năm sau nhằm thu đúng, thu đủ, chống thất thu cho NSNN; đồng thời kiến nghị việc phân bổ NSNN cho các ngành, lĩnh vực, địa phương một cách hợp lý, thực hành tiết kiệm và nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực tài chính.

Thứ t­ư, thông qua hoạt động kiểm toán, KTNN đã đề xuất kiến nghị một số giải pháp, nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài chính, kế toán Nhà nước phù hợp với tình hình thực tiễn của các ngành, các lĩnh vực hoạt động.

Có thể khẳng định rằng, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 70/CP ngày 11/7/1994, Quyết định số 61/TTg ngày 24/01/1995 và những điều khoản quy định trong Luật Ngân sách Nhà nước đã tạo lập hành lang pháp lý cho hoạt động của KTNN. Sự hình thành và phát triển cơ quan KTNN hoàn toàn phù hợp với tiến trình cải cách hành chính quốc gia và thông lệ quốc tế. Đó là một tất yếu khách quan, là sản phẩm trí tuệ của quá trình đổi mới; đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn, nhằm tăng cường sự kiểm soát của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng NSNN và tài sản quốc gia.

2. Những vấn đề đặt ra về hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của KTNN

Sau 7 năm hoạt động thực tiễn, những kết quả mà KTNN đã đạt được không chỉ khẳng định sự nỗ lực, trưởng thành của cơ quan KTNN mà còn góp phần tích cực vào việc giúp Quốc hội thực hiện chức năng kiểm soát và giám sát quá trình quản lý, điều hành, sử dụng NSNN và công quỹ quốc gia. Song, vấn đề bức xúc hiện nay là làm thế nào để cơ quan KTNN hoạt động có chất lượng và hiệu quả, ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phục vụ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế?

Đã đến lúc cần phải xây dựng chiến lược phát triển KTNN trên cơ sở hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của nó theo những định hướng chính dưới đây:

1. Xác lập địa vị pháp lý của cơ quan KTNN ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ được giao

So với những đòi hỏi có tính nguyên tắc của INTOSAI và đối chiếu với địa vị pháp lý của các cơ quan KTNN trên thế giới, chúng ta thấy rằng: KTNN Việt Nam, mặc dù được coi là công cụ kiểm tra tài chính quan trọng của Nhà nước nhưng đến nay, KTNN vẫn chưa có vai trò và địa vị pháp lý tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao, chưa đảm bảo tính độc lập, khách quan trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát việc thu-chi NSNN. Có lẽ do KTNN mới được thành lập từ năm 1994, nên tổ chức và hoạt động của cơ quan này vẫn chưa được Hiến pháp, Luật hoặc Pháp lệnh điều chỉnh, để làm căn cứ thực thi nhiệm vụ có hiệu lực và hiệu quả cao.

Trong điều kiện của Việt Nam, thể chế và tổ chức bộ máy Nhà nước theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Việc xác lập vị trí độc lập trong hoạt động của KTNN là hết sức quan trọng và cần thiết. Đây là một trong những điều kiện để đảm bảo tính khách quan của công tác kiểm toán. Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm tính độc lập, khách quan và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động của KTNN; giúp Quốc hội trong việc thẩm tra và giám sát các hoạt động kinh tế- tài chính, đảm bảo những thông tin dữ liệu có độ tin cậy cao để quyết định những vấn đề cơ bản được quy định tại Điều 83 và Điều 84 của Hiến pháp 1992 nước CHXHCN Việt Nam.

Trong tình hình hiện nay, còn quá nhiều cơ quan thanh tra, kiểm tra lĩnh vực tài chính Nhà nước, dẫn đến tình trạng trùng lặp, chồng chéo, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra, kiểm tra. Vì vậy, cần xác định rõ đối tượng, phạm vi hoạt động, quyền hạn và trách nhiệm của KTNN; đồng thời, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của KTNN với các cơ quan thanh tra, kiểm tra lĩnh vực tài chính Nhà nước; cần có sự phối kết hợp chặt chẽ trong hoạt động của các cơ quan này, đảm bảo tính đồng bộ thực sự có hiệu lực trong quản lý kinh tế-tài chính của đất nước. Đồng thời, cần sớm có kế hoạch xây dựng Luật tổ chức KTNN nhằm đảm bảo sự phối hợp đồng bộ, có hiệu quả với các cơ quan chức năng theo các văn bản luật hiện hành, ví dụ Luật NSNN, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật tổ chức Toà án nhân dân tối cao,...

