Trong năm 2003 Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 3 đã thông qua 3 Luật thuế, đó là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT; Luật thuế TNDN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB. Đồng thời Chính phủ cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành và chỉ đạo triển khai thực hiện kịp thời khi hiệu lực của các luật thuế phát huy tác dụng từ đầu năm 2004

Các luật thuế được sửa đổi, bổ sung vừa qua đã tạo ra một bước tiến mới trong cải cách hành chính trên lĩnh vực thuế, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn hơn như: tăng mức ưu đãi và thời hạn áp dụng, thời gian giảm thuế cho nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh trong nước; mở rộng phạm vi áp dụng ưu đãi thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đã thống nhất được các ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; xoá bỏ sự phân biệt đối xử và tạo ra một mặt bằng pháp lý chung cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.

Để tạo môi trường đầu tư tốt hơn, cần phải tiếp tục xử lý các vướng mắc theo hướng đảm bảo áp dụng chính sách ưu đãi thuế thống nhất đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài nhưng phải có lộ trình và bước đi cụ thể. Do các đặc thù của thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài nên trước mắt việc ưu đãi thuế đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất và các dự án đầu tư nước ngoài vẫn cần được giữ mức không thấp hơn trước đây

Luật sư tư vấn luật thuế qua điện thoại gọi:  1900 6162

Luật sư tư vấn luật thuế qua điện thoại gọi:  1900 6162

 

Thực hiện định hướng trên, biện pháp xử lý một số vướng mắc khi thực hiện Luật thuế GTGT, TNDN cần được thực hiện như sau:

1. Về ưu đãi thuế đối với các dự án đầu tư vào Khu công nghiệp, khu chế xuất

Thuế Giá trị gia tăng:

Theo quy định tại Điều 7, Nghị định 158/2003/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng thì các hàng hoá, dịch vụ bán cho doanh nghiệp chế xuất và khu chế xuất gồm: bảo hiểm, ngân hàng, bưu chính viễn thông, tư vấn, kiểm toán, kế toán, vận tải, bốc xếp, cho thuê nhà, văn phòng, kho bãi, dịch vụ tiêu dùng cho cá nhân người lao động, xăng dầu bán cho phương tiện vận tải phải chịu thuế giá trị gia tăng theo mức thuế suất quy định áp dụng đối với hàng hoá tiêu dùng tại Việt Nam.

Vừa qua các doanh nghiệp khu chế xuất có phản ánh việc quy định hoạt động cung ứng dịch vụ cho khu chế xuất phải chịu thế giá trị gia tăng như trên làm cho chi phí sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khu chế xuất tăng lên, dẫn đến giảm sức cạnh tranh hàng hoá xuất khẩu. Vậy thực chất của vấn đề này như thế nào và hướng xử lý ra sao?

Qua nghiên cứu cho thấy: Trước đây theo quy định tại Điều 8 Luật Thuế GTGT năm 1997, thuế suất 0% không áp dụng đối với dịch vụ xuất khẩu. Tuy nhien trong Nghị quyết số 90/1999/NQ-UBTVQH10 ngày 3/9/1999 và Nghị quyết số 240/2000/NQ-UBTVQH10 ngày 27/10/2000 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có quy định thuế suất 0% đối với các trường hợp xuất khẩu theo quy định của Chính phủ.

Căn cứ vào Luật Thuế giá trị gia tăng năm 1997 và 2 Nghị quyết nêu trên, ngày 31/12/2000 Chính phủ có ban hành Nghị định số 79/2000/NĐ-CP, trong đó tại khoản 22 Điều 4 có quy định đối tượng thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng gồm có cả: "Hàng hoá, dịch vụ cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế và các đối tượng tiêu dùng ngoài Việt Nam, trừ sửa chữa máy móc, thiết bị vận tải cho nước ngoài và dịch vụ xuất khẩu lao động". Tiếp đó, ngày 29/12/2000 Bộ Tài chính ban hành Thông tư 122/2000/TT-BTC, trong đó tại điểm 22 Mục II, đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng, trong đó quy định bao gồm cả các dịch vụ cung ứng cho những đối tượng tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, doanh nghiệp chế xuất. Ngày 23/1/2002, Bộ Tài chính cũng đã có Công văn số 757/TC-TCT hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng hàng hoá bán cho doanh nghiệp chế xuất có quy định các đơn vụ bán hàng thực hiện tính thuế giá trị gia tăng khi bán như sau:

- Hàng hoá, dịch vụ do doanh nghiệp chế xuất mua, tiêu dùng trong thị trường nội địa (ngoài khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất) như xăng dầu cho xe máy, ô tô, thực phẩm, thuê phòng họp, hội nghị, nhà ở...

- Hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân ngoài người lao động làm việc cho doanh nghiệp chế xuất (không phụ thuộc vào doanh nghiệp hay cá nhân ký kết hợp đồng mua hàng) như suất ăn, điện, nước, điện thoại, xăng dầu, hàng tiêu dùng cá nhân, thuê căn hộ, nhà ở...

Như vậy trước năm 2004 (trước khi Nghị định 158 của Chính phủ có hiệu lực thi hành) trong thực tế các doanh nghiệp khu chế xuất đã phải nộp thuế giá trị gia tăng đối với một số dịch vụ được cung cấp, tiêu dùng trong thị trường nội địa hoặc cho nhu cầu tiêu dùng trong thị trường nội địa hoặc cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân người lao động làm việc cho doanh nghiệp chế xuất. Quy định này là hoàn toàn phù hợp với Luật Thuế giá trị gia tăng năm 1997, có quy định hàng hoá dịch vụ dung cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng và phù hợp với Điều 40 Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao ban hành kèm theo Nghị định của Chính phủ số 36/CP ngày 23//4/1997. Như vậy, Nghị định số 158 của Chính phủ quy định hoạt động cung ứng dịch vụ cho khu chế xuất phải chịu thuế giá trị gia tăng là kế thừa các quy định trước đây, đồng thời bảo đảm công bằng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp khu chế xuất, tạo điều kiện cho các đơn vị cung cấp nội địa được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào

Tuy nhiên, để tiếp tục tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp chế xuất và doanh nghiệp khu chế xuất phát triển sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư vào khu chế xuất, thúc đẩy xuất khẩu, vận dụng Điểm 3, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng (năm 2003) có quy định thuế suất 0% áp dụng đối với cả hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu, Nghị định số 158 của Chính phủ cần sửa đổi theo hướng coi dịch vụ cung cấp trực tiếp cho doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp khu chế xuất là dịch vụ xuất khẩu, cho phép một số trường hợp mua bán, trao đổi dịch vụ giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp chế xuất được áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0%.

Điều kiện để các dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp khu chế xuất, cho doanh nghiệp chế xuất được áp dụng thuế xuất 0% và được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đã nộp ở đầu vào là: có hợp đồng cung ứng dịch vụ, thanh toán qua ngân hàng và có hoá đơn giá trị gia tăng.

Như vậy, các dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp khu chế xuất nhưng tiêu dùng tại thị trường nội địa và dịch vụ cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân người lao động làm việc cho doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp khu chế xuất vẫn phải nộp thuế giá trị gia tăng theo mức thuế suất quy định như đối với dịch vụ tiêu dùng tại Việt Nam.

Thuế Thu nhập doanh nghiệp:

Các thuế suất ưu đãi 10%, 15%, 20% và thời gian miễn thuế, giảm thuế trước đây quy định áp dụng đối với các dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất không phân biệt địa bàn đầu tư. Theo Nghị định 164 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp thì điều kiện để áp dụng thuế suất ưu đãi 10%, 15%, 20% và thời gian miễn thuế, giảm thuế đối với dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất là các khu này phải nằm trên địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Quy định này nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào những nơi xa xôi, khó khăn để thúc đẩy phát triển kinh tế ở những nơi này. Nhưng thực tế đến nay thì hầu hết các khu công nghiệp, khu chế xuất đều tập trung ở thành phố, thị xã và vùng đồng bằng, không thuộc các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Vì vậy nếu theo Nghị định 164, các dự án mới đầu tư vào các khu này sẽ không được hưởng ưu đãi như trước.

Xét thấy tình hình những năm sắp tới các khu công nghiệp, khu chế xuất vẫn phát triển ở các thành phố, thị xã, đồng bằng, chưa có điều kiện phát triển lên các vùng khó khăn khác, vì vậy trước mắt vẫn cần phải giữ nguyên các điều kiện áp dụng thuế suất ưu đãi và thời gian miễn thuế, giảm thuế đối với dự án đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất như trước đây, tức là bỏ điều kiện về địa bàn khuyến khích đầu tư

2. Về ưu đãi thuế đối với các dự án thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư

Dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư:

Trước đây, trong lĩnh vực khuyến khích đầu tư nước ngoài, danh mục dự án khuyến khích đầu tư được chia thành hai cấp độ là khuyến khích đầu tư và đặc biệt khuyến khích đầu tư. Đối với lĩnh vực khuyến khích đầu tư trong nước thì chỉ có một cấp độ là khuyến khích đầu tư. Quá trình soạn thảo Nghị định 164 của Chính phủ qua thảo luận cho thấy:

Danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư nước ngoài rất rộng (16 ngành, nghề, lĩnh vực) nên chưa thể hiện được tính chất "đặc biệt" khuyến khích đầu tư; trong khi đó, đầu tư trong nước lại không có danh mục đặc biệt khuyến khích đầu tư mặc dù nhiều dự án có quy trình thẩm định, đánh giá và triển khai được quản lý chặt chẽ, toàn diện, có ảnh hưởng kinh tế, xã hội rộng lớn, được Thủ tướng Chính phủ quyết định riêng (như dự án nhà máy điện Sơn La). Vì vậy để đáp ứng ngay một lúc yêu cầu thống nhất và bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về đầu tư, kinh doanh, đồng thời vẫn có thể xử lý được các trường hợp đặc biệt phát sinh trong thực tiễn tại Điều 37 Nghị định 164 đã quy định giao quyền cho Thủ tướng Chính phủ quyết định ưu đãi thuế đối với những dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài.

Tuy nhiên, để bảo đảm ưu đãi thuế đối với các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư nước ngoài không thấp hơn so với trước đây, cần có quy định rõ hơn, đó là các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư được hưởng thuế suất 10% áp dụng trong 15 năm và được miễn thuế trong 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư do Chính phủ quy định trong từng thời kỳ

Dự án đầu tư vào lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học:

Trước đây, tại Nghị định 24/2000/NĐ-CP và Nghị định 27/2003/NĐ-CP, các dự án đầu tư vào lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học tuy không nằm trong danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư nước ngoài, nhưng vẫn được hưởng thuế suất ưu đãi 10% và miễn thuế 4 năm, giảm 50% thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo. Doanh nghiệp đầu tư trong nước không được hưởng ưu đãi cao như đã nêu trên.

Do yêu cầu thống nhất ưu đãi thuế đối với đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, Nghị định 164 đã quy định các dự án nêu trên được xếp vào danh mục ngành nghề, lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư và nếu dự án không thuộc địa bàn khuyến khích đầu tư thì chỉ được hưởng thuế suất ưu đãi 20%, miễn thuế 2 năm và giảm 50% thuế phải nộp trong 5 năm tiếp theo. Quy định này là hợp lý vì các dự án đầu tư vào khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học đối với đầu tư trong nước là khá nhiều, nếu mở ưu đãi thuế cho lĩnh vực này như đầu tư nước ngoài trước đây thì ưu đãi sẽ tràn lan mà không hiệu quả.

Để đảm bảo giữ cho ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài không thấp hơn trước, cần cho phép các dự án đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này được hưởng ưu đãi như các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư.

3. Về danh mục ngành nghề, địa bàn khuyến khích đầu tư

Danh mục A - Ngành nghề, lĩnh vực khuyến khích đầu tư:

Để giữ mức ưu đãi thuế đối với các dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất như trước đây (tức là không gắn với điều kiện về địa bàn khuyến khích đầu tư) và các dự án đầu tư vào Khu công nghệ cao được hưởng ưu đãi theo quy định riêng của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 53/2004/QĐ-TTg ngày 5/4/2004), đòi hỏi việc sửa đổi nội dung văn bản Nghị định số 164 cần đảm bảo tính đồng bộ và tránh mâu thuẫn với các quy định khác, vì vậy phải đưa các dự án này ra khỏi Danh mục A - danh mục ngành nghề, lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư trong Nghị định 164.

Tại Nghị định 164, các dự án BOT, BTO, BT được đưa vào ngành nghề khuyến khích đầu tư thuộc Danh mục A. Tuy nhiên, để giữ mức ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài không thấp hơn trước, cần phải cho phép các dự án BOT, BTO, BT được hưởng ưu đãi như các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư. Vì vậy, để đảm bảo tính đồng bộ và tránh mâu thuẫn với các quy định khác, cần đưa các dự án BOT, BTO, BT ra khỏi danh mục A.

