Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

Trong hành nghề luật sư, khi được khách hàng tìm đến và yêu cầu giải quyết vấn đề của họ, điều quan trọng để giải quyết được vấn đề đó chính là xác định tư cách của khách hàng trong vấn đề họ đang gặp phải. Sau khi đã xác định được tư cách của khách hàng cần xác định về quyền và nghĩa vụ của họ để từ đó xem xét những yêu cầu mà khách hàng đưa ra. Luật Minh Khuê đã có bài viết "Quyền là gì? Có những loại quyền nào?", bạn đọc có thể tìm đọc để logic được vấn đề chúng tôi đang nhắc tới ở đây:

1. Ai được sử dụng quyền?

Quyền mà một người sử dụng có thể gây thiệt hại cho người khác cho nên luật cũng quy định ai được sử dụng quyền.

Câu trả lời chắc bạn đã biết là các thể nhân và pháp nhân, ở đây, để dễ hiểu, chúng ta lấy thể nhân làm gốc rồi từ đó suy ra pháp nhân.

1.1. Thể nhân

Thể nhân khi đúng một mình, không có liên can gì với bất cứ ai, thì họ vẫn có quyền. Đó là một quyền tự nhiên do chúng ta công nhận với nhau và cùng tôn trọng. Quyền ấy gọi là nhân quyền. Tranh chấp về nhân quyền thường là tranh chấp về chính trị. Tranh chấp loại này cũng cần đến luật sư nhưng rất ít. Tranh chấp khiến phải nại ra quyền là khi thể nhân có giao dịch, hay có một mối liên hệ nào đó với một người khác. Đó là dân quyền. Các giao dịch này đa phần do luật pháp ấn định. Thí dụ cho thuê nhà mà luật gọi là hợp đồng cho thuê tài sản. Trong việc thuê nhà, thể nhân kia có thể là chủ nhà hay người thuê nhà. Nếu việc thuê diễn ra tốt đẹp, bên ở trả tiền thuê đều đều, không có chuyện gì xảy ra thì không chủ thể nào nại đến quyền (tức là đòi trả tiền vì là chủ nhà; đòi sửa cống rãnh vì là người thuê nhà) và không có tranh chấp. Vậy thì khi ai nại đến “dân quyền” của mình thì khi ấy có tranh chấp; “dân quyền” kia do luật pháp ban hành bằng việc quy định các mốì quan hệ pháp luật. Sự phân tích ở trên dẫn chúng ta đến điểm chung này: quyền của một chủ thể đã được luật quy định, khi nó ấn định các quan hệ pháp luật, hay các mốỉ tương quan pháp lý trong các văn bản quy phạm pháp luật. Nói đơn giản, quyền của mỗi người xuất phát từ tư cách mà họ nắm trong mỗi giao dịch và giao dịch do luật lệ quy định hay điều chỉnh. Để khái quát hóa “mỗi người” người ta dùng từ “chủ thể”

1.2. Pháp nhân

Nền tảng về quyền của một chủ thể là như thế; pháp nhân là sự nảy sinh của một chủ thể do luật pháp tạo ra. Thể nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự, còn pháp nhân phải được thành lập hợp pháp.

Trong công việc của mình, khi một thể nhân hay pháp nhân đến gặp bạn thì cả hai đều là người có tên có tuổi, có da có thịt. Trước khi đến thì họ đã có hay sẽ có một giao dịch với ai và làm việc gì. Thí dụ, nếu đã ký kết một hợp đồng mua bán, thì trước mặt bạn họ là bên mua hay bên bán, hay một người thứ ba có quyền lợi liên quan. Tương tự, khi một thân chủ nữ đến bạn hỏi chuyện ly dị thì đó là một người vợ. Nói như thế nghĩa là họ đến với bạn trong một tư cách.