KTNN Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức ASOSAI và Tổ chức INTOSAI nên ngoài những chức năng, nhiệm vụ hiện có cần bổ sung cho phù hợp với thông lệ quốc tế: KTNN thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động, từng b­ớc tiến tới lấy kiểm toán hoạt động làm trọng tâm trong mọi cơ quan, tổ chức có sử dụng kinh phí của Nhà nước. KTNN giúp Quốc hội thẩm tra tính trung thực và tính hiệu quả của các dự án đầu tư XDCB, dự toán và Tổng quyết toán NSNN hàng năm. KTNN được quyền độc lập trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động kiểm toán, bao gồm cả quyền đình chỉ, gia hạn hoặc thay đổi kế hoạch kiểm toán. Trong trường hợp cần thiết, KTNN có quyền yêu cầu cá nhân hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên ngành có liên quan đến cuộc kiểm toán đang thực hiện theo phương thức hợp đồng dịch vụ. KTNN có quyền công bố công khai kết quả kiểm toán; quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền đình chỉ tạm thời hoạt động, phong toả tài khoản, yêu cầu tuyên bố phá sản của các đơn vị được kiểm toán trong các trường hợp xét thấy cần thiết; quyền chuyển hồ sơ, tài liệu cho các cơ quan bảo vệ pháp luật về các vi phạm pháp luật có dấu hiệu cấu thành tội phạm.

2. Kiện toàn cơ cấu tổ chức và tiêu chuẩn hoá đội ngũ Kiểm toán viên Nhà nước

Cơ cấu tổ chức của KTNN hiện nay đang trong quá trình hình thành và phát triển. Nó vừa phải tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm tốt của các nước trong khu vực và trên thế giới, vừa phải phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Quan điểm chỉ đạo trong việc xây dựng và kiện toàn tổ chức KTNN là: thống nhất quyền lực và tập trung quyền lực, đảm bảo thông tin kịp thời, đáp ứng yêu cầu mở rộng phạm vi và quy mô kiểm toán, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan Nhà nước nói chung và cơ quan KTNN nói riêng, đưa KTNN Việt Nam phát triển ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Chất lượng hoạt động của cơ quan KTNN là một chỉ tiêu có tính chất tổng hợp, nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như­ chất lượng của hệ thống pháp luật về kinh tế, con người tham gia vào các mối quan hệ kinh tế... Trong đó, công tác tổ chức và đặc biệt là công tác cán bộ đóng vai trò hết sức quan trọng. Công tác cán bộ vừa là một điều kiện tiên quyết, vừa là một nhân tố có ý nghĩa quyết định việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn 2001- 2010. Vì vậy, cùng với việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế hiện hành cho phù hợp với tình hình thực tiễn nhằm xác định căn cứ để hoàn thiện hệ thống pháp luật về KTNN (bao gồm: hệ thống các Chuẩn mực KTNN, Quy trình KTNN, Quy chế hoạt động của KTNN, Quy chế làm việc của các Đoàn kiểm toán,...).

Tiêu chuẩn hoá đội ngũ Kiểm toán viên Nhà nước cả về phẩm chất đạo đức, năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ và trình độ chuyên môn hoá theo hướng: thống nhất trong đa dạng (đa dạng hoá ngành nghề, đa dạng hoá môi trường đào tạo, đa dạng hoá kiến thức bổ trợ,...); có chính sách, chế độ đãi ngộ hợp lý đối với đội ngũ cán bộ, kiểm toán viên để tránh mọi tiêu cực, phiền hà. Tăng cường cơ sở vật chất-kỹ thuật, phương tiện làm việc. Ngân sách hoạt động của cơ quan KTNN hàng năm do Tổng Kiểm toán Nhà nước lập và trình Quốc hội quyết định. Có như vậy, mới đảm bảo các điều kiện cần thiết để KTNN thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao và các nhiệm vụ khác khi có yêu cầu của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

