1. Tìm hiểu về lương tối thiểu

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) có Công ước số 26 (năm 1928) về lương tối thiểu và Công ước số 131 (năm 1970) về ấn định lương tối thiểu đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Các quốc gia có thể quy định mức lương tối thiểu chung, lương tối thiểu theo ngành, theo vùng. Ở Việt Nam hiện nay có mức lương tối thiểu chung và mức lương tối thiểu áp dụng trong các đơn vị sử dụng lao động có yếu tố nước ngoài. Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu cho từng thời kì sau khi lấy ý kiến của đại diện công đoàn và đại diện người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động có thể quy định mức lương tối thiểu áp dụng riêng trong đơn vị nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Khi chỉ số giá sinh hoạt thay đổi, mức lương tối thiểu có thể được điều chỉnh lại cho phù hợp. Mức lương tối thiểu còn được dùng để tính các mức lương khác trong hệ thống thang, bảng lương và để tính một số chế độ phụ cấp lương theo phương pháp hệ số.

Lương tối thiểu được Tổ chức Lao động quốc tế quan tâm và quy định từ rất sớm, ngay trong Công ước số 26 ngày 30/5/1928, khoản 3 Điều 3 quy định:

“Các mức lương tối thiểu được ẩn định là bắt buộc với những người sử dụng lao độngngười lao động hữu quan, những mức lưcmg đó không thể bị hạ thấp dù là bằng thoả thuận cá nhân hay hợp đồng tập thể, trừ khi nhà chức trách cỏ thẩm quyền cho phép chung hoặc cho phép đặc biệt”.

Công ước số 131 năm 1970 của Tổ chức Lao động quốc tế về ấn định tiền lương tối thiểu và Khuyến nghị số 135 kèm theo cũng đề cập “đảm bảo cho người làm công ăn lương sự đảm bảo xã hội cần thiết dưới dạng mức tiền lương tối thiểu đủ sổng”. Tiền lương tói thiểu chính là mức tiền lương thấp nhất đảm bảo duy trì cuộc sống ở mức tối thiểu cho người lao động. Mức tiền lương thấp nhất này mang tính bắt buộc, buộc người sử dụng lao động phải trả ít nhất là bằng chứ không được thấp hơn, nếu trả ít hơn đồng nghĩa với vi phạm pháp luật và người lao động không thể đảm bảo trang trải cho các nhu cầu sinh sống tối thiểu, đảm bảo tái sản xuất sức lao động.

Ở Việt Nam, mức tiền lương tối thiểu được xác định:

“Mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội” (khoản 1 Điều 91 Bộ luật lao động năm 2019).

Quy định này đề cập mức tiền lương tối thiểu với những tiêu chí xác định, mục đích và phạm vi quy định, về đặc điểm, tiền lương tối thiểu được nhận diện, xác định với những đặc điểm như:

1) Được xác định tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất, chưa qua đào tạo nghề;

2) Tương ứng với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất, không đòi hỏi tiêu hao nhiều năng lượng, thần kinh, cơ bắp;

>> Xem thêm:  Môi trường là gì ? Vai trò của môi trường là gì ? Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường ?

3) Tương ứng với môi trường và điều kiện lao động bình thường;

4) Bảo đảm nhu cầu tiêu dùng ở mức độ tối thiểu cần thiết cho bản thân người lao động;

5) Phù hợp với giá sinh hoạt ở vùng và điều kiện kinh tế - xã hội chung của quốc gia.

Tiền lương tối thiểu có vai trò quan trọng đối với lợi ích của người lao động và Nhà nước. Đối với người lao động, tiền lương tối thiểu đảm bảo đời sống tối thiểu cho người lao động, là cơ sở để bảo vệ mình trong quan hệ lao động. Đối với Nhà nước, tiền lương tối thiểu là công cụ điều tiết của Nhà nước trên phạm vi toàn xã hội, hạn chế sự bóc lột sức lao động, bảo vệ giá trị tiền lương, hạn chế sự cạnh tranh không công bằng trong thị trường lao động,... Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, không phải pháp luật quốc gia nào cũng quy định về tiền lương tối thiểu. Ở một sô quốc gia, việc điều chỉnh pháp luật đối với tiền lương không bắt buộc phải quy định giới hạn tối thiểu này mà đảm bảo bằng sự ghi nhận đối với thoả thuận về tiền lương trong quan hệ lao động.

