Căn cứ vào định nghĩa có thể rút ra hai dấu hiệu của lỗi vô ý vì cẩu thả:

Dấu hiệu thứ nhất: Người phạm tội không thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội (hậu quả thiệt hại) mà hành vi của mình đã gây ra.

Dấu hiệu thứ hai: Người phạm tội phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Dấu hiệu thứ nhất là dấu hiệu cho phép phân biệt trường hợp có lỗi vô ý vì cẩu thả với các trường hợp có lỗi khác. Dấu hiệu thứ hai là dấu hiệu cho phép phân biệt trường hợp có lỗi vô ý vì cẩu thả với trường hợp không có lỗi.

* Về dấu hiệu thứ nhất

Ở ba trường hợp có lỗi đã nghiên cứu, người phạm tội đều thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả thiệt hại, tuy mức độ thấy trước có sự khác nhau. Trong trường hợp có lỗi vô ý vì cẩu thả, người phạm tội không thấy trước hậu quả thiệt hại của hành vi của mình. Việc người phạm tội không thấy trước hậu quả thiệt hại của hành vi của mình có thể xảy ra theo các khả năng sau:

- Người phạm tội không nhận thức được mặt thực tế của hành vi của mình và như vậy cũng có nghĩa không nhận thức được khả năng gây hậu quả thiệt hại của hành vi của mình. Ví dụ: Y tá khi phát nhầm thuốc cho bệnh nhân (do vội vàng) đã không nhận thức được hành vi của mình là hành vi phát nhầm và do vậy cũng không nhận thức được hành vi của mình có khả nâng gây ra hậu quả thiệt hại.

- Người phạm tội tuy nhận thức được mặt thực tế của hành vi của mình nhưng lại hoàn toàn không nhận thức được khả năng gây hậu quả thiệt hại của hành vi của mình (hoàn toàn không nghĩ đến khả năng hậu quả xảy ra). Ví dụ: Người vứt que diêm cháy dở sau khi châm thuốc ngay chỗ bơm xăng có thể hoàn toàn không “kịp” nghĩ đến khả năng gây hoả hoạn.

* Về dấu hiệu thứ hai

Người phạm tội trong trường hợp có lỗi vô ý vì cẩu thả có nghĩa vụ phải thấy và có đủ điều kiện để có thể thấy trước hậu quả thiệt hại của hành vi của mình. Điều này xuất phát từ ttách nhiệm cụ thể của cá nhân và hoàn cảnh. Với ttách nhiệm cụ thể của mình, người phạm tội có nghĩa vụ thấy trước hậu quả thiệt hại và điều kiện cụ thể không cản trở họ thấy trước hậu quả thiệt hại. Người phạm tội không thấy trước hậu quả thiệt hại của hành vi của mình chỉ vì sự cẩu thả, thiểu sự thận trọng cần thiết của chính họ. Lỗi của người phạm tội là ở chỗ đã cẩu thả, đã thiếu thận trọng khi xử sự.

>> Xem thêm:  Lỗi là gì ? Quy định pháp luật về Lỗi ? Phân tích Trường hợp hỗn hợp lỗi

Xã hội đòi hỏi mỗi người phải tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tập thể và của người khác. Mỗi người không những không được cố ý gây ra hậu quả thiệt hại cho xã hội mà trong xứ sự của mình đòi hòi phải có sự thận trọng cần thiết nhằm tránh gây ra những hậu quả thiệt hại đó. Đòi hỏi khách quan này của xã hội đã trở thành những quy tắc của đời sống, ttong đó có những quy tắc đã được pháp luật hoá và có những quy tắc chưa được pháp luật hoá nhưng qua kinh nghiệm, mọi người đều biết và thừa nhận có nghĩa vụ phải thực hiện. Những quy tắc đó thuộc những lĩnh vực khác nhau của đời sổng xã hội như quy tắc ttong giao thông, quy tắc trong săn bắn, quy tắc phòng hoả, quy tắc an toàn lao động... Người phạm tội với lỗi vô ý vì cẩu thả là người về khách quan đã gây ra hậu quả thiệt hại do đã vi phạm quy tắc nhất định của cuộc sống chung xã hội. về chủ quan, người phạm tội với lỗi vô ý vì cẩu thả có nghĩa vụ phải tuân thủ quy tắc mà họ đã vi phạm. Với ttách nhiệm cụ thể của mình và hoàn cảnh khách quan, người phạm tội phải thấy hành vi không cẩn thận, không tuân thủ quy tắc đã được đặt ra sẽ gây ra hậu quả thiệt hại. Ví dụ: Với trách nhiệm là y tá phát thuốc cho bệnh nhân, người phạm tội phải thấy được việc phát thuốc không cẩn thận có thể dẫn đến phát nhầm và do vậy có thể gây ra hậu quả thiệt hại cho sức khỏe hoặc tính mạng của bệnh nhân sử dụng thuốc; với trách nhiệm là người dân sổng trong cộng đồng, người phạm tội phải thấy được việc dùng lửa không cẩn thận ttong khi đun nấu có thể dẫn đến hoả hoạn gây ra hậu quả thiệt hại cho mình và hàng xóm...