3. Bổ nhiệm và miễn nhiệm chức vụ Tổng Kiểm toán Nhà nước và các chức vụ khác

Việc bổ nhiệm và miễn nhiệm chức vụ Tổng Kiểm toán Nhà nước phải bảo đảm tính độc lập và ngang tầm với tầm quan trọng của cơ quan có tính chất đặc biệt này. Việc bổ nhiệm và miễn nhiệm chức vụ Tổng Kiểm toán Nhà nước cũng trực tiếp ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của cơ quan KTNN.

Ở Việt Nam, trình tự và thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng Kiểm toán Nhà nước, Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán viên cao cấp, Kiểm toán viên chính và Kiểm toán viên nên được quy định phù hợp với địa vị pháp lý của KTNN chế định trong Hiến pháp, trong Luật tổ chức KTNN và các Luật có liên quan như: Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ...

Việc bổ nhiệm chức vụ Tổng Kiểm toán Nhà nước và các chức vụ khác cần tuân theo trình tự, thủ tục như đã nêu ở trên để tạo nên một vị thế độc lập có tính bền vững; đồng thời, không bị chi phối bởi những ảnh hưởng từ phía các chủ thể được kiểm toán.

Tóm lại, trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đòi hỏi tất yếu phải xây dựng cơ quan KTNN với tư cách là một cơ quan kiểm tra tài chính công cao nhất của Nhà nước. Việc xác định địa vị pháp lý, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực của KTNN là hết sức quan trọng và cần thiết, góp phần tích cực vào quá trình công khai hoá và dân chủ hoá, thực hiện "Dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra" đối với mọi hoạt động kinh tế của quốc gia.

Phần thứ hai: Mô hình kiểm toán nhà nước của một số quốc gia trên thế giới

I- Các mô hình KTNN

Trong số 178 thành viên chính thức của Tổ chức Quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI), mô hình các cơ quan KTNN không giống nhau. Một số KTNN trực thuộc Quốc hội, một số trực thuộc Chính phủ, số còn lại trực thuộc Tổng thống, trực thuộc Nhà Vua hoặc độc lập hoàn toàn với Quốc hội và Chính phủ.

Theo thống kê sơ bộ, trong số 85 nước được khảo sát:

- 36 nước có cơ quan KTNN trực thuộc Quốc hội: Hoa Kỳ, Nga, Anh, Đan Mạch, Ôxtrâylia, Hunggari, Phần Lan, Ba Lan, Séc, Hà Lan, Áo, Lítva, Braxin, Mêhicô, Êcuađo, Côlômbia, Cô-xta-ri-ca, Guatêmala, Namibia, Canađa, Uganđa, Vênêxuêla, Gana, Hônđurat, Urugoay, CH Đôminica, Puêtô Ricô, CH Xêy-chê-lê, Nicaragua, Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ, Mianma, Gióocđani, Papua Niu Ghinê, Xri-lanca, Ixraen.

- 16 nước có cơ quan KTNN trực thuộc Chính phủ: Trung Quốc, Nhật Bản, Arập Xêút, Thái lan, Lào, Campuchia, Thuỵ Điển, Pêru, Achentina, Bốt-xoa-na, Đôminích, En Sanvađo, Môrixơ, Kiribati, Xanh Luxia, Xanh Vinxen.

- 14 nước có cơ quan KTNN trực thuộc Tổng thống: Hàn Quốc, Chi-lê, Băng-la-đét, Bô-li-vi-a, Tan-da-ni-a, Guy-a-na, Ấn Độ, Ma-la-uy, Man-ta, Dăm-bi-a, Pa-ra-goay, Gia-mai-ca, Pa-ki-xtan, Be-li-ze.

- 2 nước có cơ quan KTNN trực thuộc nhà Vua: Nê-pan, Bru-nây.

- 17 nước có cơ quan KTNN độc lập hoàn toàn: Đức, Malaixia, Síp, Pháp, Phi-lip-pin, In-đô-nê-si-a, Hy Lạp, CH Xu-đăng, Tây Ban Nha, Panama, Xu-ri-nam, Luých-xăm-bua, Thụy Sĩ, Bồ Đào Nha, Italia, Ôman, Ki-rơ-gi-xtan.