1.3. Có tư cách

Tư cách là địa vị mà một người nắm khi ở trong một hoàn cảnh nào đó (giao dịch, vụ việc) và nó hàm ý là họ có liên can với một ai đó. Ta đã biết điều này ở trên nên sẽ chỉ gói gọn ở đây là tư cách của một người tạo cho họ những quyền lợi hay buộc họ phải thực hiện những nghĩa vụ nào đó cho ai như họ đồng ý dựa trên luật pháp hay tập quán. Tư cách ám chỉ đến một đối tác.

Về câu hỏi “ai được sử dụng quyền”, bạn cần nhớ các điều sau:

Chỉ những ai đó ở trong một tư cách nào đó mới có những quyền lợi và bổn phận nhất định; họ phải đứng trên một khối đá vuông nào đó tùy tùng lúc;

Quyền lợi và bổn phận ấy nằm trong một tương quan pháp lý do luật ấn định hay do họ đồng ý (nghĩa vụ dân sự, nghĩa vụ hợp dồng);

Muốn tìm quyền lợi và bổn phận của một người nào đó (thể nhân hay pháp nhân) thì - qua câu chuyện thân chủ kể — phải xác định được tư cách của họ sau khi biết tương quan pháp lý do thân chủ nói.

Mới vào nghề, bạn dễ gặp khó khăn vì chưa quen xác định tư cách. Tôi đi vào thực tế một chút. Thí dụ, bạn nhận một cú điện thoại hỏi rằng: “Công ty nổi tiếng ABC bán hàng ở Việt Nam có nhiều người mua là con nợ, có cách nào đòi tiền nhanh nhất?” Để trả lời, bạn phải nghĩ ngay đến những tư cách khác nhau có thể có của công ty nổi tiếng kia: Nó là một công ty có vốn nước ngoài; hay là công ty cổ phần, hay là người xuất hàng vào bán ở Việt Nam. Xác định được tư cách của nó trước rồi bạn mới trả lời câu hỏi được; vì ở trong mỗi tư cách khác nhau, quyền đòi nợ của nó khác nhau. Thường người hỏi muốn bạn trả lời ngay, nhưng nếu bạn nghĩ không ra tư cách thì khó làm.

Hơn nữa, khi thân chủ đến với bạn, họ thường kể khổ ngay chứ ít nói đầu đuôi và cho biết tư cách của họ trong vụ đó. Khi ấy bạn phải suy nghĩ một số việc; và tôi xin lấy một thí dụ.

Một ông ăn mặc chỉnh tề đến gặp bạn, ông ta nói về sự bực bội vì bị giựt tiền. Nhìn theo bình thường, ông ta là một người bị hại. Trước kia, bạn có thể nhìn như vậy và tìm cách giúp; nay bạn phải phân tích các tư cách của ông ta.

Là thân chủ của bạn, ông ta có tư cách là thân chủ của bạn, được hỏi bạn, nhưng phải trả tiền.

Trong việc bị giựt tiền, ông ta có tư cách là gì? Để trả lời câu hỏi này bạn phải hỏi ông ta về nội vụ (tức là hỏi tương quan pháp lý) rồi định ra tư cách của ông ta. Nếu là một vụ mua bán, là “người bị hại” như ông ta nói, ông ta là người mua hay người bán; vì trong một vụ có hai người thì ai cũng có thể bị hại chứ không phải chỉ một bên. Là bên bán mà “bị hại” thì ông ta không nhận được tiền hàng; là bên mua thì ông ta không được trả lại tiền sau khi hai bên đã đồng ý là hàng hư. Thành ra bạn không thể nhìn ông ta như “người bị hại” rồi cặm cụi tìm cách giúp! Bạn phải xác định ông ta là người mua hay người bán; rồi dựa trên giao dịch mà ông ta đã thỏa thuận tìm xem trong tư cách ấy ông ta có bị thiệt hại không. Nếu ông ta có một quyền lợi thì mới bị hại; không có thì không thể “bực bội vì bị hại” được!

2. Lúc nào sử dụng quyền?

Trong xã hội, ai trên 18 tuổi cũng đều có một tư cách (khối đá) và quyền hạn (cây dù) nhất định. Luật cho phép một người đứng trên khối đá có thể bung hay cụp cây dù trong các trường hợp nhất định. Ngoài ra, họ có thể làm lấy hay nhờ người khác làm.

