1. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có bị phạt tù?

Tôi cho bạn tôi chủ 1 doanh nghiệp mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp ở ngân hàng( bên nhận bảo lãnh) số tiền 2.5 tỷ đồng năm 2009 ....Do doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, bạn tôi đã không chi trả ngân hàng, đến nay là 6 năm. Ngân hàng đã khoanh vào nợ xấu, không tính lãi....Do có dấu hiệu lừa đảo và sai phạm của 1 số cán bộ ngân hàng đã câu kết tiếp tay cho doanh nghiệp bạn tôi ( Vài cán bộ trong ngân hàng cũng bị bạn tôi lừa ).
Tôi muốn khởi kiện bạn tôi doanh nghiệp về tội: Lừa đảo, lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản người khác để lấy lại sổ đỏ được không ? - Nhưng giữa tôi và bạn tôi không làm giấy tờ mượn, mà chỉ nói mồm mượn một tháng rồi trả ( do quá tin tưởng bạn thân, nên bị lừa ). Ngoài tôi còn > 10 người nữa cũng bị lừa như vậy với số tiền hàng trăm tỷ đồng.... . Tôi có thể khởi kiện anh ta để lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được không ? Và tôi phải làm như thế nào?
Rất mong quý luật sư tư vấn, lúc đầu bạn tôi bảo đứng ra bảo lãnh cho anh ta vay 1 tỷ, nhưng trên hồ sơ bảo lãnh là 2.5 tỷ sau này nhà tôi mới biết.

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hình sự, gọi: 1900.0159

Trả lời:

1. Cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi nào ?

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017, các yếu tố cấu thành của tội này như sau:
Mặt khách quan:
- Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản
- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
Lưu ý:
Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.
- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự
Dấu hiệu khác: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên. Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác
Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

2. Cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017. Các yếu tố cấu thành của tội này như sau:
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
- Dấu hiệu về mặt chủ thể của tội phạm: Có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên.
- Dấu hiệu về mặt khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt. Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
- Dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm: Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản. Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt, người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm: Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được cấu thành khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Giá trị của tài sản chiếm đoạt của người khác từ 4.000.000 đồng trở lên
- Giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội về xâm phạm sở hữu khác nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống của chính người bị hại hoặc gia đình họ.
Những hành vi khách quan cần có những điểm đáng lưu ý sau:
- Người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp thông qua các hợp đồng vay, mượn thuê tài sản của người khác hoặc bằng hình thức khác. Sau khi có được tài sản người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
- Nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn nhưng sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì cũng bị coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
=> Như vậy, ở đây bạn phải xác định rằng hành vi của anh bạn kia là lừa đảo bạn, chiếm đoạt tài sản của bạn bằng hành vi gián dối hay là có được tài sản của bạn rồi mới nảy sinh ra hành vi chiếm đoạt.

3. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự là gì? khi nào công an mới khởi tố vụ án để điều tra ?

Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ: tố giác của cá nhân;Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;Người phạm tội tự thú.
Do đó, để công an có thể khởi tố vụ án hình sự thì bên cạnh việc khi có yếu tố hình sự thì bạn nên làm đơn trình báo lên cơ quan công an cấp quận/huyện nơi bạn đang cư trú để cơ quan chức năng tiếp nhận được nguồn tin của bạn.

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

2. Đòi tiền lừa đảo trên game online như thế nào?

Thưa luật sư: Em muốn hỏi luật sư là hành vi lừa đảo trên game online. Số tiền không to chỉ 500 ngàn đồng, giao dịch qua ATM nhưng không nhận được đồ trong game liệu em có các bằng chứng, chứng minh người đó lừa đảo liệu em có thể báo công an để được hoàn tiền hay gì khác không?

Căn cứ Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Đối với trường hợp của bạn, bạn gửi tiền mua hàng mà không nhận được hàng hóa như đã thỏa thuận thì chính là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Đưa ra thông tin gia dối, không đúng sự thật, làm cho bên kia tin là đúng và chuyển giao tài sản cho họ.

Tuy nhiên, nếu người kia chỉ có một hành vi lừa đảo với riêng bạn, chiếm đoạt số tiền là 500.000 đồng thì chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, bởi để truy cứu trách nhiệm hình sự giá trị số tiền chiếm đoạt phải là từ 2 triệu đồng, hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Quan hệ vay tài sản chuyển thành thành tội lừa đảo?

Thưê, tôi có câu hỏi muốn được giải đáp: 1. Vụ thứ nhất : Năm 2011, bà Y ký hợp đồng với Công ty xăng dầu BĐ, đã nhận 01 xe dầu trị giá khoảng 300 triệu đồng. Một thời gian sau, bà Y thanh toán một phần cho Công ty xăng dầu BĐ và còn nợ 150 triệu đồng. Sau nhiều lần đòi nợ không được, đầu năm 2014 Công ty xăng dầu BĐ khởi kiện, được Toà Án giải quyết hoà giải.

Chi cục Thi Hành Án ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của Công ty xăng dầu BĐ, yêu cầu bà Y phải trả nợ cho Công ty là 150 triệu đồng. Tuy nhiên doanh nghiệp của bà Y đã giải thể, không có tài sản để thi hành. Chi cục Thi Hành Án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án, Công ty xăng dầu BĐ có quyền yêu cầu thi hành lại bất cứ khi nào phát hiện bà Y có tài sản hay không ?