Xin giới thiệu 3 mô hình cơ quan kiểm toán tối cao quốc gia: Cơ quan KTNN trực thuộc Quốc hội (CHLB Nga), trực thuộc Chính phủ (Trung Quốc) và mô hình độc lập (CHLB Đức).

1. Liên bang Nga

a. Vị trí: Kiểm toán nhà nước liên bang Nga (KTNNLB) là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của hệ thống kiểm tra tài chính Nhà nước, được lập ra bởi Hội nghị Liên bang và trực thuộc Hội nghị.

KTNNLB Nga trong hoạt động của mình tuân thủ theo Hiến pháp Liên bang, Đạo luật KTNN và các Đạo luật khác của Liên bang Nga. Trong khuôn khổ các nhiệm vụ do luật định, KTNNLB Nga độc lập về tổ chức và chức năng.

KTNNLB Nga là một pháp nhân, có con dấu khắc hình Quốc huy Liên bang.

b. Nhiệm vụ: Tổ chức và thực hiện kiểm tra việc hoàn thành đúng thời hạn các khoản thu, khoản chi của Ngân sách Liên bang và ngân sách các quỹ Liên bang nằm ngoài ngân sách Liên bang, cả về số lượng, cơ cấu và mục tiêu.

Đánh giá cơ sở lý giải của các khoản thu, khoản chi trong các dự toán ngân sách Liên bang và ngân sách các quỹ Liên bang nằm ngoài ngân sách Liên bang.

Thẩm định về mặt tài chính các dự thảo Luật Liên bang, các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan quyền lực Nhà nước Liên bang khác có dự kiến các khoản chi lấy từ ngân sách Liên bang hoặc ảnh hưởng đến việc thành lập và sử dụng ngân sách Liên bang cũng như ngân sách của các quỹ Liên bang nằm ngoài ngân sách Liên bang.

Phân tích việc không thực hiện đúng các chỉ tiêu đã xác định của ngân sách Liên bang và của ngân sách các quỹ Liên bang nằm ngoài ngân sách Liên bang, cũng như chuẩn bị các kiến nghị nhằm khắc phục các sai sót đó và hoàn thiện ngân sách Liên bang.

Kiểm tra tính hợp pháp và tính kịp thời của việc chuyển ngân sách Liên bang và ngân sách các quỹ Liên bang nằm ngoài ngân sách Liên bang trong Ngân hàng Trung ­ương Nga, trong các Ngân hàng được uỷ nhiệm và các tổ chức tín dụng khác của Liên bang.

Đệ trình thường xuyên các thông tin về việc thực hiện ngân sách Liên bang cũng như kết quả các hoạt động kiểm toán lên Hội đồng Liên bang và Viện Duma quốc gia.

c. Tổ chức bộ máy: KTNNLB bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Kiểm toán trưởng và bộ máy giúp việc của KTNNLB.

Chủ tịch KTNNLB do Viện Duma quốc gia bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 6 năm. Nghị quyết về việc bổ nhiệm Chủ tịch KTNNLB được Viện Duma quốc gia thông qua với đa số phiếu cuả tất cả đại biểu Viện Duma quốc gia. Mọi công dân Liên bang Nga đã tốt nghiệp Đại học tổng hợp, có kinh nghiệm trong lĩnh vực hành chính Nhà nước, kiểm tra Nhà nước, kinh tế và tài chính đều có thể được bổ nhiệm làm Chủ tịch KTNNLB.

Chủ tịch KTNNLB không được có quan hệ họ hàng với Tổng thống Liên bang Nga, Chủ tịch Hội đồng Liên bang, Chủ tịch Viện Duma quốc gia, Chủ tịch Chính phủ Liên bang, Thủ trưởng Phủ Tổng thống Liên bang, Chánh Toà án tối cao Liên bang và Chủ tịch Hội đồng trọng tài tối cao Liên bang.

