Luật La Mã là hệ thống pháp luật La Mã cổ đại thuộc kiểu pháp luật chiếm hữu nô lệ La Mã.

Pháp luật La Mã cổ đại được nâng lên hàng “Lý trí thành văn”, được tiếp thu, vận dụng rộng rãi trong các nhà nước phong kiến Tây Âu và là một nguyên tắc cơ bản của nhiều chế định pháp luật, nhất là pháp luật dân sự tư sản.

Có một cách nói được truyền tụng rộng rãi là người La Mã đã ba lần chinh phục thế giới: lần thứ nhất bằng các đạo quân lê dương; lần thứ hai bằng Thiên Chúa giáo; và lần thứ ba bằng pháp luật.

Xét về bản chất, luật La Mã thể hiện ý chí của giai cấp chủ nô, phản ánh lợi ích của giai cấp thống trị, là công cụ đàn áp nô lệ, chúng ra đời trong điều kiện cụ thể của xã hội La Mã cổ đại, khi quan hệ, giao lưu thương mại dựa trên chế độ sở hữu tư nhân rất phát triển ở dạng thuần túy, lại được một đội ngũ luật sư đông đảo và có trình độ nghiệp vụ cao biết sử dụng ngôn ngữ pháp lí để thể hiện các nhu cầu pháp lí của các quan hệ, giao lưu thương mại, hàng hóa một cách đúng đắn thành các quy định, chế định pháp lí chặt chẽ, có tính mẫu mực, mang ý nghĩa của một bộ phận tiêu biểu của nền văn minh La Mã.

Lần pháp điển hóa đầu tiên của luật La Mã được tiến hành vào những năm 5O của thế kỉ V trước Công nguyên với tên gọi: Luật XII bảng - vì được khắc trên mười hai bảng gỗ và đặt ở quảng trường thành phố để mọi người đều có thể đọc để biết và không ai được nói rằng, mình là người không biết pháp luật. Có đòi hỏi đã trở thành nguyên tắc được lưu truyền đến ngày nay là mỗi công dân La Mã khi đến tuổi trưởng thành bắt buộc phải thuộc lòng Luật XII bảng, nếu không sẽ không được hưởng các quyền công dân, trong đó có quyền tham gia vào các hoạt động của Tòa án.

Nội dung của Luật XII bảng chủ yếu bao gồm các quy tắc tục lệ, tập quán pháp. Nguyên bản Luật XII bảng không còn lưu lại được đến ngày nay. Người ta biết đến Luật XII bảng là nhờ những trích dẫn của các nhà sử học, luật gia La Mã, nhất là của các luật gia như: Xixêrông, Ulpian, Gay, đặc biệt là từ tác phẩm của Gay: sách giáo khoa về “các thiết chế” là sách được viết cho các trường dạy luật La Mã thời bấy giờ. Luật XII bảng phân biệt “công pháp” với tính cách là một tổng hợp bao š gồm các quy phạm liên quan đến Nhà nước La Mã như một chỉnh thể và “fư pháp" là những quy định liên quan đến lợi ích của cá nhân. Luật XII cũng phân biệt, chia “vật' thành hai loại: loại thứ nhất gồm đất đai, nô lệ, gia súc - sức kéo; loại thứ hai gồm tất cả các vật khác còn lại. Ÿ nghĩa của việc phân biệt “vật” thành hai loại là ở chỗ, đối với loại thứ nhất việc chuyển nhượng đòi hỏi một thủ tục riêng, chặt chẽ, chẳng hạn thủ tục chạm tay vào vật của người làm chứng.

