LUậT

LUậT

SửA đổI, Bổ SUNG MộT Số đIềU

CủA LUậT NGHĩA Vụ QUâN Sự

Căn cứ vào Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam;

Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sựđược Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30 tháng12 năm 1981.

Điều 1.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự nhưsau:

1/ Điều 14 về thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan vàbinh sĩ, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 14.

Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan vàbinh sĩ là hai năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan chỉhuy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do Quân đội đào tạo, hạ sĩ quanvà binh sĩ trên tầu hải quân là ba năm."

2/ Đoạn 4 Điều 21 về trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấptrong việc gọi công dân nhập ngũ, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo, tổchức thực hiện việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ trong địa phương mình,bảo đảm công khai, dân chủ và công bằng; đúng thời gian, đủ số lượng, đúng tiêuchuẩn theo quy định của pháp luật. Các đơn vị nhận quân có trách nhiệm phối hợpvới Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện nhiệm vụ này".

3/ Điều 29 về những người được hoãn gọi nhập ngũ, được sửađổi, bổ sung như sau:

"Điều 29.

Trong thời bình, những người đây sau được hoãn gọi nhập ngũ:

1- Người chưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận củaHội đồng khám sức khoẻ;

2- Con của liệt sĩ;

3- Anh hoặc em trai còn lại duy nhất của liệt sĩ;

4- Một con trai của thương binh hạng một, hạng hai và bệnhbinh hàng một;

5- Người là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi người kháctrong gia đình không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;

6- Người có anh, chị hoặc em ruột trong cùng một hộ gia đìnhlà hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ;

7- Giáo viên, nhân viên y tế, thanh niên xung phong đang làmviệc ở một số vùng cao xa xôi, hẻo lánh do Hội đồng bộ trưởng quy định;

8- Người đang nghiên cứu công trình khoa học cấp Nhà nướcđược Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước hoặc người có chức tương đương chứngnhận;

9- Người đang học ở các trường phổ thông; đang học ở cáctrường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đạihọc thuộc hệ tập trung dài hạn do Nhà nước quản lý.

Hàng năm, những người nói ở các điểm 1, 5, 6, 7, 8 và 9 củaĐiều này phải được kiểm tra, nếu không còn lý do hoãn thì được gọi nhập ngũ;hết 27 tuổi mà vẫn không được gọi nhập ngũ thì chuyển sang ngạch dự bị".

4/ Điều 32 về việc xuất ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ, đượcsửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 32.

Hạ sĩ quan và binh sĩ đã phục vụ tại ngũ đủ thời hạn quyđịnh ở Điều 14 của Luật này thì được xuất ngũ. Theo lệnh của Bộ trưởng Bộ quốcphòng, người chỉ huy đơn vị từ cấp trung đoàn và tương đương trở lên có tráchnhiệm thực hiện việc xuất ngũ cho hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc quyền.

Thời gian xuất ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ phải được thôngbáo trước một tháng cho quân nhân, Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh và đơn vị cơ sở, nơi quân nhân cư trú hoặc làm việc trước khinhập ngũ. Người chỉ huy của đơn vị cấp trung đoàn và tương đương trở lên có hạsĩ quan và binh sĩ xuất ngũ phải tổ chức tiễn và đưa họ về bàn giao cho Uỷ bannhân dân địa phương đã giao quân. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh có trách nhiệm tổ chức tiếp nhận hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũvề địa phương mình."

5/ Điều 38 về hạn tuổi phục vụ của hạ sĩ quan và binh sĩ ởngạch dự bị, được sửa đổi như sau:

"Điều 38.

Hạn tuổi phục vụ của hạ sĩ quan và binh sĩ ở ngạch dự bịđược quy định như sau:

Nam giới, đến hết 45 tuổi;

Nữ giới, đến hết 40 tuổi;"

6/ Điều 39 về chia nhóm quân nhân dự bị nam giới, được sửađổi như sau:

"Điều 39.