2. Vụ thứ hai : Đầu năm 2011, vợ chồng bà Y thoả thuận bán cho bà V 01 lô đất rừng có GCNQSDĐ (sổ đỏ). Bà Y đã nhận số tiền 220 triệu đồng của bà V, hứa sau vài tuần sẽ sang tên sổ đỏ cho bà V. Vì là chỗ thân quen nên lúc đó hai bên không viết giấy giao nhận tiền (chưa xác định rõ là ngày nào). Việc giao dịch và trồng rừng, bà V nhờ anh mình là ông C thực hiện. Sau một thời gian không thấy sang tên sổ đỏ cho bà V, ông C cùng bà Y làm giấy nhận tiền (220 triệu) vào ngày 15/3/2011. Tuy nhiên, sổ đỏ này vợ chồng bà Y đã chế chấp Ngân Hàng vào ngày 10/3/2011 để vay 50 triệu đồng. Nhiều lần bà V hỏi bà Y về việc sang tên sổ đỏ, bà Y trả lời sổ đỏ đang thế chấp ở Ngân Hàng và yêu cầu bà V đưa thêm 50 triệu đồng để nộp Ngân Hàng và rút sổ đỏ ra. Nhưng bà V không đổng ý. Cùng thời điểm đó, bà Y còn nợ tiền của người khác nữa là ông D. Ông D đã đưa số tiền 50 triệu đồng để bà Y rút sổ đỏ ra và giao cho ông D giữ. Một thời gian sau bà Y không trả tiền cho ông D, cho nên đã sang tên sổ đỏ cho ông D với giá là 300 triệu đồng (được cấp sổ đỏ ngày 24/12/2012). Biết việc vợ chồng bà Y sang tên sổ đỏ đất rừng cho ông D mà không trả tiền cho bà V, cho nên ngày 23/01/2013 ông C đã thay em mình (bà V) viết đơn tố cáo vợ chồng bà Y lừa đảo. Sau nhiều lần dây dưa không giải quyết, đến ngày 05/9/2014 vợ chồng bà Y viết giấy thoả thuận với bà V sẽ trả nợ dần 4 triệu đồng/tháng, đến ngày 30/12/2018 phải trả xong nợ cho bà V.

Như vậy, xin hỏi luật sư :

- Hành vi của vợ chồng bà Y có phải là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản , là vi phạm pháp luật không ?

Trả lời:

1. Bà Y có tiếp tục phải trả nợ cho công ty xăng dầu hay không ?

Việc bà Y có phải chịu trách nhiệm về khoản nợ với công ty xăng dầu bằng tài sản riêng hay không phụ thuộc vào những yếu tố sau :

Khoản nợ với công ty xăng dầu được thực hiện dưới danh nghĩa của bà Y hay của công ty bà Y , nếu bà Y thực hiện vay tài sản với tư cách là cá nhân bà hoặc doanh nghiệp tư nhân do bà làm đại diện thì bà Y phải chịu trách nhiệm bằng tòàn bộ tài sản của mình đối với khoản nợ đó . Nếu bà nhân danh công ty có tư cách pháp nhân để giao dịch thì bà chỉ phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của công ty , khi công ty thanh lý hết tài sản và giải thể thì bà Y không phải mang tài sản riêng của mình ra trả nợ nữa .

2. Với tình huống của bạn , chúng tôi xin đưa ra những tư vấn về khía cạnh luật hình sự :

Căn cứ vào quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài

Có thể thấy cấu thành tội phạm của tội này như sau:

Thứ nhất, mặt khách quan

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

b) Dấu hiệu khác

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Thứ hai, khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

Thứ ba, mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

Vậy theo tình huống trên khi giao kết hợp đồng với bà V bà Y đã không những không đưa ra thông tin mảnh đất rừng của bà đang trong diện thế chấp ngân hàng , mà còn đưa ra những thông tin sai sự thật, vậy ở đây hành vi của bà H đã có dấu hiệu gian dối nhằm mục đích khiến cho bà V đưa tiền cho mình .

"Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý", đây là 1 trong những yếu tố quan trọng để quyết định bà H có cố ý phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không . Nếu bà H có ý định đưa thông tin sai nhằm chiếm đoạt tài sản của bà V thì bà H đã đủ yếu tố để cấu thành tội nêu trên . Nếu bà H không có ý định lừa bà V và cho rằng mình có thể có khả năng chuộc lại sổ đỏ từ ngân hàng để chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà V đúng thời hạn nhưng do điều kiện khách quan mà bà H đã tiêu dùng hết số tiền và không thể chuộc lại sổ đỏ thì bà H không phạm tội này .

4. Bị lừa đảo qua Facebook xử lý như thế nào?

Em có quen 1 bạn ở fb, sau đó nhờ bạn ấy tải phần mềm, em mất phí 200.000 với bạn ấy bằng thẻ điện thoại. Sau đó bạn này bảo em đăng nhập tài khoản icloud của bạn để cài phần mềm, sau khi e đăng nhập vào icloud của bạn thì bạn này đổi mật khẩu và quay lại tống tiền yêu cầu gửi 700.000 để lấy mật khẩu. Em muốn hỏi hành vi của bạn này đủ để em tố cáo tội lừa đảo chưa. Em có Facebook , số điện thoại và tài khoản ngân hàng của bạn. Nếu muốn tố cáo em lien hệ với cơ quan nào a?

Trường hợp của bạn không đủ yếu tố để cấu thành tội phạm hình sự, vì thế bạn có thể làm đơn khởi kiện gửi lên tòa án để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Trên đây là ý kiến của chúng tôi về vấn đề của bạn dựa trên các quy định của pháp luật. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

Bộ phận tư vấn pháp hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo