1. Luật nghĩa vụ quân sự năm 1960 theo sắc lệnh số 11/SL

Luật này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ nhất, kỳ họp thứ 12, thông qua trong phiên họp ngày 15 tháng 4 năm 1960.

SẮC LỆNH

SỐ 11/SL NGÀY 28-4-1960 CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ CÔNG BỐ LUẬTNGHĨA VỤ QUÂN SỰ

CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

CÔNGBỐ LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ ĐÃ ĐƯỢC QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ KHOÁTHỨ NHẤT, KỲ HỌP THỨ 12, THÔNG QUA NGÀY 15 THÁNG 4 NĂM 1960. LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

Căn cứ vào Điều 42 của Hiếnpháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà quy định bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêngliêng và cao quý nhất của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, và công dâncó bổn phận làm nghĩa vụ quân sự để bảo vệ Tổ quốc;
Để củng cố quốc phòng, giữ gìn hoà bình, bảo vệ thành quả của cách mạng và sựnghiệp lao động hoà bình xây dựng chủ nghĩa xã hội;
Để phát huy truyền thống yêu nước của nhân dân, phát huy thắng lợi của chế độtình nguyện tòng quân trước đây, nâng cao ý thức quốc phòng, phổ cập trí thứcquân sự trong nhân dân;
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang của nhân dân;
Nay quy định chế độ nghĩa vụ quân sự như sau:

Chương 1:

NGUYÊN TẮC CHUNG

Điều1

Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻvang của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đối với Tổ quốc.

Những công dân nam giới từ mướitám đến bốn mươi lăm tuổi, không phân biệt dân tộc, nghề nghiệp, tôn giáo, tínngưỡng, thành phần xã hội và trình độ văn hoá, đều có nghĩa vụ quân sự.

Điều2

Không được làm nghĩa vụ quân sự:

- Những người bị Toà án hoặcpháp luật tước quyền công dân;

- Những người đang ở trong thờigian bị giam giữ hoặc bị quản chế.

Điều3

Nghĩa vụ quân sự chia làm haingạch: tại ngũ và dự bị. Làm nghĩa vụ quân sự là tham gia quân đội thường trựchoặc tham gia quân dự bị.

Điều4

Quân nhân tại ngũ và quân nhândự bị gồm có sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ.

Hạ sĩ quan và binh sĩ gồm cáccấp bậc sau đây:

- Hạ sĩ quan: thượng sĩ, trungsĩ, hạ sĩ.

- Binh sĩ: binh nhất, binh nhì.

Điều5

Hạ sĩ quan và binh sĩ chuyểnsang ngạch dự bị vẫn được giữ cấp bậc cũ.

Điều6

Hạ sĩ quan và binh sĩ phục vụtrong ngạch dự bị đến hết bốn mươi lăm tuổi thì hết hạn làm nghĩa vụ quân sự.

Thời hạn phục vụ của sĩ quantheo như quy định trong luật về chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội nhân dânViệt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 4 năm 1958.

Điều7

Lứa tuổi tuyển vào quân đội thườngtrực trong thời bình ấn định từ mười tám đến hai mươi lăm tuổi. Lứa tuổi tuyểnvào quân đội thường trực trong thời chiến do Hội đồng quốc phòng ấn định.

Những người trong những lứa tuổiđó có thể lần lượt được gọi ra phục vụ tại ngũ.

Điều8

Những quân nhân đang phục vụtheo chế độ tình nguyện sẽ dần dần được phục viên và chuyển sang dự bị hoặcgiải ngạch nghĩa vụ quân sự.

Chương2:

CHẾ ĐỘ PHỤC VỤ CỦA QUÂNNHÂN TẠI NGŨ VÀ QUÂN NHÂN DỰ BỊ

Điều9

Sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bịphục vụ theo chế độ quy định trong luật về chế độ phục vụ của sĩ quan quân độinhân dân Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 4 năm 1958, và nhữngđiều khoản có liên quan đến sĩ quan trong Luật này.

Điều10

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạsĩ quan và binh sĩ trong bộ đội lục quân là hai năm.