Để xác định mức lương tối thiểu, pháp luật các quốc gia đều phải dựa trên những căn cứ nhất định. Theo Tổ chức Lao động quốc tế, cần lưu ý đến các yếu tố như:

“ạ) những nhu cầu của người lao động và gia đình họ, xét theo mức lương chung trong nước, giá sinh hoạt, các khoản trợ cấp an toàn xã hội và mức sống so sảnh của các nhóm xã hội khác;

b) những yếu tổ về kinh tế, kể cả những đòi hỏi của phát triển kinh tế, năng suất lao động và moi quan tâm trong việc đạt tới và duy trì một mức sử dụng lao động cao ” (Điều 3 Công ước số 131 năm 1970 về lương tối thiểu).

Cụ thể hơn, những căn cứ cơ bản để xác định mức lương tối thiểu chính là hệ thống nhu cầu tối thiểu của người lao động và gia đình họ như ãn, mặc, ở, đi lại,... mức tiền lương chung của cả nước, chi phí và biến động giá cả sinh hoạt, điều kiện sống giữa các tầng lớp dân cư, tốc độ tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động, mức độ có việc làm trên phạm vi vùng và quốc gia,... Các yếu tố này luôn có sự thay đổi nên tiền lương tối thiểu cũng được điều chỉnh cho hợp lí, đảm bảo giá trị của hàng hóa sức lao động.

Hệ thống tiền lương tối thiểu một quốc gia được xây dựng dựa trên những quy định về mức thấp nhất chung áp dụng trong phạm vi quốc gia, trên cơ sở đó có thể có mức lương tối thiểu cho các vùng, ngành. Các nước châu Âu và châu Mỹ thường quy định mức lương tối thiểu theo giờ, theo tuần làm việc. Các nước khu vực châu Á thường quy định theo tháng làm việc. Tổng quan cho thấy hệ thống tiền lương tối thiểu được biết đến bao gồm các loại:

1) Tiền lương tối thiểu quốc gia do Nhà nước quy định áp dụng chung trên phạm vi toàn quốc;

2) Tiền lương tối thiểu theo khu vực kinh tế, chẳng hạn như khu vực đâu tư nước ngoài và khu vực kinh tế trong nước;

>> Xem thêm:  Mức lương cơ sở, mức lương tối thiểu vùng mới nhất 2022

3) Tiền lương tối thiểu theo khu vực địa lí thường xác định theo vùng miền, địa phương; và

4) Tiền lương tối thiểu của đơn vị sử dụng lao động, của ngành hình thành trên trên cơ sở thoả thuận của các bên và thông thường được ghi nhận trong thoả ước lao động tập thể.

Ở Việt Nam trước đây đã từng quy định mức tiền lương tối thiểu áp dụng cho 2 khu vực kinh tế trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, cũng đã từng quy định một mức chung trên phạm vi toàn quốc song hiện nay, cùng với những cải cách về tiền lương, mức tiền tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và xác lập theo vùng, ngành. Mức lương tối thiểu vùng do pháp luật quy định còn mức lương tối thiểu ngành do các bên trong quan hệ lao động thoả thuận. Đương nhiên, về nguyên tắc, mức lương tối thiểu ngành do các bên thoả thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố. Mức lương tối thiểu được Chính phủ quy định dựa trên mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; tương quan giữa mức lương tối thiểu và mức lương trên thị trường; chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế; quan hệ cung, cầu lao động; việc làm và thất nghiệp; năng suất lao động; khả năng chi trả của doanh nghiệp… (Khoản 3 Điều 91 BLLĐ năm 2019). Mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và hiện nay, mức lương tối thiểu hàng tháng theo vùng được quy định cho bốn vùng vói đối tượng vả nguyên tắc áp dụng (xem: Nghị định số 90/2019/NĐ-CP ngày 15/11/2019..). Việc điều chỉnh lương tối thiểu theo vùng phụ thuộc vào sự biến động của các yếu tố xác định với đề xuất của các đại diện ba bên trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng lương quốc gia, trên cơ sở đó Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trình Chính phủ quyết định. Bên cạnh việc quy định mức lương tối thiểu vùng, pháp luật cũng thừa nhận mức lương tối thiểu theo thoả thuận của các bên trong quan hệ lao động và được ghi nhận trong thoả ước lao động tập thể của đơn vị, của ngành.

Theo Nghị quyết số 27-NQ/TƯ ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XII về cải cách tiền lương thì mức lương tối thiểu vùng sẽ được tiếp tục hoàn thiện, bổ sung mức lương tối thiểu vùng theo giờ nhằm nâng cao độ bao phủ của tiền lương tối thiểu đáp ứng sự linh hoạt của thị trường lao động. Mức lương tối thiểu vùng sẽ điều chỉnh nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình của người hưởng lương, đặt trong mối quan hệ với các yếu tố của thị trường lao động như cung - cầu lao động, tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá cả tiêu dùng, năng suất lao động, việc làm, thất nghiệp, khả năng chi trả của doanh nghiệp... Nghị quyết cũng xác định rõ Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp, tôn trọng và ghi nhận những thoả thuận về tiền lương tối thiểu trong đơn vị, trong ngành thông qua những thoả thuận trong thoả ước lao động tập thể, bong quy chế của doanh nghiệp.

2. Vai trò của tiền lương tối thiểu

Việc quy định tiền lương tối thiểu là cơ sở để xác định tiền lương thực tế của người lao động được người sử dụng lao động trả cho dựa trên từng tính chất công việc, điều kiện lao động nhằm bảo vệ quyền lợi tối thiểu cho con người khi tham gia quan hệ lao động. Đồng thời tiền lương tối thiểu cũng góp phần điều hoà quyền lợi của các bên trong quan hệ lao động. Tiền lương tối thiểu còn có tác động lớn đến điều kiện kinh tế - xã hội, đến cung, cầu, tình trạng lạm phát và quá trình công nghiệp hoá đất nước.

Tiền lương tối thiểu có vị trí và vai trò rất quan trọng. Hiện nay, chế độ tiền lương bao gồm các nội dung cơ bản: tiền lương tối thiểu, hệ thống thang bảng lương, các chế độ phụ cấp lương, chế độ tiền thưởng. Trong đó tiền lương tối thiểu có vị trí đặc biệt, nó là mức “sàn”, là cơ sở để xác định các nội dung khác trong chế độ tiền lương. Vị trí đặc biệt quan trọng của tiền lương tối thiểu được thể hiện ở chỗ:

* Thứ nhất, tiền lương tối thiểu là cơ sở để Nhà nước và người sử dụng lao động xác định các thang, bảng lương phù hợp với đơn vị mình.

* Thứ hai, tiền lương tối thiểu là cơ sở để tính toán các khoản phụ cấp và thưởng trả cho người lao động.

>> Xem thêm:  Phát triển bền vững là gì ? Quy định pháp luật về phát triển bền vững

* Thứ ba, tiền lương tối thiểu là cơ sở để thực hiện một số chế độ bảo hiểm xã hội và chế độ ưu đãi xã hội đối với người có công.

Tiền lương tối thiểu có vai trò rất quan trọng, cụ thể:

- Tiền lương tối thiểu là sự đảm bảo có tính pháp lý của Nhà nước đối với người lao động trong mọi ngành nghề, khu vực có tồn tại quan hệ lao động, đảm bảo đời sống tối thiểu cho họ phù hợp với khả năng của nền kinh tế.

- Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ người lao động khi tham gia quan hệ lao động, Nhà nước quy định tiền lương tối thiểu như là một sự đảm bảo về mặt pháp lý đối với người lao động.

Trong quan hệ lao động, người lao động phải bỏ ra một lượng sức lực nhất định để tạo ra giá trị thặng dư và nhận một khoản tiền công do người sử dụng lao động trả. Trên cơ sở giá trị sử dụng của mình, với khoản tiền lương đó, người lao động mới có thể duy trì được cuộc sống của bản thân và gia đình. Tiền lương tối thiểu là khoản tiền đáp ứng nhu cầu tối thiểu nhất cho người lao động. Khi xác định tiền lương tối thiểu, Nhà nước đã căn cứ vào những thoả thuận của người lao động phù hợp với trên cơ sở nền kinh tế của đất nước, do đó tiền lương tối thiểu luôn đảm bảo cho người lao động có cuộc sống phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ.