Vậy ở đây ta sẽ xem lúc nào một người được sử dụng quyền để bảo vệ mình và khi đã có quyền rồi thì ta có thể chuyển nó đi được không?

Bạn đã học, rằng muốn có quan hệ phát sinh thì phải có một việc diễn ra: Mít đụng xe vào Xoài. Việc xe đụng là một sự kiện pháp lý. Xoài trong tư cách là nạn nhân (khối đá) có quyền đòi Mít bồi thường trong tư cách người gây hại. Và bạn cũng biết “việc ấy tạo ra, làm thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật.”

“Quan hệ phát sinh” mà bạn đã học thì ở đây được chia thành hai trường hợp: sự kiện pháp lý và hành vi pháp lý. Vậy một người muốn sử dụng quyền thì phải ở vào một trong hai trường hợp này; hay khi có một trong hai trường hợp ấy xảy ra cho họ. Nếu không có mà người ấy sử dụng “cây dù” là phạm pháp.

Sự kiện pháp lý mà các bạn học ở trường luật thì rất ngắn. Ây là sự kiện pháp lý bao gồm hai yếu tố là sự biến cùng hành vi. Cái trước xảy ra ngoài ý chí của chủ thể, cái sau là do ý chí của chủ thể. Đó chỉ là một định nghĩa, khó áp dụng vào thực tế. Luật dạy cho luật sư triển khai khái niệm này ra rộng lắm; nhằm giúp bạn “về phe” với thân chủ mình.

2.1. Sự nảy sinh của quyền lợi

Quyền của một người sẽ phát sinh, tức là người ta có thể sử dụng nó chống lại người khác nhằm bảo vệ mình khi có một trong hai việc dưới đây xảy ra: sự kiện pháp lý và hành vi pháp lý.

 Thứ nhất, về sự kiện pháp lý

Sự kiện pháp lý là những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống xảy ra trong cuộc sống, hay trong một giao dịch do con người hoặc thiên nhiên tạo ra được quy định trong luật pháp (phải quy định để bảo vệ trật tự xã hội); khi nó xảy ra thì tạo nên một quyền lợi hay một bổn phận cho ai đó.

Nó tương tự như điều mà ngày trước bạn đã học “sự xuất hiện, thay đổi và chấm dứt của quan hệ pháp luật với sự tồn tại của nó”.

Có rất nhiều sự kiện pháp lý nhưng chúng được phân ra thành một số như sau:

- Sự kiện tự nhiên

Sự kiện này gắn liền với sự sinh ra, lớn lên và chết đi của một người. Con người là chủ thể của luật pháp, vì họ mà có luật pháp. Đối với những người sinh sau đẻ muộn như chúng ta thì khi sinh ra đã có luật pháp chung quanh rồi nên mình phải tuân thủ. Nhưng những người đầu tiênnghĩ ra luật pháp thì họ đưa ra luật để bảo đảm một cuộc sống an toàn và hạnh phúc cho mình lẫn người khác. Sự kiện tự nhiên xuất hiện khi:

+ Một người lúc được sinh ra thì có những quyền nhân thân, quyền được nuôi dưỡng;

+ Lúc thành niên thì họ có năng lực hành vi dân sự, do đó phải chịu trách nhiệm hình sự (có biệt lê);

+ Khi chết đi, họ không còn quyền nhân thân nữa nhttog lại có những quyền khác như để lại tài sản cho con cháu, mồ mả không bị xâm phạm;

+ Nếu bị điên loạn thì sự kiện này có thể làm cho họ mất năng lực hành vi dân sự và phải có người giám hộ.

- Sự kiện vật chất

Sự kiện này cũng là một biến cố xảy ra trong cuộc sống nhưng con người không thể tiên liệu được và cũng không thể chống lại được dù biết nó xảy ra. Thí dụ, giông bão, lụt lội, chiến tranh.

