1. Khái niệm Luật Kinh tế

Luật kinh tế là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lí và hoạt động sản xuất, kinh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau và giữa các doanh nghiệp với các cơ quan quản lí nhà nước về kinh tế.

Luật kinh tế là một bộ phận của pháp luật về kinh tế, là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau.

Luật kinh tế ra đời nhằm duy trì và giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại cũng như đảm bảo quy trình hoạt động của các doanh nghiệp trong quá trình trao đổi, giao thương cả trong nước và quốc tế.

Luật kinh tế điều chỉnh hai nhóm quan hệ xã hội chủ yếu, đó là: quan hệ giữa cơ quan quản lí nhà nước về kinh tế với các doanh nghiệp, phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lí hoạt động kinh doanh và quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau, phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, luật kinh tế còn điều chỉnh các quan hệ kinh tế nội bộ, tức là điều chỉnh các quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của một doanh nghiệp, một chủ thể kinh doanh. Chủ thể của luật kinh tế chính là các chủ thể kinh doanh và các cơ quan quản lí nhà nước về kinh tế.

Luật kinh tế xuất hiện từ những năm đầu của thế kỉ XX ở các nước tư bản chủ nghĩa, khi một số nhà nước tư sản tăng cường sự can thiệp của mình vào lĩnh vực các quan hệ kinh tế. Sau Cách mạng tháng Mười Nga 1917, cùng với sự hình thành Nhà nước liên bang Cộng hoà xã hội Xô Viết và sau đó là hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, tuy ở mức độ khác nhau, ở các nước này luật kinh tế được thừa nhận như là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của mỗi nước.

Ở Việt Nam, luật kinh tế ra đời và được thừa nhận như ngành luật độc lập trong hệ thống các ngành luật Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ XX và đó là bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật kinh tế. Đến nay, luật kinh tế vẫn còn tồn tại và phát triển về nội dung cũng như hình thức.

Luật kinh tế gồm các chuyên ngành:

- Luật thương mại quốc tế

- Luật kinh doanh

- Luật Tài chính ngân hàng.

2. Ngành Luật kinh tế học những gì?

Sinh viên học ngành Luật kinh tế được cung cấp kiến thức và kỹ năng chuyên sâu về pháp luật, thực tiễn pháp lý, pháp luật trong kinh doanh; khả năng nghiên cứu và xử lý những vấn đề pháp lý đặt ra trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.
Một số môn học then chốt trong chương trình đào tạo ngành Luật kinh tế: Luật sở hữu trí tuệ, Pháp luật về doanh nghiệp, Luật thương mại, Luật cạnh tranh, Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Thủ tục đăng ký doanh nghiệp và thủ tục đầu tư, Phá sản và giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, Pháp luật kinh doanh bất động sản, Luật đầu tư, Pháp luật về đầu tư xây dựng... họ

3. Khái niệm về pháp luật kinh tế

Pháp Luật kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong lúc tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau:

3.1 Đối tượng mục tiêu điều chỉnh của luật kinh tế

Đối tượng điều tiết của pháp luật kinh tế là những quan hệ kinh tế do pháp luật kinh tế tác động vào bao gồm:

3.2 Nhóm quan hệ quản lý kinh tế

+ Là quan hệ phát sinh trong lúc quản lý kinh tế giữa các đơn vị quản lý nhà nước về kinh tế với các chủ thể kinh doanh.

+ Đặc điểm của nhóm quan hệ này:

- Quan hệ quản lý kinh tế phát sinh và hiện hữu giữa các cơ quan quản lý và các cơ quan bị quản lý (Các chủ thể kinh doanh) khi các đơn vị quản lý thực hiện công dụng quản lý của mình

- Chủ thể tham gia quan hệ này ở vào vị trí bất đẳng (Vì quan hệ này hình thànhđược làm dựa trên nguyên tắc quyền uy phục tùng)

- Cơ sở pháp lý: Trọng điểm thông qua các văn bản pháp nguyên nhân các đơn vị quản lý có thẩm quyền ban hành.

4. Quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau

+ Đây là những quan hệ kinh tế thường phát sinh do thực hiện hoạt động sản xuất, hoạt động tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các hoạt động dịch vụ trên thị trường nhằm mục tiêu sinh lời.Trong bộ máy các quan hệ kinh tế thuộc đối tượng mục tiêu điều chỉnh của pháp luật kinh tế, nhóm quan hệ này là nhóm quan hệ trọng điểm, thường xuyên và phổ biến nhất.

+ Đặc điểm:

- Chúng phát sinh trực tiếp trong quá trình kinh doanh nhằm đáp ứng các nhu cầu bán hàng của các chủ thể kinh doanh

- Chúng phát sinh trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng kinh tế hoặc những thoả thuận.

- Chủ thể của nhóm quan hệ này trọng điểm là các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế tham gia vào quan hệ này trên nguyên tắc tình nguyện, công bằng và các bên cùng có lợi.

- Nhóm quan hệ này là nhóm quan hệ tài sản – quan hệ hàng hoá- tiền tệ.

5. Quan hệ kinh tế phát sinh trong nội bộ một vài doanh nghiệp

Là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động bán hàng giữa tổng công ty, tập đoàn kinh doanh và các cơ quan thành viên cũng giống như giữa các đơn vị thành viên trong nội bộ tổng doanh nghiệp hoặc tập đoàn bán hàng đấy với nhau..

Cơ sỏ pháp lý : Thông qua nội quy, quy chế, điều lệ, đảm bảo.

6. Phương pháp điều chỉnh

Do luật kinh tế vừa điều chỉnh quan hệ quản lý kinh tế giữa chủ thể không công bằng vừa điều tiết quan hệ tài sản giữa các chủ thể công bằng với nhau phát sinh trong quá trình kinh doanh cho nên luật kinh tế dùng và phối hợp nhiều phương pháp tác động không giống nhau như kết hợp phương pháp mệnh lệnh với phương pháp thoả thuận theo mức độ linh động tuỳ theo từng quan hệ kinh tế cụ thể.

Tuy nhiên Phương pháp điều tiết của pháp luật kinh tế được bổ xung nhiều điểm mới:

Phương pháp mệnh lệnh trong điều tiết pháp lý các hoạt động kinh doanh hầu như không còn được áp dụng rộng lớn. Các quan hệ tài sản với mục đích bán hàng được trả lại cho chúng nguyên tắc tự do ý chí tự do khế ước.

7. Phương pháp mệnh lệnh

Được sử dụng trọng điểm để điều tiết nhóm quan hệ quản lý kinh tế giữa các chủ thể bất bình đẳng với nhau. để phù hợp với đặc trưng của nhóm quan hệ này pháp luật kinh tế đã tác động vào chúng bằng việc quy định cho các đơn vị quản lý nhà nước về kinh tế trong phạm vi công dụng của mìnhcó quyền ra quyết định chỉ thị bắt buộc đối với các chủ thể kinh doanh (bên bị quản lý). Còn bên bị quản lý có nghĩa vụ thực hiện quyết định đó:

7.1 Phương pháp thoả thuận

Được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình bán hàng giữa các chủ thể công bằng với nhau.

thực chất của phương pháp này thể hiện ở chỗ: Luật kinh tế quy định cho các bên thăm quan hệ kinh tế có quyền công bằng với nhau, thoả thuận những vấn đề mà các bên quan tâm khi thiết lập hoặc chấm dứt quan hệ kinh tế mà không bị dựa vào ý chí của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào.

Việc này có nghĩa là pháp luật qui định quan hệ kinh tế chỉ được coi là tạo thành trên cơ sở sự thống nhất ý chí của các bên và không trái với các quy định của nhà nước.