Chủ tịch KTNNLB có quyền tham dự các phiên họp của Hội đồng Liên bang, Viện Duma quốc gia, các Uỷ ban và tiểu ban của Nghị viện, các phiên họp của Chính phủ Liên bang và của Đoàn Chủ tịch Chính phủ Liên bang.

Chủ tịch KTNNLB không được phép là Đại biểu của Viện Duma quốc gia, là thành viên của Chính phủ Liên bang, không được làm bất kỳ công việc nào có tính chất sinh lợi, trừ công tác giảng dạy khoa học nghệ thuật...

Phó Chủ tịch KTNNLB do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 6 năm. Nghị quyết bổ nhiệm Phó Chủ tịch KTNNLB được thông qua bởi đa số tất cả các đại biểu Hội đồng Liên bang.

d. Đánh giá kết quả kiểm toán: KTNNLB đánh giá một cách có hệ thống các kết quả thu được từ các biện pháp kiểm tra, khái quát chúng và nghiên cứu các nguyên nhân và hậu quả của các việc sai trái và vi phạm trong khi tạo các nguồn thu và chi từ ngân sách Liên bang.

Trên cơ sở các dữ liệu có được, KTNNLB xây dựng các kiến nghị nhằm hoàn thiện Luật Ngân sách và tiếp tục phát triển hệ thống tài chính và ngân sách của Liên bang, trình lên Viện Duma quốc gia.

e. Các kiến nghị của KTNNLB: Dựa vào các kết quả do các biện pháp kiểm tra đưa lại, KTNNLB kiến nghị với các cơ quan Nhà nước Liên bang, Thủ trưởng các cơ quan, doanh nghiệp được kiểm toán về các biện pháp để khắc phục các thiếu sót, truy cứu trách nhiệm của các quan chức đã vi phạm các Đạo luật của Liên bang và gây ra bê bối.

Kiến nghị của KTNNLB phải được xem xét trong thời hạn được ấn định, nếu không có thời hạn thì là 20 ngày kể từ ngày nhận được chúng. Các biện pháp được đư­a ra để thực hiện kiến nghị phải được thông báo ngay cho KTNNLB. Nếu trong khi tiến hành kiểm toán mà phát hiện việc biển thủ phương tiện tài chính hoặc tài sản Nhà nước cũng như­ các vụ việc lạm dụng chức vụ khác thì KTNNLB chuyển ngay lập tức các hồ sơ, tài liệu cho các cơ quan bảo vệ pháp luật.

2. Liên bang Đức

a. Vị trí: KTNN Liên bang là cơ quan tối cao của Liên bang, với tư­ cách một cơ quan kiểm tra tài chính độc lập chỉ tuân thủ pháp luật. Trong khuôn khổ những nhiệm vụ theo luật định, KTNN Liên bang hỗ trợ Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang và Chính phủ Liên bang trong việc ra quyết định của các cơ quan này.

Địa vị pháp lý của KTNN Liên bang và các thành viên cũng như­ những nhiệm vụ cơ bản được đảm bảo bằng Hiến pháp. Những vấn đề cụ thể được quy định trong các đạo luật riêng (Luật KTNN Liên bang, Luật Ngân sách Liên bang).

b. Nhiệm vụ:

(1) Toàn bộ công tác quản lý ngân sách và kinh tế của Liên bang, kể cả các tài sản đặc biệt và xí nghiệp của Liên bang đều được KTNN Liên bang kiểm toán theo chuẩn mực.

(2) Trên cơ sở kinh nghiệm kiểm toán, KTNN Liên bang có thể tư vấn cho Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang, Chính phủ Liên bang và cho từng Bộ của Liên bang về những vấn đề có liên quan. Khi KTNN Liên bang tư vấn cho Quốc hội hoặc Hội đồng Liên bang thì đồng thời cũng thông báo cho Chính phủ Liên bang.

(3) KTNN Liên bang tổng hợp những kết luận kiểm toán của mình vào những Báo cáo kiểm toán gửi cho các đơn vị được kiểm toán, để đơn vị này trình bày quan điểm.

