Khách hàng: Thưa luật sư, Hơn một năm nay Em nghỉ việc ở nhà chăm con nhỏ - Do không có nguồn thu nhập ổn định nên Em mở shop Mỹ phẩm trên facebook bán hàng ? Doanh thu cũng đang khá dần nên. Ngần đây Em nghe đài báo nói nhiều đến việc phải nộp thuế khi bán hàng qua facebook. Em hoang mang quá! Không biết có phải nộp không ? mà nộp thì nộp như thế nào ạ?

Em mong luật sư tư vấn và giải đáp ? (Phương Nga - Tp. Hồ Chí Minh)

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về cho bộ phận tư vấn pháp luật thuế trực tuyến của Công ty luật Minh Khuê, vấn đề bạn quan tâm xin được trao đổi cụ thể như sau:

 

1. Xác định bản chất công việc bán hàng qua Facebook

Xét về bản chất thì bán hàng qua mạng (Facebook, google, website công ty hoặc website cá nhân...) là hình thức kinh doanh, phương thức tiếp cận khách hàng một cách gián tiếp qua không gian số (mạng internet), nó không làm thay đổi nguyên tắc Tiền - Hàng - Tiền (Mua bán hàng hóa trong kinh doanh truyền thống).

Ví dụ: Bạn A đăng thông tin bán Mỹ phẩm trên Facebook, Bạn B tiếp cận thông tin hàng hóa thấy phù hợp với yêu cầu thì đặt mua qua điện thoại, inbox... Thông tin được khớp dưới dạng hợp đồng miệng và thỏa thuận B sẽ thanh toán trước để nhận hàng hoặc B nhận hàng trả tiền 

Do vậy, việc cá nhân hay công ty kinh doanh qua hình thức này đều phải nộp thuế thì mới phù hợp với quy định của pháp luật về thuế hiện hành. Vì vậy, bài toán pháp lý đặt ra ở đây không mới - Không phải đến bây giờ nhà nước mới xem xét đến việc thu thuế thu nhập cá nhân từ việc buôn bán hàng hóa, dịch vụ qua facebook nói chung (mạng xã hội) mà vấn đề đặt ra là chưa có thiết chế quản lý nhà nước theo kịp với hoạt động kinh doanh này.

 

2. Xác định thuế thu nhập cá nhân

Căn cứ pháp lý cho việc nộp thuế thu nhập cá nhân có thể thấy rất rõ trong quy định tại khoản 1, điều 3 của Nghị định 65/2013/NĐ-CP về thu nhập chịu thuế và các khoản thu nhập phải chịu thuế thu nhập cá nhân quy định:

"Điều 3. Thu nhập chịu thuế: Thu nhập chịu thuế của cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây:

1. Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, bao gồm:

a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật. Riêng đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chỉ áp dụng đối với trường hợp không đủ điều kiện được miễn thuế quy định tại Khoản 5 Điều 4 Nghị định này.

b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật."

=> Theo quy định này thì hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải chịu thuế - Điều này hoàn toàn bao trùm phạm vi kinh doanh trên facebook (hình thức kinh doanh phi truyền thống - kinh doanh Online).

 

3. Kinh doanh online có nghĩa vụ bắt buộc phải đăng ký không?

Với câu hỏi: Vấn đề kinh doanh online có nghĩa vụ bắt buộc phải đăng ký không?

Đây là một vấn đề pháp lý quan trọng cần phải làm rõ để làm căn cứ pháp lý cho hoạt động thu thuế. Có thể nhận thấy rằng  việc đăng ký kinh doanh là một hoạt động chủ động của cá nhân có nhu cầu kinh doanh đối với phía nhà nước là cơ quan quản lý hoạt động kinh doanh. Theo luật doanh nghiệp năm 2020 và nghị định số 78/2015/NĐ-CP hướng dẫn đăng ký kinh doanh thì, cá nhân/tổ chức có thể lựa chọn một số phương thức đăng ký kinh doanh chính:

+ Đăng ký thành lập doanh nghiệp dưới nhiều loại hình khác nhau (Công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân...)