Nói đến pháp luật La Mã phải thấy rằng xã hội La Mã với chế độ chiếm hữu nô lệ tồn tại kéo dài trên dưới 1000 năm (từ thế kỉ V trước Công nguyên đến thế kỉ V sảu Công nguyên), qua các giai đoạn: Vương chính là giai đoạn khi xã hội La Mã chuyển từ xã hội thị tộc sar:g xã hội có giai cấp, có nhà nước và kéo dài khoảng 2 thế kỉ, chế độ Cộng hòa kéo dài chừng 4 thế kỉ từ thế kỉ V trước Công nguyên đến thế kỉ I trước Công nguyên; đến chế độ Đế chế thế kỉ I trước Công nguyên đến thế kỉ V sau Công nguyên. Trong khoảng thời gian không ngăn đó, pháp luật La Mã đã trải qua các giai đoạn phát triển tương ứng, trong đó Luật XII bảng ra đời đầu tiên vào giữa thế kỉ V trước Công nguyên là lần pháp điển hóa thứ nhất, đã có một ảnh hưởng to lớn, lâu dài trong suốt thời gian tổn tại của xã hội La Mã cổ đại và trong các xã hội kéo dài hàng ngàn năm sau, đồng thời, phải thấy rằng, pháp luật La Mã không chỉ là Luật XII bằng.

Thế kỉ cuối cùng của nền Cộng hòa (thế kỉ thứ nhất trước Công nguyên) và 2 thế kỉ đầu tiên của chế độ Đế chế (thế kỉ thứ nhất và thứ hai sau Công nguyên) là thời kì cực thịnh của luật La Mã. Các chấp chính quan và các Hoàng đế La Mã, trước ảnh hưởng sâu rộng của Luật XII bảng, không chủ trương trực tiếp phủ định Luật này mà lần lượt đưa ra các lệnh có giá trị như Luật cho các thẩm phán thi hành trong khi xét xử và bằng cách đó, không nhắc tới các quy định của Luật XII bảng. Chủ nghĩa pháp lí hình thức rất tiêu biểu cho Luật XII bảng đã hoàn toàn đi vào dĩ vãng. Các nguyên tắc bình đẳng, công bằng, thiện chí được thừa nhận chính thức. Các chấp chính quan kế tục nhau khẳng định các lệnh của người tiền nhiệm và dần dần làm hình thành hệ thống pháp luật chấp chính quan. Nhưng xét đến ảnh hưởng lâu dài không chỉ trong xã hội La Mã cổ đại mà cả trong nhiều thế kỉ về sau và đối với những xã hội ngoài La Mã cho đến tận ngày nay, thì không thể không thấy trong các bộ phận cấu thành luật La Mã cổ đại, Luật XII bảng là tiêu biểu hơn cả không chỉ vì tính mở đầu độc đáo mà ở cả nội dung đầy sáng tạo, hoàn chỉnh, cũng vì vậy, Luật XII bảng có tính đại diện. Nói đến Luật La Mã người ta nghĩ ngay đến Luật XII bảng và cũng thường có tình hình đồng nhất Luật La Mã với Luật XII bảng tuy trên thực tế dù Luật XII bảng có tính tiêu biểu, điển hình, có tính đại diện cho luật La Mã nhưng luật La Mã không chỉ có Luật XII bảng mà tiếp sau Luật XII bảng và để đưa Luật XII bảng thích ứng, phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển, tiến hóa của xã hội La Mã cổ đại, luật La Mã đã có những bước phát triển mới, trải qua các giai đoạn phát triển của xã hội La Mã cổ đại, từ xã hội Vương chính sang giai đoạn Cộng hòa, có Đại hội nhân dân với thẩm quyển ban hành Luật, cử ra các chức danh cao nhất của Nhà nước, giám đốc thẩm các vụ án tử hình, có Viện nguyên lão đại diện cho 300 thị tộc với quyền quản lí trực tiếp, xây dựng các dự án Luật, kí kết các điều ước hòa bình.

