Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật dân sự 2015

Bộ luật dân sự 2005

2. Trả lời câu hỏi

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi và chồng cũ ly hôn năm 2012 và toà quyết định để tôi nuôi 2 cháu. Chồng tôi ngoại tình nên trong cuộc sống anh ta cảm thấy day dứt và tự nguyện chuyển 700 triệu cho tôi qua tài khoản (anh ta có giấy chuyển tiền) để tôi mua ô tô đi lại (ô tô mang tên tôi). Nay nhu cầu sử dụng không mang lại hiệu quả nên tôi bán và không hỏi ý kiến anh ta. Nay anh ta làm đơn kiện tôi, tôi có tham khảo luật hình sự thì thấy việc anh ta tự nguyện như món quà cho tặng và tài sản mang tên tôi thì tôi có quyền định đoạt và sở hữu. Vậy nếu anh ta kiện tôi theo Dân sự tôi có bị vướng mắc gì không ?

Điều 462. Tặng cho tài sản có điều kiện

1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.

3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

>> Xem thêm:  Phần di sản không đề cập trong di chúc chia như thế nào ? Ai được hưởng di sản thừa kế ?

Trong trường hợp của bạn thì bạn đã mua ô tô theo đúng nghĩa vụ trong hợp đồng, trong hợp đồng cũng không có điều khoản sàu này bạn không được bán ô tô đó và ô tô đó đã được đăng ký quyền sở hữu mang tên của bạn thì bạn có quyền định đoạt tài sản của mình mà không vi phạm luật dân sự.

Xin chào công ty luật Minh Khuê. Em có cho bạn (16 tuổi) mượn 1 triệu 500 nghìn đồng, tiền lời là gấp đôi nhưng chỉ nói miệng, còn ghi trong giấy nợ (có ghi CMND và địa chỉ) là 3 triệu đồng (không có ghi lãi suất) và anh em đứng tên cho mượn, có chữ kí của bạn em. Bạn em nói là mượn giùm cho bạn và hứa trả vào ngày 1/8/2015. Cho tới bây giờ mặc dù em đã đòi nhiều lần nhưng cô ấy vẫn chưa trả mà cứ hẹn khi khác, và lấy lí do là chưa đòi được từ bạn. Cô ấy nói là nếu không trả thì cũng không làm gì được vì lãi quá cao, vậy em có thể nhờ pháp luật không vì lãi em không ghi trong giấy nợ? Em xin chân thành cảm ơn.

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Điều 468. Lãi suất

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Điều 124. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

2. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.

Giao dịch cho vay mà phía bạn và bên vay đã xác lập với nhau là vay số tiền là 3 triệu đồng, không có lãi, tuy nhiên chúng tôi xác định đây là một giao dịch giả tạo để che giấu giao dịch cho vay 1,5 triệu đồng với lãi lên tới 100%. Theo quy định của pháp luật dân sự thì giao dịch cho vay 3 triệu đồng đương nhiên vô hiệu. Giao dịch cho vay 1,5 triệu đồng của bạn có hiệu lực một phần, lãi suất thỏa thuận trong giao dịch đó là trái với pháp luật nền phần đó của hợp đồng bị vô hiệu.

Như vậy, bạn có thể khởi kiện ra Tòa án dân sự để đòi lại 1,5 triệu đồng đã cho vay. 

Gia đình chúng tôi có một tài sản chung là 01 thửa đất có Giấy đăng ký QSD mang tên bố tôi, và tài sản gắn liền trên đất là ngôi nhà hai tầng diện tích 200m2 do chúng tôi (con đẻ) góp tiền xây dựng. (Trong sổ đỏ không ghi chứng nhận quyền sở hữu đối với tài sản trên đất là ngôi nhà mà chỉ chứng nhận QSD mang tên bố tôi). Do tuổi già và nhận thức về pháp luật còn hạn chế, bố mẹ tôi năm 2016 đã dùng thửa đất nói trên để bảo đảm khoản vay cho Công ty A với số tiền là 1.000.000.000 đồng tại Ngân hàng theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thứ 3. Tuy nhiên sau khi xem xét lại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thứ 3 nói trên có nhiều điểm không phù hợp, trái với quy định của pháp luật hiện hành; ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chúng tôi. Vậy tôi xin hỏi các Luật sư của Công ty tôi có thể khởi kiện yêu cầu toà tuyên vô hiệu đối với hợp đồng này được không?

Ðiều 342 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về thế chấp như sau:

>> Xem thêm:  Mẫu đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới nhất năm 2020

“Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp."

Như vậy, việc thế chấp phải đảm bảo bên thế chấp phải dùng tài sản thuộc sở hữu của mình. Tuy nhiên, trường hợp của bạn, bố bạn chỉ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có giấy tờ chứng minh căn nhà là thuộc quyền sở hữu của mình. Do đó, bố bạn không có quyền thế chấp tài sản là ngôi nhà.

Điều 128 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng."

Theo đó, phần tài sản không đủ điều kiện để thực hiện thế chấp, nếu không ảnh hưởng đến hiệu lực phần thế chấp quyền sử dụng đất thì phần hợp đồng quy định về vấn đề này sẽ vô hiệu theo quy định:

"Ðiều 135. Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần

Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần của giao dịch vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch".

>> Xem thêm:  Mẫu đơn khởi kiện cập nhật mới nhất năm 2020 và hướng dẫn cách viết đơn khởi kiện

Từ căn cứ trên, ta có thể thấy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thứ 3 có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật.

Do đó, hợp đồng này vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 410 Bộ Luật dân sự 2005 :

"Điều 410. Hợp đồng dân sự vô hiệu

1. Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu."

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật  - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Làm giấy vay tiền viết tay có hợp pháp không?