+ Đăng ký thành lập hộ kinh doanh cá thể (đây là hình thức phổ biến và rất dễ để thực hiện trên diện rộng.)

Như đã trình bày ở trên, có rất nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã có đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp thì có nghĩa là họ đã chủ động tham gia vào hoạt động nộp thuế (Thu nhập cá nhân/thuế khoán/thuế môn bài theo đúng quy định). Do vậy, họ là đối tượng quan trọng và chủ động tham gia vào quá trình nộp thuế con hình thức kinh doanh online chỉ được xem như là mộ phương thức bán hàng/phương thức tiếp cận khách hàng của họ mà không được xem như một hình thức kinh doanh trốn thuế.

Phần đông còn lại là những cá nhân kinh doanh mà không đăng ký họ có phạm luật không ? Câu trả lời nếu hoạt động họ kinh doanh không thường xuyên thì không có nghĩa vụ đăng ký nghĩa là không trái luật. Khái niệm không thường xuyên rất khó để đinh nghĩa trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.

Ví dụ 1: Tôi chỉ bán áo chống rét vào mùa đông ở Miền Bắc vào mùa đông và thu đông (Mùa hè, xuân) tôi không kinh doanh thì tôi là dạng kinh doanh không thường xuyên ??? 

Ví dụ 2: Nay tôi bán mỹ phẩm nhưng không có lãi ngày mai tôi chuyển sang kinh doanh văn phòng phẩm sau đó tôi chuyển sang kinh doanh thực phẩm....thì tôi không thể xem là người kinh doanh không thường xuyên được.

=> Như vậy, Để quản lý đối tượng kinh doanh không thường xuyên này là một điều cực kỳ phức tạp ở Việt Nam trong một xã hội thực chưa kể đến một xã hội ảo hóa như facebook thì điều đó sẽ khó khăn hơn nhiều lần. Bở lẽ:

+ Công cụ quản lý nhà nước đến chính sách kinh doanh trên facebook không thể quản lý được do chính sách này cập nhật theo đơn vị chủ quản là facebook (Chính phủ Việt Nam khó tác động đến chính sách này);

+ Thành viên tham gia facebook nhiều khi là ảo đăng ký dưới tên không có thật/mạo danh...

Các phương tiện truyền thông đã đưa tin nhà nước sẽ quản lý và tiến hành đánh thuế nhu nhập đối với hoạt động kinh doanh trên facebook và mạng xã hội khác. Đứng dưới phương diện pháp lý thì điều này có cơ sở, có căn cứ nhưng thực tiễn quản lý thì còn nhiều vấn đề. Chính sách của cơ quan thuế thành phố Hồ Chí Minh đưa ra là "Mời hơn 13.000 tài khoản facebook có thể hiện/biểu hiện các yếu tố kinh doanh bán hàng qua facebook để làm việc, tiếp cận thông tin về tình hình đăng ký kinh doanh/nộp thuế....". Quan điểm của cá nhân tôi đây là một động thái cần thiết thể hiện trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về thực thi pháp luật nhưng hiệu quả thì chưa có tính khả thi ngay nhưng là việc hết sức cần phải cố gắng thực hiện để tạo điều kiện công bằng trong kinh doanh.

Như vậy, việc thu thuế từ hoạt động kinh doanh trên facebook (mạng xã hội) có thực thi được hay không phụ thuộc phần lớn vào phương thức quản lý, giám sát hoạt động thu thuế của cơ quan nhà nước chứ không phải là chính sách pháp luật có hay không có đối với hoạt động kinh doanh này. Nhưng việc thực thi, giám sát việc thực thi và hiệu quả của việc thực thi này trong thời gian tới đây sẽ phản ánh và ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh online - Một trong những hình thức kinh doanh khá phổ biến ở Việt Nam.

 

4. Xác định thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân khi kinh doanh Online

Theo Điều 1 Thông tư 92/2015/TT-BTC người nộp thuế GTGT và thuế TNCN là cá nhân cư trú bao gồm cá nhân, nhóm cá nhân và hộ gia đình có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Lưu ý: Người nộp thuế GTGT và thuế TNCN không bao gồm cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống.

