Luật hợp tác xã là văn bản luật chứa đựng có hệ thống các quy phạm pháp luật, quy định và điều chỉnh về điều kiện thành lập, tổ chức và hoạt động của hợp tác xã trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.

Luật hợp tác xã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá IX, kì họp thứ 9 thông qua ngày 20.3.1996, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01.01.1997.

Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật hợp tác xã là các quan hệ phát sinh trong quá trình thành lập, tổ chức và hoạt động của các hợp tác xã thuộc mọi ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Hợp tác xã được hiểu là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra the0 các quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Một nét đặc trưng tiêu biểu của pháp luật về hợp tác xã là trên cơ sở các quy định của Luật, Chính phủ được giao ban hành các điều lệ mẫu hướng dẫn các hợp tác xã hoạt động phù hợp với tính chất ngành, nghề, linh vực hoạt động của từng hợp tác xã.

Từ khi Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế, các hợp tác xã đã có sự biến đổi cơ bản, từ số lượng 100.000 hợp tác xã lúc cao trào (1986- 1988) đã giảm mạnh chỉ còn 25.000 (1995-1996). Với cơ chế kinh tế mới, hình thức và tính chất của hợp tác xã đã có nhiều thay đổi. Khi muốn chuyển đổi, các hợp tác xã gặp nhiều lúng túng, vì cơ sở pháp lí không đủ để mở rộng các hình thức hợp tác đa dạng. Trước yêu cầu này, việc ban hành Luật hợp tác xã, đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự ra đời và khẳng định tư cách pháp lí của những mô hình kinh tế hợp tác có đủ điều kiện để trở thành hợp tác xã, đồng thời, tạo điều kiện để Nhà nước quản lí hợp tác xã theo pháp luật. Luật hợp tác xã xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân hợp tác xã, khuyến khích phát triển hợp tác xã trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Luật hợp tác xã cũng khẳng định rõ đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta coi hợp tác xã là một thành phần kinh tế quan trọng để cùng với kinh tế nhà nước, tạo ra động lực mới thu hút đông đảo quần chúng lao động tích cực tham gia sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước.

Luật hợp tác xã năm 1996 gồm có 10 chương với 56 điều. Chương I - Những quy định chung, gồm 11 điểu, quy định về hợp tác xã, phạm vi điều chỉnh, chính sách của Nhà nước đối với hợp tác xã, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã, quyền và nghĩa vụ, tên và biểu tượng của hợp tác xã. Chương II - Thành lập và đăng kí kinh doanh, gồm 10 điều, quy định về các điều kiện thành lập và thủ tục đăng kí kinh doanh hợp tác xã. Chương lÌl - Xã viên, gồm 4 điều, quy định về điều kiện để trở thành xã viên hợp tác xã, quyền và nghĩa vụ của xã viên, các căn cứ để chấm dứt tư cách xã viên. Chương IV - Tổ chức và quản lí hợp tác xã, gồm 10 điều, quy định về Đại hội xã viên, Ban quản trị, Ban Kiếnh soát, Chủ nhiệm hợp tác xã. Chương V - Tài sản và tài chính của hợp tác xã, gồm 8 điều, quy định về vốn góp của xã viên, chế độ huy động vốn, về các quỹ, tài sản của hợp tác xã, cách xử lí vốn, tài sản khi hợp tác xã giải thể, việc phân phối lãi và xử lí các khoản lỗ của hợp tác xã. Chương VI, gồm

4 điều, quy định về hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản hợp tác xã. Chương VII, gồm 2 điều, quy định về liên hiệp hợp tác xã và tổ chức liên minh hợp tác xã. Chương VIII - Quản lí nhà nước đối với hợp tác xã, gồm 3 điều, quy định về nội dung quản lí nhà nước, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp đối với hợp tác xã, quy định mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và vai trò của các tổ chức này đối với hợp tác xã. Chương IX - Khen thưởng, xử lí vi phạm, gồm 2 điều. Chương X - Điều khoản thi hành, gồm 2 điều, quy định về hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành Luật hợp tác xã. So sánh Luật hợp tác xã năm 1996 của Việt Nam với luật hợp tác xã một số nước trên thế giới và khu vực cho thấy, các quy định của Luật hợp tác xã năm 1996 đã gần hơn về bản chất hình thức kinh tế tập thể đối với quy định của pháp luật các nước trên thế giới, đặc biệt là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã. Hợp tác xã được ghi nhận là một loại hình doanh nghiệp hoạt động bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác trước pháp luật.

Sau 5 năm thi hành, Luật hợp tác xã năm 1996 đã được thay thế bằng Luật hợp tác xã mới được Quốc hội khoá XI, kì họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003.