Đối với hạ sĩ quan và binh sĩtrong bộ đội không quân, hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ độilục quân, hạ sĩ quan và binh sĩ công an nhân dân vũ trang, thì thời hạn phục vụtại ngũ là ba năm.

Đối với hạ sĩ quan và binh sĩtrong bộ đội hải quân thì thời hạn phục vụ tại ngũ là bốn năm.

Điều11

Hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ cóthể được điều động từ quân chủng, binh chủng này sang quân chủng, binh chủngkhác; sang quân chủng, binh chủng nào thì theo thời hạn phục vụ ở quân chủng,binh chủng ấy. Thời gian đã phục vụ ở quân chủng, binh chủng, trước được tínhvào thời hạn phục vụ ở quân chủng, binh chủng sau.

Điều12

Hạ sĩ quan và binh sĩ đã hết hạntại ngũ có thể tình nguyện đăng lại một thời hạn ít nhất là một năm.

Điều13

Ngạch dự bị của hạ sĩ quan vàbinh sĩ chia làm hai hạng: dự bị hạng một và dự bị hạng hai.

Hạ sĩ quan và binh sĩ hết hạnphục vụ tại ngũ được xếp vào dự bị hạng một. Những công dân khác trong lứa tuổilàm nghĩa vụ quân sự được xếp vào dự bị hạng hai.

Điều14

Hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ bịbệnh, bị thương, bị tàn phế phế, không còn đủ sức khoẻ để tiếp tục phục vụtrong quân đội, sau khi được thủ trưởng đơn vị bộ đội có thẩm quyền chuẩn y,thì được thoái ngũ.

Điều15

Những quân nhân dự bị hết hạn tuổilàm nghĩa vụ quân sự, hoặc bị bệnh, bị thương, bị tàn phế, không còn đủ sứckhoẻ để làm nghĩa vụ quân sự, sau khi được cơ quan quân sự có thẩm quyền chuẩny, thì được giải ngạch nghĩa vụ quân sự.

Chương3:

ĐĂNG KÝ NGHĨA VỤ QUÂNSỰ, THỐNG KÊ VÀ QUẢN LÝ QUÂN NHÂN DỰ BỊ

Điều16

Hàng năm vào khoảng năm ngày đầutháng giêng dương lịch, những công dân nam giới đủ mười tám tuổi tính đến ngàymồng 1 tháng giêng dương lịch, phải đến Uỷ ban hành chính xã, thị xã, thị trấn,khu phố nơi mình ở để được kiểm tra sơ bộ thân thể và đăng ký nghĩa vụ quân sự.

Điều17

Phụ nữ từ mười tám đến bốn mươilăm tuổi có kỹ thuật chuyên môn cần cho quân đội cũng đăng ký nghĩa vụ quân sự.

Điều18

Quân nhân phục viên khi về đếnnơi ở hoặc nơi công tác phải đến cơ quan quân sự địa phương để đăng ký vàongạch dự bị.

Điều19

Quân nhân dự bị là công nhân,viên chức trong thời gian đi đăng ký nghĩa vụ quân sự vẫn được hưởng lương.

Điều20

Những quân nhân dự bị khi hếthạn tuổi làm nghĩa vụ quân sự, khi không còn đủ sức khoẻ để tiếp tục làm nghĩavụ quân sự, khi thay đổi trình độ văn hoá, nghề nghiệp, đơn vị công tác, chỗ ở,phải đến báo cáo với Uỷ ban hành chính xã, thị xã, thị trấn, khu phố nơi mình ởxin giải ngạch nghĩa vụ quân sự hoặc thay đổi đăng ký.

Điều21

Bộ Quốc phòng lãnh đạo việc đăngký, thống kê và quản lý quân nhân dự bị trong toàn quốc.

Dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban hànhchính, cơ quan quân sự địa phương có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc đăng ký,thống kê và quản lý quân nhân dự bị trong địa phương mình.

