Hồ sơ mời thầu (HSMT) yêu cầu, thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu (HSDT) tối thiểu là 90 ngày kể từ ngày có thời điểm đóng thầu; nhà thầu tham dự thầu phải nộp kèm theo bảo lãnh dự thầu (BLDT) có hiệu lực tối thiểu là 120 ngày kể từ ngày có thời điểm đóng thầu.

Có 3 nhà thầu tham dự thầu; nội dung về thời gian có hiệu lực của BLDT lần lượt như sau:

- Nhà thầu thứ nhất: BLDT có hiệu lực từ 9h30 ngày 1/9/2015 đến hết 24h00 ngày 29/12/2015;

- Nhà thầu thứ hai: BLDT có hiệu lực từ 8h00 ngày 1/9/2015 đến 10h00 ngày 29/12/2015;

- Nhà thầu thứ ba: BLDT có hiệu lực trong vòng 120 ngày, kể từ ngày 1/9/2015.

Trong quá trình đánh giá về thời gian có hiệu lực của BLDT, Tổ chuyên gia có hai nhóm ý kiến đánh giá khác nhau. Cụ thể như sau:

Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng:

- BLDT của nhà thầu thứ nhất được đánh giá là đáp ứng yêu cầu về thời gian có hiệu lực theo yêu cầu của HSMT;

- BLDT của nhà thầu thứ hai có thời điểm kết thúc hiệu lực lúc 10h00 ngày 29/12/2015 là chưa đủ 120 ngày theo yêu cầu của HSMT. Theo chuyên gia thì thời điểm kết thúc trong trường hợp này phải là 24h00 ngày 29/12/2015 mới được coi là đáp ứng yêu cầu của HSMT;

- BLDT của nhà thầu thứ ba ghi thời gian bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/9/2015 nên không rõ là bắt đầu từ khi nào (0h, 9h30, 10h00, 14h00…), do đó không thể xác định được chính xác thời gian có hiệu lực của BLDT nên BLDT của nhà thầu được coi là không đáp ứng yêu cầu.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật đấu thầu trực tuyến qua tổng đài điện thoại

Nhóm ý kiến thứ hai cho rằng: BLDT của cả 3 nhà thầu đều đáp ứng yêu cầu của HSMT về thời gian có hiệu lực. 

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

- Luật đấu thầu năm 2013

2. Luật sư tư vấn:

Để việc đánh giá HSDT bảo đảm mục tiêu của công tác đấu thầu là cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế, chúng ta hãy cùng phân tích ý kiến đánh giá nêu trên của Tổ chuyên gia trên cơ sở phù hợp với thực tế và tuân thủ quy định của pháp luật về đấu thầu.

Như chúng ta đã biết, khi tham dự một cuộc đấu thầu rộng rãi, nhà thầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu để bảo đảm trách nhiệm dự thầu của mình trong thời gian xác định theo yêu cầu của HSMT. 

Trường hợp nhà thầu thực hiện bảo đảm dự thầu theo hình thức nộp Thư bảo lãnh của ngân hàng (Bên bảo lãnh) thì thư bảo lãnh này là một loại “Giấy tờ có giá”. Theo đó, trong thời gian có hiệu lực của BLDT, nếu nhà thầu vi phạm quy định của pháp luật về đấu thầu dẫn đến không được hoàn trả BLDT thì Bên bảo lãnh phải có trách nhiệm chuyển ngay cho Bên mời thầu (Bên thụ hưởng) một khoản tiền hay các khoản tiền không vượt quá tổng số tiền ghi trong Thư BLDT với điều kiện Bên bảo lãnh nhận được thông báo của Bên thụ hưởng trước thời điểm hết hạn hiệu lực của BLDT.

>> Xem thêm:  Chào hàng cạnh tranh rút gọn có cần phải đăng tải kế hoạch lựa chọn nhà thầu lên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia

Theo quy định tại Điều 64 của Luật Đấu thầu thì một trong các điều kiện để ký kết hợp đồng là HSDT của nhà thầu được lựa chọn còn hiệu lực. Thực tế, hành vi vi phạm quy định của pháp luật về đấu thầu của nhà thầu dẫn đến không được hoàn trả BLDT thường diễn ra trước thời điểm ký kết hợp đồng. Do đó, việc Bên thụ hưởng yêu cầu Bên bảo lãnh chuyển cho Bên thụ hưởng số tiền ghi trong Thư BLDT thông thường sẽ diễn ra trước thời điểm ký kết hợp đồng, tức là trước thời điểm HSDT hết hiệu lực. 

Bên cạnh đó, đối với ý kiến của chuyên gia cho rằng BLDT của nhà thầu thứ hai ở tình huống nêu trên phải ghi thời điểm kết thúc hiệu lực là 24h00 ngày 29/12/2015 mới được coi là đáp ứng yêu cầu của HSMT cũng chưa phù hợp với thực tế. Bởi xét về mặt lý thuyết thì đối với trường hợp BLDT ghi thời điểm kết thúc hiệu lực là 24h00 ngày 29/12/2015 có nghĩa là tại thời điểm 20h00 ngày 29/12/2015, BLDT n ày vẫn còn hiệu lực. Tuy nhiên, nếu tại thời điểm 20h00 ngày 29/12/2015, nếu Bên thụ hưởng có thông báo gửi đến Bên bảo lãnh để yêu cầu chuyển tiền thì cũng không được vì lúc này ngân hàng đã hết giờ làm việc. Xét cho cùng, BLDT được coi là hợp lệ khi trong thời gian có hiệu lực của bảo lãnh, Bên mời thầu phải thu được số tiền ghi trong BLDT nếu nhà thầu vi phạm.

Đối chiếu với BLDT của nhà thầu thứ nhất, tại thời điểm 20h00 ngày 29/12/2015 thì BLDT mà ngân hàng cấp cho nhà thầu này vẫn còn hiệu lực nhưng Bên mời thầu lại không thể thu được số tiền ghi trong thư bảo lãnh nếu phát hiện nhà thầu vi phạm. 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ  Luật sư tư vấn pháp luật Đấu thầu trực tuyến qua tổng đài , gọi:  1900.6162  để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đấu thầu - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quy định mới năm 2020 về thời gian lựa chọn nhà thầu trong đấu thầu