Những sự kiện vật chất này còn được gọi là những trường hợp bất khả kháng.

Khi trường hợp bất khả kháng xảy ra thì trong những giao dịch khác nhau nó làm cho một người được miễn trách nhiệm (hàng giao không đúng hẹn vì giông bão xảy ra trên đường đi), nhưng lại làm một bên phát sinh nghĩa vụ (hỏa hoạn xảy ra làm hãng bảo hiểm phải bồi thường cho khách hàng).

- Sự kiện cố ý

Là sự việc xảy ra do ý định của một người - gọi là do ý chí của họ - nhưng khi làm, người ấy không định tạo ra một quyền lợi gì cho mình hay một nghĩa vụ cho ai, gọi là hậu quả pháp lý. Thí dụ, một đôi vợ chồng dọn nhà từ tỉnh A sang tỉnh B. Khi dọn nhà là họ chỉ muốn đổi chỗ ở, nhưng chủ nợ của họ nay muốn thưa họ vì để đòi nợ thì không còn có thể thưa họ ở tòa án tình A nữa mà phải sang tình B. Việc dọn nhà của họ tạo ra một hậu quả pháp lý cho chủ nợ. Các sự kiện cố ý được phân ra thành bốn loại:

+ Lỗi trong trách nhiệm dân sự vì cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho người khác; theo Điều 308 LDS; nói cách khác, là gây thiệt hại vì có lỗi trong nghĩa vụ dân sự;

+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; theo các Điều từ 604 — 630 LDS; được coi là sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.

+ Chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; theo các Điều 599 - 603 LDS.

+ Thực hiện công việc không có ủy qụyền; Điều 594 - 598 LDS.

+ Sự chiếm hữu.

Theo Điều 183 LDS, một người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu tài sản trong trường hợp do luật pháp quy định. Và Điều 247 quy định: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu của tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu...”

Khi một người rơi vào một trong những trường hợp ở trên thì hoặc là phải thi hành một nghĩa vụ cho ai có liên quan hay được một người khác thực hiện một nghĩa vụ gì đó cho mình. Cái trước là bổn phận, cái sau là quyền lợi. Thí dụ, tôi đang đi, con chó nhà bạn nhảy ra cắn tôi; việc con chó cắn tôi là một sự kiện gây nên trách nhiệm - hay sự kiện pháp lý — bạn không hề xúi nó cắn tôi, nhưng bạn vẫn phải đền cho tôi. Hoặc là, một cửa hàng giao nhầm một món hàng cho bạn, bạn phải trả lại khi người ta đòi vì bạn được hưởng lợi mà không có căn cứ pháp luật.

Thứ hai, về hành vi pháp lý

Hành vi là việc làm của một người, pháp lý là việc ấy được làm theo những điều kiện nào đó và khi đã hội đủ thì việc làm ấy sẽ được mọi người nhìn nhận và được cuững chế thực hiện. Để có tính ràng buộc như thế, luật pháp chia hành vi pháp lý ra từng loại và đặt ra những điều kiện phải có khi làm việc đó.

Khi một người làm một việc gì đó thì họ có thể làm một mình hay với người khác và việc làm của họ có tính chất bình thường, tức là “có đi có lại” hay chỉ có đi mà không có lại. Dù là tính chất nào thì nó cũng mang tính ràng buộc cả.

+ Hành vi đơn phương: Là một việc do một người làm một mình; họ muốn làm thế này, thế nọ, gọi là biểu lộ ý muốn của một mình mình. Thí dụ, lập di chúc chia tài sản cho con cái.

Một hành vi đơn phương của một người có thể làm cho một người khác bị ảnh hưởng. Thí dụ, ông A đang ở trong căn nhà này của ông bố đẻ; nay ông bố làm di chúc để lại căn nhà cho bà B, là em ông A; mai sau ông A không bao giờ trở thành chủ sở hữu căn nhà.

+ Hành vi song phương: Hai người đồng ý với nhau làm một điều gì đó. Thí dụ, ký kết hợp đồng mua bán. Nếu nhiều người cùng ký kết thì việc đó sẽ gọi là hành vi đa phương, như lập công ty.

+ Hành vi hữu thường: Là hành vi mang ý nghĩa có đi có lại, trao đổi. Gọi là hữu thường vì trao đổi là một hoạt động thường tình, người ta làm để sinh sống.

+ Hành vi vô thường: Hành vi này ngược với hành vi trên, người làm không cần có sự đáp lại. Thí dụ, ngày tết bạn cho tôi một món quà.

Các điều kiện để hành vì pháp lý có hiệu lực

Có hiệu lực tức là được mọi người liên quan công nhận và việc làm bị cưỡng chế thực hiện. Những điều kiện gồm có về nội dung và về hình thức:

- Điều kiện nội dung: Hành vi phải hội đủ những yếu tố sau:

+ Phải có ý chí - Người tham gia hoàn toàn tự nguyện.

Người ta được coi là đã bày tỏ ý chí thật sự khi việc làm của họ không bị lừa dối, sai sót, đe dọa hay cưỡng bức, đủ 18 tuổi, nhận thức được hành vi. Quy định về việc “phải có ý chí” trong LDS nằm tại Điều 122 về giao dịch dân sự và Điều 389 về hợp đồng.

+ Phải có năng lực hành vi dân sự;

+ Không trái pháp luật và đạo đức xã hội; và

+Mục đích của giao địch là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó.

- Điều kiện hình thức: Các hành vi pháp lý đều có sự bằng lòng và hợp ý nên sự biểu lộ ý chí có thể diễn ra dưới bất cứ hình thức nào; tuy nhiên có một số hành vi pháp lý phải làm theo đúng hình thức luật định và gồm có:

+ Hình thức trọng thể: Thí dụ, việc khai sinh, khai tử, giá thú phải làm trước viên chức hộ tịch.

+ Hình thức cống bố: Hành vi pháp lý phải được công bố mới có giá trị đối kháng với những người thứ ba không liên can (đệ tam nhân). Thí dụ, hợp đồng thế chấp tài sản phải đăng ký giao dịch bảo đảm.

+ Hình thức văn bản: Những sự thỏa thuận phải viết ra văn bản để sau này còn có chứng cớ, lý lẽ. Để tránh gây thiệt thòi cho một bên hay tạo ra hiểu nhầm sau này, luật buộc những văn kiện nào đó (hợp đồng, di chúc) phải có những điều khoản nhất định.

Hành vi không được lập theo những điều kiện trên sẽ bị vô hiệu.

Xin lưu ý: LDS của ta không quy định về hợp đồng vô hiệu, tức là hành vi pháp lý hay văn bản vô hiệu, nhưng vì hợp đồng là một cách thực hiện các giao dịch dần sự nên nó đi theo những quy định về vô hiệu trong giao dịch dân sự. Do vậy, ở đây thay vì nói hành vi pháp lý hay văn bản, ta sẽ nói là giao dịch.

+ Vô hiệu toàn phần: Khi nội dung của giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội, đó là: giao dịch giả tạo, vi phạm hình thức, người tham gia không có năng lực hành vi, do nhầm lẫn, do bị lừa đối, đe dọa, do người không có năng lực nhận thức hành vi.

+ Vô hiệu từng phần: Khi một phần của giao dịch bị vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực còn lại của giao dịch.

Theo Điều 137 LDS, giao dịch vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền lợi và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập. Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; không trả được bằng vật thì trả bằng tiền, ai có lỗi phải bồi thường.

2.2. Sự chuyển nhượng quyền lợi

Bạn có một quyền lợi, thí dụ đòi nợ ông A, bạn có thể chuyển cho em bạn quyền đó, coi như bạn cho ông em tiền nhưng tiền chỉ có khi được trả nợ. Đó là sự chuyển nhượng quyền lợi. LDS gọi là chuyển giao quyền yêu cầu. Ông em bạn được gọi là người thế quyền. Ngược lại nếu bạn phải trả nợ ông A mà nay bạn giao cho em trả thay thì đó là chuyển giao nghĩa vụ. LDS cũng gọi như thế. Cả hai việc này được quy định từ Điều 309 - 317.