Thủ trưởng các cơ quan, trườnghọc, xí nghiệp, nông trường, công trường có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việcđăng ký, thống kê quân nhân dự bị thuộc đơn vị mình theo sự hướng dẫn của cáccơ quan quân sự địa phương.

Chương4:

TUYỂN BINH

Điều22

Hàng năm, căn cứ vào nhu cầu xâydựng lực lượng vũ trang nhân dân và tình hình của các địa phương, Chính phủ ấnđịnh tổng số người cần tuyển vào quân đội thường trực và quyết định những biệnpháp cần thiết để tiến hành việc tuyển binh.

Điều23

Hàng năm tiến hành tuyển binhmột lần vào khoảng thời gian từ mồng 1 tháng 12 năm trước đến ngày 28 tháng 2năm sau. Trong trường hợp cần thiết Chính phủ có thể quyết định thay đổi thờigian tuyển binh.

Điều24

Kể từ ngày công bố lệnh tuyểnbinh, những người trong lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực muốn thay đổichỗ ở sang địa phương khác phải được Uỷ ban hành chính xã, thị xã, thị trấn,khu phố mình đang ở đồng ý.

Điều25

Việc kiểm tra thân thể để tuyểnbinh do Bộ Y tế phụ trách theo tiêu chuẩn do Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế quy định.

Điều26

Những người trong lứa tuổi tuyểnbinh đã đăng ký nghĩa vụ quân sự, nếu bị đau yếu không thể đến trạm tuyển binhđược và được Uỷ ban hành chính xã, thị xã, thị trấn, khu phố chứng nhận, thì cóthể được hoãn đến kỳ tuyển binh năm sau.

Điều27

Những người trong lứa tuổi tuyểnbinh đã đăng ký nghĩa vụ quân sự, nếu là người lao động duy nhất của gia đình,hoặc là con một, thì có thể được Uỷ ban hành chính huyện, thị xã, châu thuộckhu tự trị, quận và khu phố ở các thành phố trực thuộc Trung ương xét và chomiễn phục vụ tại ngũ.

Những trường hợp khác cần miễnhoặc hoãn gọi ra phục vụ tại ngũ sẽ do Chính phủ quy định.

Chương5:

HUẤN LUYỆN QUÂN SỰ CHOQUÂN NHÂN DỰ BỊ

Điều28

Sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩdự bị, hàng năm phải theo mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng mà tham gia huấn luyệnquân sự.

Sĩ quan dự bị mỗi năm phải thamgia huấn luyện quân sự hai mươi lăm ngày.

Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị mỗinăm phải tham gia huấn luyện quân sự mười lăm ngày.

Điều29

Đối với quân nhân dự bị là côngnhân, viên chức, Chính phủ sẽ quy định việc trả lương trong thời gian tham giahuấn luyện quân sự.

Đối với quân nhân dự bị không ởtrong trường hợp nói trên, khi cần thoát ly sản xuất để tham gia huấn luyệnquân sự tập trung, Chính phủ sẽ quy định việc giúp đỡ.

Điều30

Đối với sinh viên, học sinh cáctrường đại học, các trường chuyên nghiệp trung cấp thì việc huấn luyện quân sựthuộc chương trình giáo dục do Chính phủ quy định.

Điều31

Bộ Quốc phòng lãnh đạo việc huấnluyện quân sự cho quân nhân dự bị trong toàn quốc.

Dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban hànhchính, cơ quan quân sự địa phương có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc huấn luyệnquân sự cho quân nhân dự bị trong địa phương mình.

Thủ trưởng các cơ quan, trườnghọc, xí nghiệp, nông trường, công trường có nhiệm vụ tổ chức việc huấn luyệnquân sự cho quân nhân dự bị thuộc đơn vị mình theo sự hướng dẫn của các cơ quanquân sự địa phương.

Chương6:

ĐỘNG VIÊN THỜI CHIẾN

Điều32

Sau khi Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, Bộ trưởng Bộ Quốcphòng ra các mệnh lệnh cần thiết để thực hiện.