- Tiền lương tối thiểu còn là công cụ điều tiết của Nhà nước trên phạm vi toàn xã hội và trong từng cơ sở kinh tế.

- Tiền lương tối thiểu loại bỏ sự bóc lột có thể xảy ra đối với người làm công ăn lương trước sức ép của thị trường. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, sức lao động được coi là một loại hàng hoá và cũng được tự do mua bán theo thoả thuận của người lao động và người sử dụng lao động. Hiện nay, tình trạng thất nghiệp còn cao, cung lao động nhiều hơn cầu lao động, là điều kiện để người sử dụng lao động có cơ sở gây sức ép với người lao động, trả cho họ một mức lương thấp hơn mức lương họ đáng được hưởng. Việc quy định tiền lương tối thiểu giới hạn rõ hành vi của người sử dụng lao động trong việc trả lương, bảo đảm sự cân bằng và bảo vệ người lao động khỏi sự bóc lột trước sức ép của thị trường.

Tiền lương tối thiểu bảo vệ sức mua cho các mức tiền lương trước sự gia tăng của lạm phát và các yếu tố kinh tế khác.

Tiền lương tối thiểu được xác định dựa trên cơ sở giá cả trung bình của thị trường trong nước, vì thế nó có sự cân bằng với giá cả thị trường, hạn chế được sự lạm phát. Tiền lương tối thiểu loại bỏ sự cạnh tranh không công bằng của thị trường lao động. Cạnh tranh là quy luật chung của thị trường trong điều kiện hàng hoá sức lao động dư thừa, cung lao động cao hơn so với cầu lao động cho nên cạnh tranh giữa người lao động với nhau là tất yếu. Nhà nước quy định mức lương tối thiểu là khung pháp lý quan trọng, đảm bảo cho sự cạnh tranh này luôn ở trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo cho yếu tố cạnh tranh trên thị trường lành mạnh hơn.

>> Xem thêm:  Năm 2022, Diện tích cấp sổ đỏ và diện tích tối thiểu được tách thửa tại 63 tỉnh thành phố mới nhất

Tiền lương tối thiểu đảm bảo sự trả lương tương đương cho những công việc tương đương, tiền lương tối thiểu ở một mức độ nào đó là sự điều hoà trong các nhóm người lao động mà ở đó thường không được tính đúng mức.

Tiền lương tối thiểu, là cơ sở tính các mức lương tiếp theo trong thang, bảng lương. Vì thế, ở những công việc tương đương người lao động sẽ được trả mức lương tương đương.

Tiền lương tối thiểu phòng ngừa xung đột, tranh chấp lao động. Sự xác định thoả đáng các mức tiền lương tối thiểu có thể xoá bỏ một trong những nguyên nhân gây nên xung đột giữa chủ và thợ để thúc đẩy kinh tế phát triển.

3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương

3. 1 Nhóm nhân tố thuộc thị trường lao động: Cung – cầu lao động ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương

+ Khi cung về lao động lớn hơn cầu về lao động thì tiền lương có xu hướng giảm, khi cung về lao động nhỏ hơn cầu về lao động thì tiền lương có xu hướng tăng, còn khi cung về lao động bằng với cầu lao động thì thị trường lao động đạt tới sự cân bằng. Tiền lương lúc này là tiền lương cân bằng, mức tiền lương này bị phá vỡ khi các nhân tố ảnh hưởng tới cung cầu về lao động thay đổi như (năng suất biên của lao động, giá cả của hàng hoá, dịch vụ …).

+ Khi chi phí sinh hoạt thay đổi, do giá cả hàng hoá, dịch vụ thay đổi sẽ kéo theo tiền lương thực tế thay đổi. Cụ thể khi chi phí sinh hoạt tăng thì tiền lương thực tế sẽ giảm. Như vậy buộc các đơn vị, các doanh nghiệp phải tăng tiền lương danh nghĩa cho công nhân để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động, đảm bảo tiền lương thực tế không bị giảm.

+ Trên thị trường luôn tồn tại sự chênh lệch tiền lương giữa các khu vực tư nhân, Nhà nước, liên doanh … chênh lệch giữa các ngành, giữa các công việc có mức độ hấp dẫn khác nhau, yêu cầu về trình độ lao động cũng khác nhau. Do vậy, Nhà nước cần có những biện pháp điều tiết tiền lương cho hợp lý.

