Lẩn tránh pháp luật là thủ đoạn của đương sự để lẩn tránh khỏi sự chỉ phối của hệ thống pháp luật lẽ ra phải được áp dụng và lường sự dẫn chiếu của quy phạm pháp luật xung đột đến hệ thống pháp luật khác có lợi cho mình.

Thông thường, đương sự dùng các thủ đoạn như thay đổi quốc tịch, thay đổi nơi cư trú, nơi kí kết hợp đồng, nơi đăng kí kết hôn nhằm lẩn tránh pháp luật. Ví dụ: theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình Trung Quốc, nam từ 22 tuổi mới được quyền kết hôn, vì vậy, một nam công dân Trung Quốc 19 tuổi đã xin nhập quốc tịch của Liên bang Nga (là nơi cho phép nam, nữ từ đủ 18 tuổi đều được quyền kết hôn) để được kết hôn sớm.

Hiện tượng lẩn tránh pháp luật thường xảy ra trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, khi các đương sự thay đổi quốc tịch hoặc thay đổi nơi cư trú nhằm được kết hôn sớm, kết hôn với nhiều người (các nước theo đạo Hồi), kết hôn đồng giới (Na Uy, Đan Mạch) hoặc được dễ dàng li hôn, vv.

"IR từ lâu, pháp luật nhiều nước trên thế giới đều coi việc lẩn tránh pháp luật là bất hợp pháp. Điển hình là vụ án Công chúa Bôfrơmăng (Beaufrement) vào năm 1873. Công chúa Bôfrơmăng là công dân Pháp, nhưng vì lúc bấy giờ ở Pháp cấm li hôn, do đó Công chúa Bôfrơmăng đã xin nhập quốc tịch của Đức và đã được ly hôn tại Đức, để rồi sau đó kết hôn với công dân Rumani - hoàng tử Bilexcu (Bilescu). Tuy nhiên, việc kết hôn này đã bị Toà án Pháp tuyên huỷ vì cho rằng việc nhập quốc tịch Đức của Công chúa Bôfrơmăng là với mục đích lẩn tránh pháp luật.

Công ước La Hay ngày 12.6.1902 về giải quyết xung đột về thẩm quyền tài phán trong lĩnh vực li hôn, nuôi con nuôi cũng đã chống lại hiện tượng lẩn tránh pháp luật. Điều 4 của Công ước đã quy định: cho phép việc xin li hôn hoặc bỏ việc nuôi con nuôi chỉ trong trường hợp duy nhất là pháp luật quốc tịch của hai vợ chồng và pháp luật của nước nơi thực hiện việc li hôn quy định như vậy.

Ngày nay, pháp luật của đa số các nước trên thế giới đều quy định rằng việc lẩn tránh pháp luật là bất hợp pháp. Pháp luật Việt Nam cũng đã trực tiếp hoặc gián tiếp quy định về hành vi này.

Ví dụ: khoản 4 Điều 6 Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công nhân Việt Nam và người nước ngoài ngày 02.12.1993 quy định: “Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tiến hành ở nước ngoài và tuân theo pháp luật nước đó về nghí thức kết hôn thì được công nhận tại Việt Nam, trừ trường hợp việc kết hôn có ý định rõ ràng là để lẩn tránh quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn". Bằng việc quy định các trường hợp không công nhận bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài (Điều 16) và Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài (Điều 16) đã gián tiếp không thừa nhận việc lẩn tránh pháp luật.