(4) Hàng năm, KTNN Liên bang báo cáo những kết quả kiểm toán quan trọng cho Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang và Chính phủ Liên bang dưới hình thức những "Báo cáo tổng hợp" (Báo cáo năm). Nó là cơ sở để Quốc hội Liên bang vãn hồi trách nhiệm cho Chính phủ Liên bang. Báo cáo này cũng được giới thiệu trước công luận trong một cuộc họp báo Liên bang.

(5) KTNN Liên bang có thể thông báo bất kể lúc nào về những vấn đề có ý nghĩa quan trọng cho Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang và Chính phủ Liên bang (Báo cáo đặc biệt).

(6) KTNN Liên bang chẳng những tư vấn cho các cơ quan hành pháp và lập pháp thông qua những kiến nghị trong Báo cáo kiểm toán và Báo cáo năm, mà trước hết thông qua các bài tham luận (bằng văn bản hoặc bằng miệng) về những chủ đề thời sự (như những dự án mua sắm với lượng tài chính lớn) hoặc trong khuôn khổ xây dựng dự toán ngân sách.

c. Phạm vi hoạt động: KTNN Liên bang kiểm tra:

- Các khoản thu, các khoản chi, các nghĩa vụ chi tài sản và các khoản nợ.

- Các chương trình có ảnh hưởng tới tài chính.

- Các khoản lưu giữ và tạm ứng.

- Việc sử dụng các kinh phí được bổ sung nhằm tự tạo vốn.

Theo Điều 88, Quy chế Ngân sách Liên bang ban hành ngày 19/8/1969, KTNN Liên bang có thể giới hạn phạm vi kiểm toán và cho phép miễn kiểm tra các hoạt động kế toán.

d. Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động:

- 9 Vụ kiểm toán, mỗi Vụ có 6 Phòng kiểm toán, bao gồm khoảng 600 kiểm toán viên.

- 9 KTNN Khu vực gồm 500 Kiểm toán viên.

- Khoảng 1.500 kiểm toán viên trong các cơ quan của Liên bang.

- Kế hoạch ngân sách KTNN Liên bang được 78 triệu DM.

- Kế hoạch ngân sách KTNN Khu vực được 92 triệu DM.

Những quyết định của KTNN Liên bang được biểu quyết tập thể. Trong trường hợp bình thường thì 2 thành viên hữu trách ra quyết định (Vụ trưởng và Trưởng Phòng kiểm toán). Trong một số trường hợp nhất định thì Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch sẽ tham gia vào Hội đồng (Hội đồng 3 thành viên). Những quyết định trong Hội đồng 2 hoặc 3 thành viên chỉ có thể thông qua với sự nhất trí của tất cả các thành viên. Đại hội đồng của KTNN Liên bang chỉ quyết nghị về những vấn đề v­ợt ra ngoài khuôn khổ 1 Vụ hoặc đặc biệt quan trọng.

3. Trung Quốc

Luật kiểm toán Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ban hành ngày 31/8/1994 quy định cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm toán nhà nước.

Mục đích của hoạt động kiểm toán: Nhằm tăng cường sự kiểm tra Nhà nước về tài chính, bảo đảm trật tự Nhà nước về kinh tế và tài chính, khuyến khích xây dựng chính sách cởi mở và bảo đảm sự phát triển kinh tế quốc dân lành mạnh.

Các lĩnh vực chịu kiểm toán:

- Việc thực hiện ngân sách thuộc các ngành của Quốc vụ viện và chính quyền nhân dân địa phương các cấp.

- Các khoản thu, khoản chi của các cơ quan tài chính Nhà nước, các doanh nghiệp và tổ chức.

Cơ quan kiểm toán hoạt động theo luật, nhằm kiểm tra tính đúng đắn, tính hợp pháp và tính kinh tế của việc thực hiện ngân sách và các khoản thu, khoản chi của các cơ quan nói trên.

Quốc vụ viện và chính quyền địa phương từ cấp huyện trở lên hàng năm phải trình lên Uỷ ban thường vụ Đại hội nhân dân cấp mình báo cáo hoạt động của Cơ quan Kiểm toán đối với việc thực hiện ngân sách và các khoản thu, khoản chi khác.

- Các cơ quan Kiểm toán thực hiện sự kiểm toán theo pháp luật một cách độc lập, không có sự can thiệp của cơ quan hành chính, tổ chức và cá nhân khác.