Tóm lại, dấu hiệu "phải thấy" ở lỗi vô ý vì cẩu thả có nghĩa là người phạm tội có nghĩa vụ phải tuân thủ quy tắc mà họ đã vi phạm. Nghĩa vụ đó phát sinh từ ttách nhiệm cụ thể của người phạm tội. Do có nghĩa vụ đó mà họ buộc phải thấy được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả thiệt hại.

Người phạm tội với lỗi vô ý vì cẩu thả không những “phải thấy” mà còn “có thể thấy” trước hậu quả thiệt hại của hành vi của mình. "Có thể thấy" ở đây có nghĩa là người phạm tội có đủ điều kiện khách quan (hoàn cảnh cụ thể bên ngoài) cũng như điều kiện chủ quan (trình độ nhận thức, trình độ nghiệp vụ, kinh nghiệm...) để có thể thấy trước hành vi vi phạm của mình có thể gây ra hậu quả thiệt hại. Người phạm tội hoàn toàn có điều kiện tuân thủ quy tắc mà họ đã vi phạm. Ở ví dụ trên, y tá hoàn toàn có điều kiện để cẩn thận khi phát thuốc, không có gì cản trở việc phát thuốc đúng của họ hoặc tác động làm họ phát nhầm thuốc.

Khi xác định người phạm tội có lỗi vô ý vì cẩu thả cần chú ý, trong một số hoạt động có tính chất chuyên môn, sự hiểu biết về các quy tắc bảo đảm an toàn đòi hỏi phải có sự hướng dẫn, học hỏi nhất định. Do vậy, việc xác định các đặc điểm chủ quan của người phạm tội về trình độ nghiệp vụ là điều kiện cần thiết để xác định người phạm tội có lỗi vô ý vì cẩu thả.

So sánh với lỗi cố ý, lỗi vô ý là sự phủ định chủ quan ít nghiêm trọng hơn.

Người phạm tội với lỗi vô ý đã lựa chọn và thực hiện hành vi vì không thấy trước hậu quả thiệt hại của hành vi hoặc thấy trước nhưng tin hậu quả đó không xảy ra và do vậy cũng không nhận thức được hành vi sẽ thực hiện là hành vi phạm tội. Họ không lựa chọn hành vi phạm tội như trường họp có lỗi cố ý. Do tính chất như vậy nên những hành vi vô ý nói chung chỉ có tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm khi đã gây ra hậu quả thiệt hại ở mức độ nhất định. Đó là lí do giải thích tại sao trong luật hình sự Việt Nam, những cấu thành tội phạm (CTTP) có dấu hiệu lỗi vô ý thường được xây dựng dưới dạng cấu thành tội phạm vật chất. Còn trường hợp cấu thành tội phạm hình thức có dấu hiệu lỗi vô ý chỉ có tính cá biệt.

Ví dụ: cấu thành tội phạm tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước (khoản 1 Điều 338 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017); cấu thành tội phạm tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự (khoản 1 Điều 406 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Lỗi vô ý vì quá tự tin là gì ? Cho ví dụ về lỗi vô ý vì quá tự tin theo luật hình sự ?

>> Xem thêm:  Gây thiệt hại về tài sản khi tai nạn giao thông có bị truy cứu?