1. Lỗi là gì ? Quy định chung về lỗi

Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.

 

2. Lỗi cố ý và lỗi vô ý theo quy định pháp luật

– Lỗi vô ý theo quy định tại Điều 10 Bộ luật hình sự 2015

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra; tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

– Lỗi cố ý theo quy định tại Điều 11 Bộ luật hình sự 2015

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội; mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

 

3. Phân loại lỗi cố ý và lỗi vô ý

– Lỗi vô ý: Có 2 dạng lỗi vô ý: Lỗi vô ý vì quá tự tin và Lỗi vô ý vì cẩu thả

+ Vô ý phạm tội vì quá tự tin: là lỗi của người trong trường hợp thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được; vì vậy đã thực hiện hành vi và gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội

Về lý trí: người phạm tội thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội tức là chủ thể nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội từ chính hành vi mà mình thực hiện.

Về ý chí: người phạm tội không mong muốn hành vi của mình gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội

+ Vô ý phạm tội vì cẩu thả: là lỗi của 1 người trong trường hợp gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội vì cẩu thả đã không thấy trước hậu quả đó mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước được

– Lỗi cố ý: Có 2 dạng lỗi cố ý: Lỗi cố ý trực tiếp và Lỗi cố ý gián tiếp

+ Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của 1 người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; nhận thức rõ hành vi của mình là có tính nguy hiểm cho xã hội; thấy trước hậu quả của hành vi đó

Về lý trí: đối với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ; đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng như thấy trước hậu quả sẽ xảy ra nếu thực hiện hành vi đó.

Về ý chí: người phạm tội mong muốn hậu quả phát sinh. Tức là hậu quả của hành vi phạm tội mà người phạm tội đã thấy trước hoàn toàn phù hợp với mục đích và phù hợp với dự mong muốn của người đó

+ Lỗi cố ý gián tiếp: là lỗi của 1 người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình; thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra; tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc hậu quả xảy ra

Về lý trí: họ cũng nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình; cũng thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà họ có thể gây ra

Về ý chí; người phạm tội không mong muốn hậu quả đó mà họ có thái độ để mặc cho nó xảy ra. Tuy nhiên; họ mong muốn hành vi nguy hiểm được thực hiện để đạt được mục đích khác của họ. Vì vậy, họ chấp nhận hậu quả xảy ra khi thực hiện hành vi.

 

4. So sánh lỗi cố ý trực tiếp với lỗi cố ý gián tiếp

Xét thấy rằng trong hai trường hợp có lỗi cố ý, lí trí của người có lỗi về cơ bản không có gì khác nhau. Sự khác nhau của hai loại lỗi này chủ yếu là ở yểu tố ý chí. Đó là “mong muốn...” hay “có ý thức để mặc...”.

Nếu trong trường họp có lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội mong muốn hậu quả thiệt hại xảy ra thì trong trường hợp có lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội không mong muốn mà chỉ có ý thức để mặc cho hậu quả thiệt hại xảy ra. Đối với người có lỗi cố ý gián tiếp, hậu quả thiệt hại xảy ra hay không xảy ra đều không có ý nghĩa, không xảy ra cũng được và nếu xảy ra cũng chấp nhận.

Ví dụ: Do bực tức, A đã dùng dao đâm bừa vào B làm B chết. Khi đâm, A nhận thức được việc đâm của mình là nguy hiểm, có thể dẫn đến chết người. Nhưng do bực tức nên vẫn cứ đâm, muốn như thế nào cũng được. A không mong muốn giết B nhung nếu B chết cũng chấp nhận.

Với sự khác nhau về yếu tố ý chí như vậy, buộc yếu tố lí trí của người phạm tội ở hai trường hợp có lỗi cố ý tuy về cơ bản là giống nhau, phải có điểm khác nhau. Ở trường hợp có lỗi cố ý trực tiếp, sự thấy trước hậu quả thiệt hại của người phạm tội có thể là thấy trước hậu quả đó tất nhiên phải xảy ra hoặc là có thể xảy ra. Nhưng ở trường hợp có lỗi cố ý gián tiếp, sự thấy trước hậu quả thiệt hại của người phạm tội chỉ có thể là thấy trước hậu quả đó có thể xảy ra. Không thể có trường họp người phạm tội đã thấy trước hậu quả tất nhiên phải xảy ra mà lại “có ý thức để mặc...”, không mong muốn hậu quả đó khi thực hiện hành vi. Thái độ có ý thức để mặc cho hậu quả thiệt hại xảy ra chỉ có thể xảy ra trong trường hợp thấy trước cả hai khả năng - khả năng hậu quả thiệt hại xảy ra và khả năng hậu quả thiệt hại không xảy ra.