7.2 Nội dung căn bản của pháp Luật Kinh tế trong nền kinh tế thị trường

Pháp Luật Kinh tế qui định qui chế pháp lí về những loại chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế– Luật Kinh tế qui định những loại hình công ty và chủ thể kinh doanh khác

– Luật Kinh tế qui định về điều kiện và thủ tục gia nhập thị trường của nhà đầu tư

– Luật Kinh tế qui định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh và của người góp vốn

– Luật Kinh tế qui định vấn đề cơ cấu tổ chức quản lí (quản trị nội bộ) của mỗi loại hình doanh nghiệp

– Luật Kinh tế qui định vấn đề tổ chức lại doanh nghiệp

– Luật Kinh tế qui định điều kiện, thủ tục rút khỏi thị trường của tổ chức (bao gồm thủ tục giải thể và phá sản doanh nghiệp).

Pháp Luật Kinh tế qui định về các hoạt động thương mại, đầu tư và hợp đồng trong thương mại và đầu tư (gọi chung là hợp đồng thương mại)

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động thương mại được làm trong khuôn khổ quyền tự do hợp đồng, tự do thương mại.

Xét ở tầm liên quan, hoạt động thương mại không chỉ ảnh hưởng đến ích lợi của doanh nghiệp, đối tác của công ty mà còn có ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng, của tổ chức, cá nhân khác, đến sự phát triển hàng hóa, dịch vụ và sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung.

Đây là lí do pháp luật cần qui định cơ sở pháp lí cần thiết cho công ty tiến hành hoạt động thương mại cụ thể.

Xem thêm : Kiến thức kinh doanh cơ bản là gì ? Kiến thức cơ bản về kinh doanh

Pháp Luật Kinh tế điều chỉnh hành vi cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của công ty

Tự do kinh doanh và tự do khế ước cùng với sự giục giã của qui luật giá trị và bản tính của con người dẫn đến các hoạt động cạnh tranh tự phát có thiên hướng thái quá, cực đoan, nhằm gây phiền phức, ngăn cản, hạn chế hoặc thủ tiêu cạnh tranh của các đối thủ… Hủy hoại động lực phát triển kinh tế.

Đây chính là lí do phải có sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh.

Pháp Luật Kinh tế qui định về giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong hoạt động thương mại, đầu tư của doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh

Mâu thuẫn kinh tế gồm có các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại của công ty, bảo gồm cả mâu thuẫn trong quan hệ đầu tư, mua kinh doanh hóa, cung ứng dịch vụ,….

Thông qua các văn bản pháp luật nhất định, Luật Kinh tế là cơ sở pháp lí để xác định:

– Quyền của doanh nghiệp, cá nhân bán hàng trong xử lý mâu thuẫn thương mại phát sinh giữa họ với nhau hoặc với chủ thể khác có liên quan;

– Nghĩa vụ và hành vi vi phạm hợp đồng của các bên có tranh chấp trong hoạt động thương mại;

– Trách nhiệm pháp lí của bên có hành vi vi phạm trong hoạt động thương mại, biểu hiện ở việc thực hiện các chế tài hợp đồng như phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, hủy hợp đồng…

– Cách thức giải quyết mâu thuẫn phát sinh từ hoạt động thương mại thông qua tự bàn bạc, hòa giải, trọng tài thương mại, tòa án.

TÓM LẠI

Luật kinh tế là một bộ phận của pháp luật về kinh tế, làhệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinhdoanh với nhau.

Luật doanh nghiệp 2020 chính thức có hiệu lực từ 01/01/2021

Luật Doanh nghiệp 2020 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV ngày 17/6/2020, trong đó có một số điểm mới nổi bật như:

- Thay đổi khái niệm về doanh nghiệp nhà nước, cụ thể bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại Điều 88 Luật doanh nghiệp 2020.

Hiện tại, tại Luật doanh nghiệp 2014: là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

- Bỏ quy định về thông báo mẫu dấu doanh nghiệp trước khi sử dụng.

Theo Luật doanh nghiệp 2014, trước khi sử dụng, doanh nghiệp phải thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

- Bổ sung thêm đối tượng không được thành lập và quản lý doanh nghiệp như: Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)