3.2 Nhóm nhân tố thuộc môi trường doanh nghiệp

+ Các chính sách của doanh nghiệp: các chính sách lương, phụ cấp, giá thành…được áp dụng triệt để phù hợp sẽ thúc đẩy lao động nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, trực tiếp tăng thu nhập cho bản thân.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin nghỉ việc theo quy định pháp luật mới năm 2022

+ Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng mạnh tới tiền lương. Với doanh nghiệp có khối lượng vốn lớn thì khả năng chi trả tiền lương cho người lao động sẽ thuận tiện dễ dàng. Còn ngược lại nếu khả năng tài chính không vững thì tiền lương của người lao động sẽ rất bấp bênh.

+ Cơ cấu tổ chức hợp lý hay bất hợp lý cũng ảnh hưởng ít nhiều đến tiền lương. Việc quản lý được thực hiện như thế nào, sắp xếp đội ngũ lao động ra sao để giám sát và đề ra những biện pháp kích thích sự sáng tạo trong sản xuất của người lao động để tăng hiệu quả, năng suất lao động góp phần tăng tiền lương.

3.3 Nhóm nhân tố thuộc bản thân người lao động

+ Trình độ lao động: Với lao động có trình độ cao thì sẽ có được thu nhập cao hơn so với lao động có trình độ thấp hơn bởi để đạt được trình độ đó người lao động phải bỏ ra một khoản chi phí tương đối cho việc đào tạo đó. Có thể đào tạo dài hạn ở trường lớp cũng có thể đào tạo tại doanh nghiệp. Để làm được những công việc đòi hỏi phải có hàm lượng kiến thức, trình độ cao mới thực hiện được, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp thì việc hưởng lương cao là tất yếu.

+ Thâm niên công tác và kinh nghiệm làm việc thường đi đôi với nhau. Một người qua nhiều năm công tác sẽ đúc rút được nhiều kinh nghiệm, hạn chế được những rủi ro có thể xảy ra trong công việc, nâng cao bản lĩnh trách nhiệm của mình trước công việc đạt năng suất chất lượng cao vì thế mà thu nhập của họ sẽ ngày càng tăng lên.

+ Mức độ hoàn thành công việc nhanh hay chậm, đảm bảo chất lượng hay không đều ảnh hưởng ngay đến tiền lương của người lao động.

3.4 Nhóm nhân tố thuộc giá trị công việc

+ Mức hấp dẫn của công việc: công việc có sức hấp dẫn cao thu hút được nhiều lao động, khi đó doanh nghiệp sẽ không bị sức ép tăng lương, ngược lại với công việc kém hấp dẫn để thu hút được lao động doanh nghiệp phải có biện pháp đặt mức lương cao hơn.

+ Mức độ phức tạp của công việc: Với độ phức tạp của công việc càng cao thì định mức tiền lương cho công việc đó càng cao. Độ phức tạp của công việc có thể là những khó khăn về trình độ kỹ thuật, khó khăn về điều kiện làm việc, mức độ nguy hiểm cho người thực hiện do đó mà tiền lương sẽ cao hơn so với công việc giản đơn.

>> Xem thêm:  Ủy nhiệm chi là gì ? Quy định pháp luật về ủy nhiệm chi

+ Điều kiện thực hiện công việc: tức là để thực hiện công việc cần xác định phần việc phải làm, tiêu chuẩn cụ thể để thực hiện công việc, cách thức làm việc với máy móc, môi trường thực hiện khó khăn hay dễ dàng đều quyết định đến tiền lương.

+ Yêu cầu của công việc đối với người thực hiện là cần thiết, rất cần thiết hay chỉ là mong muốn mà doanh nghiệp có quy định mức lương phù hợp.

Các nhân tố khác: Ở đâu có sự phân biệt đối xử về màu da, giới tính, độ tuổi, thành thị và nông thôn, ở đó có sự chênh lệch về tiền lương rất lớn, không phản ánh được mức lao động thực tế của người lao động đã bỏ ra, không đảm bảo nguyên tắc trả lương nào cả nhưng trên thực tế vẫn tồn tại.

Sự khác nhau về mức độ cạnh tranh trên thị trường cũng ảnh hưởng tới tiền lương của lao động.