LDS cho tự do chuyển quyền lợi và nghĩa vụ, tuy nhiên cấm chuyển quyền lợi đối với những quyền về nhân thân, cấp duững, đòi bồi thường thiệt hại và cho phép hai bên được quy định những gì không cho chuyển.

Vì hai việc trên khác nhau về hậu quả nên luật quy định riêng cho mỗi loại.

Về việc chuyển quyền lợi thì người chuyển quyền (i) phải báo cho người có nghĩa vụ; (ii) không cần có sự đồng ý của người kia, trừ khi đã thỏa thuận khác; (iii) không chịu trách nhiệm nếu sau khi đã chuyển mà nghĩa vụ không được thi hành và (iv) chuyển là chuyển hết kể cả việc bảo đảm thi hành nghĩa vụ.

Về việc chuyển nghĩa vụ thì (i) chỉ có thể chuyển các nghĩa vụ có thể chuyển giao được theo pháp luật; (ii) phải có sự đồng ý của người có quyền và (iii) các nghĩa vụ bảo đảm sẽ chấm dứt khi nghĩa vụ được chuyển giao nếu không có thỏa thuận khác.

Dân luật của Pháp có ba nguyên tắc cho việc chuyển nhượng là người thế quyền không thể có nhiều quyền hơn là người chuyển quyền có; không ai có thể tặng những gì mà mình không có và không ai có thể chuyển nhượng cho kẻ khác ngoài giới hạn quyền mình có. Đây là lẽ sống và ở đâu cũng thế cả, bạn nên biết cho công việc của mình sau này có thể áp dụng được mà không cần phải nêu điều luật nào. Các nguyên tắc trên có từ thời của Luật La Mã.

Việc chuyển quyền lợi có thể diễn ra giũa những người còn sống hay do một người chết đi và một người khác được hưởng. Trường hợp đầu thường diễn ra để gán nợ. Trường hợp sau, thường là việc thùa kế, trong đó người chết để lại chúc thư hay không để lại.

Hình thức chuyển nhượng được làm bằng hợp đồng hay bằng văn bản.

Trong luật của các nước khác, hợp đồng chuyển giao quyền lợi được gọi là “novation contract”, ngày xưa trong miền Nam dịch là hợp đồng thế cải. Khi bạn tư vấn về vay mượn thì sẽ nghe thấy bên nước ngoài hay luật sư nưởc ngoài nói đến loại hợp đồng này rất nhiều. LDS của ta không đề cập loại hợp đồng này.

Tóm lại, khi bạn có một tư cách nhất định (tức là đứng trên một khối đá) thì có những quyền về nhân thân và tài sản (cây dù). Bạn chỉ được giương cây dù (tức là quyền của bạn phát sinh) khi một sự kiện pháp lý hay một hành vi pháp lý xảy ra cho bạn; hay bạn ở trong các trường hợp ấy.

2.3. Sự chấm dứt quyền lợi

Quyền lợi có thể chấm dứt do hành vi pháp lý hay sự kiện pháp lý hay do thời hiệu đã hết (sự tiêu diệt thời hiệu, hay thời tiêu). Ở LDS, những trường hợp chấm dứt nghĩa vụ dân sự được quy định trong Điều 374.

Tác dụng thực tiễn của việc nắm bắt sự kiện và hành vi pháp lý trong công việc rất quan trọng vì bạn bắt đầu công việc của mình bằng cách nắm bắt sự kiện.