Từ phân tích trên có thể rút ra những dấu hiệu của lỗi cố ý gián tiếp như sau:

- Về lí trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính gây thiệt hại cho xã hội của hành vi của mình, thấy trước hành vi đó có thể gây ra hậu quả thiệt hại.

- Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hậu quả thiệt hại xảy ra. Hậu quả thiệt hại mà người phạm tội thấy trước không phù hợp với mục đích của họ. Người phạm tội thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại cho xã hội là nhằm mục đích khác. Đe đạt được mục đích này, người phạm tội chấp nhận hậu quả thiệt hại do hành vi của mình có thể gây ra. Người phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc đoi với hậu quả thiệt hại của hành vi của mình mà họ thấy trước.

Tóm lại, dấu hiệu quan trong nhất của lỗi cố ý gián tiếp là dấu hiệu “có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra”. Dấu hiệu này có nghĩa chủ thể “chấp nhận hậu quả xảy ra”.

Trong bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, lỗi cố ý được phân thành hai loại: Lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp như đã trình bày. Trong nghiên cứu, còn có thể phân loại lỗi cố ý theo các cách sau:

- Tuỳ thuộc vào thời điểm hình thành có thể phân biệt hai loại lỗi cố ý: cố ý có dự mưu và cố ý đột xuất.

Cố ý có dự mưu là trường hợp người phạm tội đã có sự suy nghĩ, cân nhắc kĩ trước khi thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại cho xã hội.

Cố ý đột xuất là trường hợp người phạm tội vừa có ý định phạm tội đã thực hiện ngay ý định đó, chưa kịp có sự cân nhắc kĩ.

- Căn cứ vào mức độ cụ thể của sự hình dung về hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, có thể phân biệt hai loại lỗi cố ý: cố ý xác định và cố ý không xác định.

Cố ỷ xác định là trường hợp người phạm tội hình dung được một cách rõ ràng và cụ thể hậu quả thiệt hại mà hành vi của họ sẽ gây ra.

Ví dụ: Người phạm tội trộm cắp tài sản có ý định trộm cắp tài sản cụ thể và đã thực hiện ý định đó.

Cổ ý không xác định là trường hợp người phạm tội tuy thay trước hậu quả thiệt hại nhưng chưa hình dung được một cách cụ thể hậu quả đó.

Ví dụ: Khi dùng gậy gây thương tích cho người khác, người phạm tội chưa hình dung được một cách cụ thể thương tích sẽ xảy ra có mức độ nặng nhẹ như thế nào.

 

5. Bàn về lỗi cố ý gián tiếp ?

Theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017) quy định về lỗi cố ý gián tiếp là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (Khoản 2 Điều 10). Còn lỗi vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được (Khoản 1 Điều 11).

Những trường hợp thường xảy ra nhầm lẫn trong phân biệt lỗi để định tội danh trong hoạt động tố tụng như tội Giết người (với lỗi cố ý gián tiếp) với tội Vô ý làm chết người; tội Giết người với tội Cố ý gây thương tích (trường hợp dẫn đến chết người); tội Giết người với tội Cản trở giao thông đường bộ (hành vi rải đinh, đặt vật cản trên đường bộ dẫn đến hậu quả chết người), giữa việc định tội danh về xâm phạm sở hữu và tội giết người hay chỉ định tội về tội xâm phạm sở hữu với tình tiết định khung “làm chết người”?…

Điểm khác biệt lớn nhất và qua đó có thể phân biệt được nằm ở lý trí của người phạm tội thông qua việc trả lời câu hỏi người phạm tội “bỏ mặc, chấp nhận hậu quả nếu nó xảy ra” hay chỉ là “tin rằng hậu quả không xảy ra”. Chính bởi yếu tố quyết định để có thể nhận định lại nằm trong ý thức chủ quan nên cách phân biệt chính xác nhất không chỉ dựa vào lời khai của người phạm tội trong quá trình tố tụng, vào các biểu hiện khách quan như vị trí bị tấn công trên cơ thể người bị hại, mức độ của hành vi tấn công… mà còn phải kiểm chứng thông qua các biểu hiện ra bên ngoài (biểu hiện tâm lý) của người phạm tội.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể. Trân trọng cảm ơn!