4. Vai trò của tiền lương

Là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, các doanh nghiệp thường sử dụng tiền lương làm đòn bẩy để khuyến khích tinh thần tích cực lao động là nhân tố đẩy mạnh để tăng năng suất lao động.

4.1 Chức năng tái sản xuất sức lao động

Cùng với quá trình tái sản xuất của cải vât chất, sức lao động cũng cần phải được tái tạo. Trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau việc tái sản xuất sức lao động có sự không giống nhau. Sự không giống nhau này thể hiện bởi quan hệ sản xuất thống trị.

Song nhìn bao quát công đoạn tái sản xuất sức lao động xảy ra trong lịch sử thể hiện rõ sự tiến bộ của xã hội. Sự tiến bộ này gắn liền với sự tác động mãnh liệt và sâu sắc của những thành tựu khoa học – kỹ thuật mà nhân loại sáng tạo ra. Chính nó đã làm cho sức lao động được tái sản xuất ngày càng tăng cả về số lượng và cả về chất lượng.

4.2 Công dụng điều chỉnh lao động

>> Xem thêm:  Phân loại nợ xấu theo quy định pháp luật ? Các thức kiểm tra nợ xấu ?

Trong lúc thực hiện chiến lược phát triển cân đối giữa các ngành, nghề ở các vùng trên toàn quốc, nhà nước thường thông qua hệt thống thang bảng lương, các chế độ phụ cấp cho từng ngành nghề, từng vùng để làm công cụ điều chỉnh lao động. Nhờ đó tiền lương đã góp một phần tạo ra một cơ cấu hợp lý giúp cho sự phát triển của xã hội.

4.3 Công dụng thước đo hao phí lao động xã hội

Khi tiền lương được trả cho người lao động ngang với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trình thực hiện công việc thì xã hội có thể nắm rõ ràng chuẩn xác hao phí lao động của tập thể cộng đồng thông qua tổng quỹ lương cho toàn thể người lao động.

5. Một số góp ý đối với đổi mới chính sách tiền lương

Trước yêu cầu phát triển trong điều kiện những cơ hội, thuận lợi và khó khăn thách thức đan xen đòi hỏi chúng ta phải có quan điểm đúng đắn, phù hợp với bối cảnh mới, chính sách tiền lương có tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội đến từng tổ chức sử dụng lao động và quan trọng hơn cả là đến từng NLĐ, một bộ phận quan trọng trong cấu trúc xã hội.

Các chính sách tiền lương trong đổi mới phải đảm bảo cân bằng lợi ích các bên: Nhà nước - người sử dụng lao động - NLĐ. Trong quá trình nghiên cứu đổi mới chính sách cần bám sát vào thực tiễn và chú trọng các vấn đề:

- Đổi mới chính sách tiền lương phải bám sát vào thực tiễn của đất nước có tính đến yếu tố hội nhập khách quan, tiềm lực kinh tế của đất nước, khả năng chi trả của tổ chức doanh nghiệp và mức sống, chất lượng sống của NLĐ.

- Chính sách tiền lương phải điều tiết được các hình thức phân phối, trong đó chú trọng nhất là hình thức phân phối theo kết quả và hiệu quả kinh tế.

- Các chính sách tiền lương phải nghiên cứu và bám sát vào quy luật giá trị, quy luật cung cầu sức lao động trên thị trường lao động.

- Chính sách tiền lương ban hành phải đảm bảo thu nhập trang trải được cho đời sống của NLĐ và gia đình họ, trả lương đúng là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của NLĐ, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội.

>> Xem thêm:  Đất thổ cư là gì ? Khái niệm về đất thổ cư theo quy định pháp luật

- Đổi mới chính sách tiền lương phải đáp ứng tính tổng thể, hệ thống, đồng bộ, kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phục hiệu quả những hạn chế, bất cập của chính sách tiền lương trước đó;

- Chính sách tiền lương đổi mới phải theo nguyên tắc phân phối theo lao động và quy luật kinh tế khách quan.

- Chính sách tiền lương phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phải có lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và tiềm lực của đất nước.

- Đổi mới, cải cách chính sách tiền lương là yêu cầu khách quan là nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng và ổn định Nhà nước xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Vì vậy, nâng cao nhận thức và quyết tâm chính trị cao gắn liền với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Luật Minh Khuê (Biên tập)