Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là đạo luật quy định thu thuế đối với tổ chức, cá nhân có hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu khi thực hiện xuất, nhập khẩu, được Quốc hội Khoá VIII, kì họp thứ 10, thông qua ngày 26.12.1991, có hiệu lực thi hành từ ngày 01.3.1992.

Mục tiêu của việc ban hành Luật là nhằm quản lí các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại; góp phần phát triển và bảo vệ sản xuất, định hướng tiêu dùng trong nước; tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Phạm vi điều chỉnh của Luật là quan hệ thu, nộp thuế giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân có hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, kể cả hàng hoá từ thị trường trong nước đưa vào khu chế xuất và từ khu chế xuất đưa ra thị trường trong nước, khi thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu.

Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Nhà nước thực hiện độc quyền ngoại thương nên chỉ có các tổ chức của Nhà nước mới được phép xuất, nhập khẩu hàng hoá và phải thực hiện nghĩa vụ bằng một khoản nộp gọi là chênh lệch ngoại thương. Đạo luật đầu tiên quy định về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch được Quốc hội thông qua ngày 29.12.1987. Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu hàng mậu dịch năm 1987 chỉ quy định thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng mậu dịch nên có sự phân biệt giữa hàng hoá xuất, nhập khẩu theo các hợp đồng ngoại thương và các loại hàng hoá xuất khấu, nhập khẩu khác.

Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991 quy định việc thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu không phân biệt hàng hoá xuất, nhập khẩu mậu dịch hay phi mậu dịch, áp dụng đối với mọi thành phần kinh tế. Luật gồm Lời nói đầu, 7 chương với Z5 điều và có những nội dung cơ bản như sau: 1) Quy định đối tượng nộp thuế, hàng hoá thuộc diện chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; hàng hoá xuất, nhập khẩu được áp dụng miễn nộp thuế theo điều ước quốc tế; 2) Quy định căn cứ tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; 3) Quy định miễn, giảm thuế, hoàn lại thuế xuất, nhập khẩu; 4) Quy định về xử lí vì phạm Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991 là văn bản luật thể chế hoá những yêu cầu cơ bản chính sách của Nhà nước trong việc phát triển xuất, nhập khẩu trong giai đoạn đầu của thời kì chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường hướng tới hội nhập quốc tế. Để kịp thời bổ sung, sửa đổi, thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Nhà nước trong quá trình xây dựng nền kinh tế mở, trong điều kiện hội nhập, toàn cầu hóa, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991 đã qua một số lần sửa đổi, bổ sung một số điều. Lần thứ nhất bằng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991 được Quốc hội Khóa IX, kì họp thứ 3 thông qua ngày 05.7.1993 và lần thứ hai bằng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991 được Quốc hội Khóa X, kì họp thứ 3 thông qua ngày 20.5.1998.