Căn cứ vào lứa tuổi, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị nam giới ởmỗi hạng được chia thành 2 nhóm:

Nhóm A gồm những người đến hết 35 tuổi;

Nhóm B gồm những người từ 36 tuổi đến hết 45 tuổi."

7/ Bỏ khoản 3 Điều 40 về việc huấn luyện quân nhân dự bị ởnhóm C.

8/ Điều 53 về quyền lợi của hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ,được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 53.

Hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ:

1- Được bảo đảm cung cấp kịp thời, đủ số lượng, đúng chấtlượng về lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, đượcbảo đảm chỗ ở, phụ cấp hàng tháng và nhu cầu về văn hoá, tinh thần phù hợp vớitính chất nhiệm vụ của quân đội theo chế độ, tiêu chuẩn, định lượng do Hội đồngbộ trưởng quy định;

2- Từ năm thứ 2 trở đi, được nghỉ phép theo quy định của Hộiđồng bộ trưởng;

3- Từ tháng thứ 25 trở đi, được hưởng thêm 100% phụ cấp hàngtháng;

4- Được tính nhân khẩu ở gia đình khi gia đình được cấp hoặcđiều chỉnh diện tích nhà ở, đất xây dựng nhà ở và đất canh tác;

5- Được tính thời gian phục vụ tại ngũ vào thời gian côngtác;

6- Được ưu tiên mua vé khi đi lại bằng các phương tiện giaothông thuộc các thành phần kinh tế;

7- Được ưu đãi về bưu phí theo quy định của Hội đồng bộtrưởng."

9/ Điều 54 về quyền lợi của gia đình quân nhân tại ngũ, đượcsửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 54.

Quyền lợi của gia đình hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ đượcquy định như sau:

1- Bố hoặc vợ được tạm miễn tham gia lao động công ích trongnhững trường hợp gia đình thực sự có khó khăn và được Uỷ ban nhân dân xã,phường, thị trấn chứng nhận;

2- Bố, mẹ, vợ và con được hưởng chế độ trợ cấp khó khăn độtxuất theo chính sách chung của Nhà nước; được miễn viện phí khi khám bệnh vàchữa bệnh tại các bệnh viện của Nhà nước;

3- Con gửi ở nhà trẻ, học tại các trường mẫu giáo, trườngphổ thông của Nhà nước được miễn học phí và tiền đóng góp xây dựngtrường."

10/ Điều 55 về chế độ đối với hạ sĩ quan và binh sĩ xuấtngũ, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 55.

Hạ sĩ quan và binh sĩ khi xuất ngũ được cấp tiền tầu xe, phụcấp đi đường và trợ cấp xuất ngũ do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Hạ sĩ quan và binh sĩ kể từ ngày có quyết định xuất ngũ đượctạm miễn làm nghĩa vụ lao động công ích; cứ mỗi năm phục vụ tại ngũ thì đượcmiễn thời gian nghĩa vụ lao động công ích của một năm.

Thời gian hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị tập trung huấn luyện vàkiểm tra sẵn sàng chiến đấu được trừ vào thời gian nghĩa vụ lao động công íchhàng năm."

Điều 2.

Các Điều 69, 70, 71 về việc xử lý các vi phạm được thay bằngĐiều 69 mới như sau:

"Điều 69.

1- Người nào vi phạm các quy định về đăng ký nghĩa vụ quânsự, tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, gọi quân nhân dự bị tập trung huấnluyện; lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái hoặc cản trở việc thực hiện các quyđịnh trên đây hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tuỳ theo mức độnhẹ hoặc nặng mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu tráchnhiệm hình sự.

2- Quân nhân nào vi phạm các quy định về việc tuyển chọn vàgọi công dân nhập ngũ, về việc xuất ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ, về chế độ,quyền lợi của quân nhân hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tuỳtheo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý theo Điều lệnh kỷ luật của quân đội hoặcbị truy cứu trách nhiệm hình sự."

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam khoá VIII, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990.