Danh mục B - địa bàn khuyến khích đầu tư và Danh mục C - địa bàn đặc biệt khuyến khích đầu tư:

Trước đây quy định địa bàn khuyến khích đầu tư và địa bàn đặc biệt khuyến khích đầu tư có sự phân biệt khác nhau giữa doanh nghệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước. Thí dụ: một số thành phố, thị xã như Việt Trì, Thái Nguyên, Đà Lạt, Bắc Giang thuộc địa bàn đặc biệt khuyến khích đầu tư đối với đầu tư nước ngoài, nhưng không thuộc địa bàn đặc biệt khuyến khích đầu tư đối với đầu tư trong nước vì đại bộ phận doanh nghiệp trong nước đã và đang hoạt động kinh doanh ở địa bàn đó.

Để đi đến thống nhất về danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư, áp dung chung cho cả đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, khi xây dựng Nghị định số 164 các bộ, ngành cho rằng: Nếu lấy địa bàn khuyến khích đầu tư cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (số lượng doanh nghiệp ít) mà áp dụng cho doanh nghiệp trong nước (với số lượng doanh nghiệp rất đông) thì không phù hợp (ưu đãi tràn lan, kém hiệu quả). Trong thực tế cũng rất ít doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đầu tư vào các vùng nói trên. Vì vậy, Nghị định 164 quy định lấy danh mục khuyến khích đầu tư cho doanh nghiệp trong nước áp dụng chung cho cả doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Theo quy định này, một số địa phương cho rằng kém ưu đãi hơn trước, không tạo điều kiện cho địa phương thu hút đầu tư nước ngoài, cần xử lý theo hướng danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư ban hành kèm theo Nghị định 164 sẽ áp dụng cho đầu tư trong nước, còn đầu tư nước ngoài sẽ áp dụng danh mục khuyến khích đầu tư như quy định trong Nghị định 24/2003/NĐ-CP.

Ngoài ra do khi xây dựng Nghị định 164 chưa có quyết định tách tỉnh, cho nên việc sửa đổi danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư lần này cần phải bổ sung thêm 3 tỉnh Điện Biên, Đắk Nông, Hậu Giang cho phù hợp với việc thành lập 3 tỉnh mới theo Nghị quyết của Quốc hội.

4. Thuế suất dùng làm căn cứ xác định số thuế phải nộp đối với dự án đầu tư mở rộng quy mô

Điều 18 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định dự án đầu tư mở rộng quy mô chỉ được hưởng ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế, không quy định cho hưởng thuế suất ưu đãi. Tuy nhiên, Điều 31 của Luật lại có quy định nguyên tắc không hồi tố đối với các dự án đã được cấp phép trước ngày 01/01/2001. Trường hợp các dự án này thực hiện đầu tư mở rộng quy mô thì thuế suất dùng làm căn cứ xác định số thuế phải nộp đối với khoản đầu tư này đến nay chưa được quy định rõ. Thiết nghĩ trong thời gian tới cần có hướng dẫn cụ thể và dựa theo nguyên tắc như sau:

Để đảm bảo nguyên tắc không hồi tố, đối với doanh nghiệp thành lập trước ngày 01/01/2004 có dự án đầu tư mở rộng quy mô nếu vẫn đáp ứng được điều kiện ưu đãi quy định như trong Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư thì thuế suất dùng làm căn cứ xác định số thuế phải nộp là thuế suất mà cơ sở kinh doanh đang áp dụng.

Đối với các trường hợp đầu tư mở rộng quy mô khác, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng là 28%, các ưu đãi miễn giảm thuế khác đối với dự án đầu tư này được thực hiện theo Điều 38 Nghị định 164 của Chính phủ.

- Năm miễn giảm thuế: doanh nghiệp mới có thể được thành lập vào bất kỳ thời điểm nào trong năm. Vì vậy, để đảm bảo cho doanh nghiệp được hưởng đủ số năm miễn giảm thuế thì cần hướng dẫn rõ năm miễn thuế, giảm thuế là năm tính đủ 12 tháng .

Trên đây là một số ý kiến trao đổi về biện pháp xử lý vướng mắc phát sinh khi thực hiện Luật Thuế giá trị gia tăng, Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung. Rất mong nhận được ý kiến tham gia của đông đảo bạn đọc.

PGS.TS. Bạch Thị Minh Huyền (Nguồn: Tạp chí "Tài chính")

(LUATMINHKHUE.VN: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)