Điều33

Sau khi lệnh tổng động viên hoặcđộng viên cục bộ được công bố:

- Tất cả những quân nhân dù sắphết hạn tại ngũ đều phải ở lại quân đội cho đến khi có mệnh lệnh của Bộ Quốcphòng cho thoái ngũ.

- Tất cả quân nhân dự bị khinhận được mệnh lệnh gọi ra phục vụ tại ngũ phải có mặt đúng ngày, đúng giờ, ởđịa điểm đã định.

Điều34

Việc hoãn gọi ra phục vụ tại ngũtrong thời chiến do Hội đồng quốc phòng quyết định.

Chương7:

QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤCỦA QUÂN NHÂN TẠI NGŨ VÀ QUÂN DÂN DỰ BỊ

Điều35

Quân nhân tại ngũ và quân nhândự bị có tất cả mọi quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân quy định trongHiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Quân nhân còn có những quyền lợivà nghĩa vụ khác quy định trong luật này và trong các điều lệnh và chế độ củaquân đội.

Điều36

Quân nhân tại ngũ, quân nhân dựbị và dân quân, tự vệ lập được công trạng sẽ được tặng thưởng huân chương, danhhiệu vinh dự, huy chương, bằng khen.

Điều37

Những sĩ quan, hạ sĩ quan, binhsĩ dự bị có nhiều thành tích trong huấn luyện quân sự, hoặc trong công tác bảovệ an ninh, củng cố quốc phòng, có thể được thăng, thưởng.

Điều38

Quân nhân tại ngũ bị tàn phế, bịbệnh chết, hoặc hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, thì bản thân hoặc gia đình đượchưởng chế độ ưu đãi do Chính phủ định.

Điều39

Quân nhân dự bị, dân quân, tự vệbị thương hoặc hy sinh trong khi làm nhiệm vụ quân sự thì bản thân hoặc giađình được hưởng một khoản trợ cấp do Chính phủ định.

Chương8:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều40

Những hành vi vi phạm các điềukhoản trong luật này và những hành vi làm cản trở hoặc phá hoại việc thi hànhchế độ nghĩa vụ quân sự sẽ tuỳ từng trường hợp mà bị trừng trị theo pháp luật.

Điều41

Những điều khoản trong các luậtlệ ban hành trước đây trái với luật này đều bãi bỏ.

Điều 42

Chính phủ quy định chi tiết th ihành luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ nhất, kỳ họp thứ 12, thông qua trong phiên họp ngày 15 tháng 4 năm 1960.

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

2. Luật Nghĩa vụ quân sự 1962 sửa đổi 50/LCT

 

LUẬT

SỬA ĐỔI VÀ BỔ SUNG LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, luật này quy định những điều sửa đổi và bổ sung sau đây về luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960:

Điều 1

Nay sửa đổi những điều 7, 10, 28, 32 của luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 và thay bằng những điều (mới) sau đây:

1. Điều 7 (mới): Lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực trong thời bình là từ mười tám đến hai mươi nhăm tuổi, trong thời chiến là từ mười tám đến bốn nhăm tuổi.

Việc lần lượt gọi các lứa tuổi ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến do Hội đồng quốc phòng định.

2. Điều 10 (mới): Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội lục quân là ba năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội không quân là bốn năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân là bốn năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội hải quân là năm năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật trong Công an nhân dân vũ trang theo như thời hạn phục vụ tại ngũ của các binh chủng, quân chủng trong Quân đội nhân dân.

Trong trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ trưởng Bộ công an có thể kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân thuộc quyền mình nhưng không được quá bốn tháng.

3. Điều 28 (mới): Sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị hàng năm phải tham gia huấn luyện quân sự theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.

Sĩ quan dự bị, hạ sĩ quan kỹ thuật dự bị, binh sĩ kỹ thuật dự bị và những người được chọn để đào tạo thành sĩ quan dự bị mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự hai mươi nhăm ngày.

Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị bộ binh mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự mười lăm ngày.

Trong trường hợp thật cần thiết, Hội đồng Chính phủ quyết định việc tổ chức huấn luyện quân sự tập trung cho quân nhân dự bị trong một thời gian không quá tám tháng.

