Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam là đạo luật quy định tổ chức và hoạt động, quyền và nghĩa vụ cũng như công tác quản lí sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được Quốc hội Khoá X, kì họp thứ 6 thông qua ngày 21.12.1999, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01.04.2000.

Văn bản luật đầu tiên quy định về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam là Luật quy định chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ngày 29.4.1958. Qua hơn 20 năm thực hiện, Luật năm 1958 được thay thế bởi Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1981 và được sửa đổi, bổ sung năm 1990. Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999 là đạo luật thứ ba về sĩ quan quân đội của Nhà nước ta ban hành, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

Mục tiêu của việc ban hành Luật năm 1999 là nhằm quy định rõ trách nhiệm, nghĩa Vụ và quyền của các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đang tại ngũ cũng như nguồn đào tạo và sử dụng sĩ quan dự bị phù hợp với Hiến pháp năm 1992 cũng như phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong thời kì phát triển của đất nước.

Tương ứng với các mục tiêu đó, đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật là những quan hệ về tổ chức, hoạt động của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh và khẳng định trước hết là vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn, các quyền và nghĩa vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trong quân đội cũng như trong bộ máy nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Về cơ cấu, Luật có 7 chương, 51 điều với những nội dung cơ bản như sau: những quy định chung, quy định về vị trí, chức năng, nguồn tuyển chọn, bổ sung, quyền, nghĩa vụ và các trách nhiệm của sĩ quan, tiêu chuẩn, hệ thống cấp bậc, ngạch sĩ quan; quy định về quân hàm, chức vụ Sĩ quan, việc thăng cấp, giáng cấp; quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của sĩ quan; quy định về sĩ quan dự bị; quy định về quản lí nhà nước về sĩ quan; quy định về khen thưởng và xử lí vị phạm.

Nội dung của Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999 có nhiều điểm mới cơ bản so với Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1981 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1990 như bổ sung thêm điều kiện để trở thành sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; quy định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và chịu sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lí thống nhất của Chính phủ và sự chỉ huy, quản lí trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; ngoài ra còn bổ sung các quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là các quy định về các quyền và quyền lợi của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam cùng các quy định đảm bảo các quyền lợi đó. Luật cũng quy định cụ thể về các chức vụ do sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đảm nhiệm, việc bổ nhiệm các chức vụ đó và các điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể cho các chức vụ, hạn tuổi cao nhất mà các sĩ quan được phục vụ trong các chức vụ và cấp bậc trong quân đội, các chế độ đối với các sĩ quan như chế độ đào tạo và bồi dưỡng, chế độ khám chữa bệnh và điều trị đối với sĩ quan và người thân; các quy định cụ thể về sĩ quan biệt phái, sĩ quan dự bị, quản lí nhà nước đối với sĩ quan, trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành khác, các chế độ khen thưởng, xử lí vi phạm đối với các sĩ quan Quấn đội nhân dân Việt Nam. ` Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999 cũng là cơ sở pháp lí quan trọng trong việc tăng cường quản lí và sử dụng các sĩ quan cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của họ.