- Quốc vụ viện lập ra KTNN để lãnh đạo hoạt động kiểm toán trong toàn quốc dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Quốc vụ viện. Tổng Kiểm toán là người lãnh đạo KTNN.

- Các Cơ quan kiểm toán địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo với chính quyền nhân dân cùng cấp và Cơ quan kiểm toán cấp trên. Về mặt chuyên môn thì trước hết Cơ quan Kiểm toán cấp trên chịu trách nhiệm.

- Các Cơ quan Kiểm toán kiểm tra việc thực hiện ngân sách và việc quyết toán ngân sách cũng như việc quản lý và sử dụng các phương tiện nằm ngoài ngân sách cùng cấp (kể cả các đơn vị cấp dưới trực thuộc trực tiếp) và của cả chính quyền nhân dân cấp dưới.

KTNN kiểm toán và kiểm tra:

+ Các khoản thu và các khoản chi của Ngân hàng TW. Các Cơ quan Kiểm toán kiểm toán và kiểm tra các tài sản, các khoản nợ, lợi nhuận và thua lỗ của các tổ chức tài chính Nhà nước.

+ Các khoản thu và các khoản chi của các cơ quan Nhà nước được lập ra theo Luật định.

+ Các tài sản, nợ, lợi nhuận và thua lỗ của các DNNN.

+ Việc thực hiện ngân sách và các khoản thu, khoản chi của các công trình xây dựng Nhà nước.

+ Các khoản thu, khoản chi của các quỹ bảo hiểm xã hội, các khoản tài chính được quyên góp trong xã hội và các quỹ có liên quan do các tổ chức được cơ quan Nhà nước hoặc Chính phủ giao cho quản lý.

+ Các khoản thu, khoản chi, các khoản trợ giúp tài chính và khoản vay của các tổ chức tài chính quốc tế và Chính phủ nước ngoài.

II- Trích dẫn một số điều khoản của Hiến pháp quy định về địa vị pháp lý, chức năng và nhiệm vụ của cơ quan KTNN

1. Liên bang Đức: (Mô hình độc lập với Quốc hội và Chính phủ)

* Điều 114 (khoản 2): KTNN Liên bang, với các Uỷ viên kiểm toán có tính độc lập như các Thẩm phán, kiểm tra báo cáo quyết toán cũng như tính tuân thủ và tính hiệu quả của công tác quản lý ngân sách và quản lý kinh tế. Hàng năm, ngoài trách nhiệm báo cáo với Chính phủ Liên bang, KTNN Liên bang có trách nhiệm báo cáo trực tiếp với Quốc hội Liên bang và Hội đồng Liên bang. Ngoài ra, các quyền hạn của KTNN Liên bang được quy định tại Luật Liên bang.

2. Liên bang Nga: (Mô hình trực thuộc Quốc hội)

* Điều 105 (khoản 5): Để thực hiện việc kiểm tra chấp hành Ngân sách Liên bang, Hội đồng Liên bang và Đuma quốc gia thành lập KTNN Liên bang. Tổ chức và cơ chế hoạt động của KTNN Liên bang quy định bởi Luật Liên bang.

3. Trung Quốc: (Mô hình trực thuộc Chính phủ)

* Điều 91: Quốc vụ viện lập một Cơ quan KTNN để kiểm toán và kiểm tra các khoản thu, chi của các cơ quan thuộc Quốc vụ viện, chính quyền địa phương các cấp, các tổ chức tài chính và tiền tệ của Nhà nước, các cơ quan và xí nghiệp.

Dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Quốc vụ viện, Cơ quan KTNN thực hiện nhiệm vụ kiểm toán và giám sát một cách độc lập theo các văn bản quy phạm pháp luật, không có sự can thiệp của các tổ chức hành chính hay cá nhân nào.

* Điều 109: UBND từ cấp huyện trở lên thành lập các Cơ quan Kiểm toán. Cơ quan Kiểm toán địa phương các cấp thực hiện thẩm quyền kiểm toán một cách độc lập theo các văn bản quy phạm pháp luật và chịu trách nhiệm trước UBND cùng cấp và Cơ quan Kiểm toán cấp trên trực tiếp.