4. Điều 32 (mới): Sau khi Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra các mệnh lệnh cần thiết để thực hiện.

Uỷ ban hành chính các cấp có nhiệm vụ thi hành mệnh lệnh động viên của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.

Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và các tổ chức khác có nhiệm vụ bảo đảm cho quân nhân dự bị thuộc tổ chức của mình chấp hành lệnh động viên được nhanh chóng.

Điều 2

Nay bổ sung tiếp theo những điều 27, 32, 34 của luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 những điều 27b, 32b, 34b sau đây:

1. Điều 27b: Bộ trưởng Bộ quốc phòng lãnh đạo công tác tuyển binh trong toàn quốc.

Uỷ ban hành chính các cấp lãnh đạo cơ quan quân sự địa phương và các ngành có liên quan ở địa phương tổ chức thực hiện việc tuyển binh trong địa phương mình.

Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và các tổ chức khác có nhiệm vụ bảo đảm cho công tác tuyển binh trong tổ chức của mình tiến hành được tốt.

2. Điều 32b: Việc gọi quân nhân dự bị ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến quy định như sau:

Thủ tướng Chính phủ ra lệnh gọi sĩ quan dự bị cấp tướng;

Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra lệnh gọi quân nhân dự bị từ cấp tá trở xuống;

Theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính khu tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra lệnh gọi quân nhân dự bị từ cấp uý trở xuống;

Theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, khu phố ra lệnh gọi hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị.

3. Điều 34b: Trong thời bình, theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng tổ chức động viên thực tập cho các địa phương, cơ quan, đơn vị sản xuất và các tổ chức khác. Những người có nghĩa vụ quân sự có nhiệm vụ chấp hành nghiêm chỉnh các mệnh lệnh về động viên thực tập của Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Chủ tịch Uỷ ban hành chính địa phương.

Luật này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ II, kỳ họp thứ 5, thông qua ngày 26 tháng 10 năm 1962.

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

3. Luật Nghĩa vụ quân sự 1965 sửa đổi 45/LCT

 

LUẬT

SỬA ĐỔI VÀ BỔ SUNG LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, nay quy định những điều sửa đổi và bổ sung sau đây về Luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 đã được sửa đổi và bổ sung lần thứ nhất bằng Luật ngày 26 tháng 10 năm 1962.

Điều 1: Nay sửa đổi những điều 8 và 10 của Luật nghĩa vụ quân sự và thay bằng những điều (mới) sau đây:

1. Điều 8 (mới) - Những quân nhân đang phục vụ theo chế độ tình nguyện sẽ dần dần được phục viên và chuyển sang dự bị, hoặc giải ngạch nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, để đáp ứng những yêu cầu đặc biệt về xây dựng quân đội và tác chiến, Bộ quốc phòng được phép thực hiện chế độ tình nguyện đối với một số hạ sĩ quan và binh sĩ.

2. Điều 10 (mới) - Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội lục quân là 4 năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội phòng không - không quân, của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội hải quân, của hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân là 5 năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật trong Công an nhân dân vũ trang theo như thời hạn phục vụ tại ngũ của các binh chủng, quân chủng trong Quân đội nhân dân.

Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ trưởng Bộ công an có thể kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân thuộc quyền mình; mỗi lần kéo dài thời hạn phục vụ không được quá 1 năm.

Điều 2: Nay bổ sung tiếp theo điều 34b của Luật nghĩa vụ quân sự, điều 34c như sau:

Điều 34c - Trong thời bình, khi có tình hình khẩn trương nhưng chưa cần ra lệnh động viên, để kịp thời tăng cường các lực lượng vũ trang và bảo đảm cho các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu, theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng được quyền gọi một số quân nhân đã xuất ngũ, một số cán bộ và nam nữ công nhân, nhân viên kỹ thuật ra phục vụ tại ngũ.

Luật này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá III, kỳ họp thứ 2, thông qua ngày 10 tháng 4 năm 1965.

Hoàng Văn Hoan

(Đã ký)