Ra đời và thích ứng với lộ trình phát triển của xã hội La Mã cổ đại, luật La Mã không dừng lại ở nguồn đầu tiên - Luật XII bảng mà qua các giai đoạn phát triển đã có thêm những nguồn mới từ các lần pháp điển hóa về sau. Trong lịch sử luật La Mã, ngoài lần pháp điển hóa đầu tiên mà sản phẩm là Luật XII bảng, ở các giai đoạn phát triển khác nhau, các lần pháp điển hóa tiếp theo đã được tiến hành, có lúc là do các cá nhân tiến hành, như ở cuối thế kỉ III - đầu thế kỉ IV có Codex Gregorianus (Bộ luật Gregorianus), Codex Hermogenianus (Bộ luật Hermogenianus). Dưới triều Hoàng đế Thêôđôxiut II (Theodosius II), ở nửa đầu thế kỉ V lần thể chế hóa chính thức đã được thực hiện. Tiếp đó, một số lần pháp điển hóa nữa cũng đã được thực hiện và lần pháp điển hóa, xét theo quy mô cũng như ý nghĩa rộng lớn hơn cả, được thực hiện dưới triều Hoàng đế Juxtinianut I (Justinianus I) ở đầu thế kỉ VI, khi nhu cầu thống nhất đế chế La Mã bị phân chia thành miền Đông, miền Tây do bị quân đội “man tộc" chiếm đóng. Đồng thời, nhu cầu bức xúc của giai cấp thống trị chủ nô phải thống nhất pháp luật trên phạm vi toàn đế chế và loại bỏ tất cả những quy định pháp luật lỗi thời để thay vào đó những quy định pháp luật mới có khả năng đáp ứng các quan hệ xã hội đã thay đổi đã được đặt ra. Các tiểu ban đặc biệt đã được thành lập, các luật gia lỗi lạc đã được thu hút vào công cuộc pháp điển hóa. Năm 528, một tiểu ban được giao tập hợp, rà soát các luật do các Hoàng đế ban hành và kết quả là năm 529, cái gọi là bộ luật đầu tiên đã được hoàn thành. Rất tiếc là bộ luật này không còn lưu lại được đến ngày nay. Năm 530, một tiểu ban pháp điển hóa luật - trước tác của các luật gia kinh điển đã được tiến hành và kết quả là năm 533 một tuyển tập gồm 50 tập, gồm các trích dẫn từ tác phẩm của các luật gia nổi tiếng có tính kinh điển đã được kết thúc với tên gọi Digesfa (tuyển tập) có hiệu lực bắt buộc như luật. Cũng trong năm 533 cuốn sách giáo khoa cơ bản Luật La Mã - “Các chế định" được xuất bản và có hiệu lực như Luật. Song song với các công trình pháp điển hóa đó, Hoàng đế Juxtinianut I theo trình tự lập pháp đã giải quyết một loạt vấn đề còn nhiều tranh chấp của pháp luật dân sự. Những văn bản thế đó được ban hành với tên gọi: “50 quyết định”, kết quả là năm 534 một bộ luật mới được ban hành với 12 tập, phân chia theo hàm cấp...

Luật La Mã mà ngày nay vẫn đang thu hút sự quan tâm của nhiều người như một giá trị pháp lí đáng trân trọng hình thành trong cả một quá trình kéo dài trên dưới một ngàn năm, trong đó, phần pháp luật dân sự là bộ phận nổi bật nhất mà các chế định của nó, từ quyền sở hữu, vật quyền, hợp đồng, trái vụ, hôn nhân và gia đình, thừa kế vẫn còn giữ nguyên giá trị, ví như lời nhận xét của Ăngghen: “Đó là hình thức pháp luật hoàn chỉnh nhất có cơ sỏ là chế độ sở hữu tư nhân mà chúng ta biết được với độ chính xác không thể vượt qua trong việc thể hiện tất cä các quan hệ pháp luật cơ bản của những người chiếm hữu hàng hóa đơn giản (người mua - người bán, chủ nợ - con nợ, hợp đồng, trái vụ...”. Không phải ngẫu nhiên, Ăngghen đã đánh giá: “luật La Mã là sự thể hiện có tính kinh điển về mặt pháp lí điều kiện sống cũng như các mâu thuẫn của một xã hội, nơi sở hữu tư nhân thuần túy thống trị mà tất cả những hệ thống pháp luật về sau không thể đưa được gì có tính cơ bản vào đó".