Luật phòng, chống ma túy là đạo luật quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma túy; kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống ma túy.

Với nhận thức tệ nạn ma túy là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, ngày 09.12.2000, Quốc hội Khoá X đã thông qua Luật phòng, chống ma túy (Luật số 23/2000/QH10) và có hiệu lực kể từ ngày 01.6.2001. Đây là văn bản luật về phòng chống ma túy đầu tiên trong lịch sử lập pháp nước ta. Luật phòng chống ma tuý gồm 56 điều được chia làm 8 chương: Chương I - Những quy định chung (Điều 1 đến Điều 5); Chương II - Trách nhiệm phòng, chống ma túy (Điều 6 đến Điều 14); Chương III - Kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy (Điều 15 đến Điều 24); Chương IV - Cai nghiện ma túy (Điều 25 đến Điều 35); Chương V - Quản lí nhà nước về phòng, chống ma túy (Điều 36 đến Điều 45); Chương VI - Hợp tác quốc tế về phòng, chống ma túy (Điều 46 đến Điều 51); Chương VII - Khen thưởng và xử lí vi phạm (Điều 52 đến Điều 54); Chương VIII - Điều khoản thi hành (Điều 55 đến Điều 56).

Chất ma túy trong Luật này được hiểu là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng. Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.

Luật phòng, chống ma túy quy định rõ phòng, chống ma túy là trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và của toàn xã hội chứ không phải chỉ là trách nhiệm của ngành công an, y tế hoặc các cơ quan bảo vệ pháp luật. Nhà nước có chính sách khuyến khích, bảo vệ cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia phòng, chống tệ nạn ma túy; tổ chức đấu tranh chống các tội phạm về ma túy và sử dụng đồng bộ các biện pháp kinh tế, pháp luật, văn hóa, xã hội, nghiệp vụ để tuyên truyền, vận động nhân dân, cán bộ, công chức và cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia phòng, chống tệ nạn ma túy; kết hợp phòng, chống tệ nạn ma túy với phòng, chống các loại tội phạm, HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội khác. Luật cũng quy định rõ Nhà nước Việt Nam thực hiện các điều ước quốc tế về phòng, chống ma túy và các điều ước quốc tế khác có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các bên cùng có lợi; hợp tác với các nước, các tố chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong hoạt động phòng, chống ma túy. Cá nhân, tổ chức nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú, đi lại trên lãnh thổ Việt Nam có trách nhiệm tuân thủ các quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam về phòng, chống ma túy.

Theo quy định của Luật, các hành vi sau bị nghiêm cấm: trồng cây có chứa chất ma túy; sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, bảo quản, mua bán, phân phối, giám định, xử lí, trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, nghiên cứu trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng š thần; sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; xúi giục, cưỡng bức, lôi kéo, chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma túy; sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất, sử dụng trái phép chất ma túy; hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội về ma túy mà có; chống lại hoặc cản trở việc cai nghiện ma túy; trả thù hoặc cản trở người có trách nhiệm hoặc người tham gia phòng, chống ma túy; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp để vi phạm pháp luật về phòng, chống ma túy.