4. Nhật Bản: (Mô hình trực thuộc Chính phủ)

* Điều 90: Báo cáo quyết toán về các khoản chi phí và thu nhập của Nhà nước hàng năm sẽ được Uỷ ban Kiểm toán và Nội các của Chính phủ sẽ trình các Báo cáo đó lên Quốc hội cùng với các Báo cáo kiểm toán trong năm tài chính ngay sau khi niên độ đó kết thúc. Cơ cấu và quyền hạn của Uỷ ban Kiểm toán do Luật quy định.

5. Ba Lan: (Mô hình trực thuộc Quốc hội)

* Điều 202:

1. Cơ quan Kiểm toán tối cao là cơ quan kiểm tra tài chính cao nhất của Nhà nước.

2. Cơ quan Kiểm toán tối cao trực thuộc Hạ Nghị viện.

3. Cơ quan Kiểm toán tối cao làm việc theo nguyên tắc trách nhiệm.

* Điều 203:

1. Cơ quan Kiểm toán tối cao kiểm toán hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước, Ngân hàng Quốc gia Ba Lan, cán bộ pháp luật Chính phủ và các đơn vị tổ chức Nhà nước khác theo quan điểm tính hợp pháp, tính kinh tế, tính hiệu quả và tính trung thực.

2. Cơ quan Kiểm toán tối cao có thể kiểm toán hoạt động của các tổ chức thuộc chính quyền địa phương, cán bộ pháp luật địa phương và các đơn vị tổ chức địa phương theo quan điểm tính hợp pháp, tính kinh tế, tính hiệu quả và tính trung thực.

3. Cơ quan Kiểm toán tối cao có thể kiểm toán theo quan điểm tính hợp pháp và tính hiệu quả kinh tế, hoạt động của các đơn vị tổ chức khác và các vấn đề kinh tế trong phạm vi họ sử dụng tài sản Nhà nước hoặc công quỹ hoặc các khoản nợ tài chính đối với Nhà nước.

* Điều 204:

1. Cơ quan Kiểm toán tối cao trình lên Hạ Nghị viện:

- Bản báo cáo phân tích việc thực hiện NSNN và chính sách tiền tệ.

- Ý kiến về việc phê chuẩn ngân sách của Hội đồng Bộ trưởng.

- Thông tin về kết quả kiểm toán, các kết luận và các báo cáo theo Luật.

2. Cơ quan Kiểm toán tối cao đệ trình Báo cáo hàng năm về các hoạt động của mình lên Hạ viện.

* Điều 205:

1. Chủ tịch Cơ quan Kiểm toán tối cao do Hạ viện bổ nhiệm với sự nhất trí của Thượng viện, với nhiệm kỳ 6 năm và có thể được tái bổ nhiệm thêm một nhiệm kỳ nữa.

2. Chủ tịch Cơ quan Kiểm toán tối cao không được giữ bất kỳ chức vụ lãnh đạo nào khác, ngoại trừ chức vụ liên quan đến nghề nghiệp tại một trường đại học, hoặc thực hiện các hoạt động nghề nghiệp khác không liên quan.

3. Chủ tịch Cơ quan Kiểm toán tối cao không thuộc đảng phái chính trị nào, không tham gia Hiệp hội thương mại hoặc thực hiện các hoạt động công không thích hợp với chức vụ.

* Điều 206: Chủ tịch Cơ quan Kiểm toán tối cao không bị thẩm vấn trong các vấn đề hình sự, không bị bắt hoặc bị giam giữ nếu không có sự nhất trí trước của Hạ viện; ngoại trừ các trường hợp khi phạm tội và trong trường hợp việc bắt giữ là cần thiết cho việc đảm bảo thực hiện đúng các quy trình quy định. Chủ tịch Hạ viện sẽ được thông báo về việc bắt giữ nêu trên và có thể sẽ ra lệnh thả ngay người đang bị bắt giữ.

* Điều 207: Cơ cấu tổ chức và quy chế làm việc của Cơ quan Kiểm toán tối cao được quy định trong Luật.

(Nguồn: Trung tâm Thông tin – Thư­ viện và Nghiên cứu khoa học)

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)