Như vậy, người bán hàng online là người có nghĩa vụ nộp thuế GTGT và thuế TNCN nếu có doanh thu từ bán hàng online > 100 triệu đồng/năm.

Phương pháp tính thuế:

Theo Điều 3 Thông tư 92/2015/TT-BTC số tiền thuế khi bán hàng online được tính theo phương pháp khoán. Cụ thể:

Đối tượng áp dụng:

Cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán là cá nhân kinh doanh có phát sinh doanh thu từ kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh.

Công thức xác định thuế:Thuế GTGT và thuế TNCN phải nộp được tính theo công thức sau:

Số thuế GTGT phải nộp=Doanh thu tính thuế GTGTxTỷ lệ thuế GTGT

Số thuế TNCN phải nộp=Doanh thu tính thuế TNCNxTỷ lệ thuế TNCN

Trong đó,

Doanh thu tính thuế:

- Doanh thu tính thuế GTGT và doanh thu tính thuế TNCN là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.

- Trường hợp cá nhân nộp thuế khoán có sử dụng hóa đơn của cơ quan thuế thì doanh thu tính thuế được căn cứ theo doanh thu khoán và doanh thu trên hóa đơn.

- Trường hợp cá nhân kinh doanh không xác định được doanh thu tính thuế khoán hoặc xác định không phù hợp thực tế thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu tính thuế khoán.

Tỷ lệ tính thuế:

Bán hàng online là hoạt động phân phối, cung cấp hàng hóa có tỷ lệ thuế GTGT là 1%; tỷ lệ thuế TNCN là 0,5%.

 

5. Xác định lệ phí môn bài khi kinh doanh Online

Theo Điều 4 Nghị định 139/2016/NĐ-CP lệ phí môn bài áp dụng với hoạt động kinh doanh của tổ chức, cá nhân (gồm cả hoạt động bán hàng online) như sau:

- Doanh thu/năm là trên 500 triệu đồng thì Lệ phí môn bài phải nộp/năm là 01 triệu đồng;

- Từ 300 - 500 triệu đồng thì Lệ phí môn bài phải nộp/năm là 500.000 đồng;

- Doanh thu/năm là trên 100 - 300 triệu đồng Lệ phí môn bài phải nộp/năm là: 300.000 đồng

Lưu ý:

- Tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh hoặc mới thành lập, được cấp đăng ký thuế và mã số thuế, mã số doanh nghiệp trong thời gian của 6 tháng đầu năm thì nộp mức lệ phí môn bài cả năm;

- Nếu thành lập, được cấp đăng ký thuế và mã số thuế, mã số doanh nghiệp trong thời gian 6 tháng cuối năm thì nộp 50% mức lệ phí môn bài cả năm.

- Tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh nhưng không kê khai lệ phí môn bài thì phải nộp mức lệ phí môn bài cả năm, không phân biệt thời điểm phát hiện là của 6 tháng đầu năm hay 6 tháng cuối năm.

- Cá nhân, hộ kinh doanh sẽ được miễn lệ phí môn bài khi có doanh thu hàng năm từ 100 triệu đồng trở xuống (khoản 1 Điều 3 Nghị định 139/2016/NĐ-CP).

Như vậy, bán hàng online mà có thu nhập chịu thuế (doanh thu > 100 triệu đồng/năm) thì có nghĩa vụ nộp thuế và lệ phí theo quy đinh.

Về căn cứ pháp lý áp dụng, Quý khách hàng có thể tham khảo 02 văn bản hướng dẫn dưới đây:

Nghị định số 65/2013/NĐ-CP hướng dẫn luật thuế thu nhập cá nhân

Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính : Hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân

Mọi vướng mắc pháp lý mà Quý khách hàng cần quan tâm, làm rõ hơn vui lòng trao đổi trực tiếp với đội ngũ luật sư, chuyên viên tư vấn pháp luật về thuế trực tuyến qua tổng đài tư vấn luật thuế, gọi: 1900.6162 Chúng tôi luôn lắng nghe và sẵn sàng giải đáp mọi vướng mắc!

Trân trọng./.

Luật sư: Lê Minh Trường - Công ty luật Minh Khuê