Khi thân chủ đến với bạn, họ thường kể khổ. Vấh đề của bạn bấy giờ không phải là nghe xem họ bị thiệt hại như thế nào; mà khi nghe thì phải suy nghĩ. Qua câu chuyện họ kể thì họ đã có một quyền nào chưa (quyền lợi đã được thiết lập chưa) theo một hợp đồng, một nghĩa vụ dân sự, hay có ghi trong luật và họ đã cổ một quyền lợi bị thiệt hại chưa. Xin bạn nhớ “phải có một quyền lợi, thì quyền lợi ấy mới bị thiệt’’. Thân chủ đang kể cho bạn thiệt hại mà họ đã phải nuốt đắng ngậm cay, mà bạn chăm chú vào nó ngay là bạn “xe cát dã tràng”. Bạn phải nhớ đến sự kiện pháp lý hay giao dịch. Đó là vấn đề sự kiện. Biết về sự kiện là biết như vậy. Đó là tác dụng thực tế khi học biết về chúng. Và ở đây bạn sẽ hên tục gặp nhũng từ ngữ như biết về sự kiện, nắm bắt sự kiên, sự kiện này, sự kiện kia.. Vậy sau khi nghe thân chủ kể, bạn phải xác định tư cách họ, rồi sự kiện pháp lý hay giao dịch để biết các quyền lợi họ có; bấy giờ mới nối kết với “báo cáo thiệt hại” của họ, cái mà bạn được yêu cầu tìm cách khắc phục.

“Quan hệ pháp luật phát sinh” mà bạn đã biết khi ở trường luật thì khi hành nghề bạn phải chi tiết hóa thành: (i) một quyền lợi quy định trong luật, trong hợp đồng hay thỏa thuận miệng; (ii) chúng đã dược thân chủ bạn thủ đắc (nắm giữ); (iii) nay nó phát sinh vì thân chủ của bạn bị thiệt hại và (iv) khi thân chủ của bạn có quyền hạn thì đối phương có bổn phận.

Bạn được sử dụng quyền của mình đối với người khác, và cũng ngược lại đối với bạn, khi có, hay khi xuất hiện các trường hợp khác nhau quy định trong sự kiện pháp lý hay hành vi pháp lý. Bạn muốn làm gì với ai thì phải chứng minh, hay nói lên được rằng người ấy đã có một hành vi pháp lý nào đó hay đứng trong một sự kiện nào đó.

3. Liên hệ thực tế

Lấy một thí dụ cho dễ hiểu để tóm tắt cả bài. Một bà độ tuổi trung niên đến bạn và nói rằng bà ta là bạn của mẹ của một đứa cháu gái mới được 18 tuổi, tên Lan. Bố cháu mất đã lâu, mẹ cháu mới mất năm ngoái; trước khi mất, bà mẹ có nhờ bà ấy trông nom cháu Lan hộ. Bà ấy thấy anh chị của cháu Lan chia nhau nhà cửa bố mẹ để lại mà chẳng nói gì đến cháu Lan; bà ấy muốn đi kiện thay cháu gái kia và nhờ bạn giúp.

Vào trường hợp ấy, bạn nghĩ ngay ra được là tranh chấp thừa kế, thuộc LDS, và cô bé Lan có quyền thừa kế một phần căn nhà. Vậy cô ta đứng trên một khối đá (người hưởng thừa kế) và cây dù (chia một phần căn nhà). Cô ấy có “cái dù” nhưng không sử dụng mà nhờ bà bạn của mẹ sử dụng hộ (cô ấy chuyển quyền của mình cho bà kia). Bà kia có quyền (cây dù được giao) nhưng chưa có tư cách (đứng trên một khối đá).

Vậy bạn phải hỏi bà ấy rằng bà là (i) người giám hộ của cô Lan hay (ii) người được cô Lan ủy quyền? Bà ấy phải có một trong hai: hoặc giấy ủy quyền do cô Lan viết, hoặc giấy cử làm giám hộ do mẹ cô Lan ký tên. Bà kia chỉ có thể đi kiện thay cô Lan ở một trong hai tư cách đó thôi; còn là “bạn của mẹ cô Lan” thì không có quyền gì. Khi có giấy đó thì bà kia có tư cách và việc anh em cô Lan chia di sản mà không ngó ngàng đến cô Lan là một sự kiện pháp lý. Bà giám hộ có quyền kiện thay cô Lan.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê