1. Ly hôn đơn phương vì chồng bạo lực gia đình, chia tài sản và quyền nuôi con sẽ như thế nào ?

Chào Luật sư! Tôi và chồng em kết hôn được hơn 20 năm, có 2 con một con 10 tuổi, một con 22 tuổi. Tôi có mua 2 căn nhà trong quá trình hôn nhân, tất cả số tiền đều do tôi bỏ hết, chồng tôi không có đóng góp gì cả nhưng chồng tôi là người đứng tên trên sổ đỏ đó. Ngoài ra chồng tôi thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình, đánh các con và đánh cả tôi, có lần anh ta còn đánh tôi bị gãy tay.

Và từ hôm đấy đến bây giờ tôi nằm bệnh viện và tôi quyết định gửi đơn ;ly hôn đơn phương ra Toà án. Nhưng tôi có những thắc mắc như sau:

1. Theo luật các con tôi sẽ do ai nuôi? Tôi muốn nuôi cả hai con.

2. Tài sản là hai căn nhà trên sẽ được chia như thế nào?

Trân trọng cảm ơn Luật sư!

Ly hôn đơn phương vì chồng bạo lực gia đình, chia tài sản và quyền nuôi con sẽ như thế nào ?

Hành vi bạo lực gia đình, bạo hành gia đình - Ảnh minh họa

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Trường hợp này của chị muốn ly hôn đơn phương, ly hôn theo yêu cầu một bên bởi vì chồng chị có hành vi bạo lực gia đình. Căn cứ theo điều 56, Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì hoàn toàn có quyền yêu cầu Toà giải quyết ly hôn cho chị:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu một bên.

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

>> Về quyền nuôi con:

Trường hợp hai vợ chồng chị ly hôn, chị muốn nuôi cả hai con trong Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Căn cứ theo quy định trên thì con từ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Con của chị một cháu 10 tuổi, một cháu 22 tuổi nên Toà án phải xem xét nguyện vọng của con. Cháu 22 tuổi vì cháu đã lớn và đã có thể tự ra quyết định của mình. Còn đối với cháu nhỏ 10 tuổi Toà phải xem xét nguyện vọng của cháu, nếu cháu mong muốn ở với mẹ thì Toà án sẽ phải tôn trọng ý kiến đó và chị sẽ là người trực tiếp nuôi cháu. Và chị có quyền yêu cầu chồng chị cấp dưỡng cho cháu đến khi cháu đủ 18 tuổi trở lên.

>> Về tài sản chung:

Nếu hai vợ chồng không thoả thuận được với nhau về tài sản thì được chia, căn cứ theo khoản 2,3 điều 59, Luật hôn nhân và gia đình 2014 tài sản chung của vợ chồng được chia như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Vậy đối với phần tài sản của chị là hai căn nhà mà chị là người bỏ tiền ra mua, chồng chị không đóng góp gì cả nhưng tài sản này được tạo lập trong quá trình hôn nhân và chồng chị là người đứng tên sổ đỏ thì rất có thể hai căn nhà này sẽ được coi là tài sản chung. Nếu là tài sản chung theo nguyên tắc là chia đôi và tính đến các yếu tố sau:

- Hoàn cảnh gia đình của vợ, chồng

- Công sức đóng góp của vợ, chồng...

- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng...

Chị là người bỏ tiền ra mua hai căn nhà trên, chồng chị không đóng góp gì cả và chồng chị có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng.

Như vậy khẳng định chị là người có công sức đóng góp lớn hơn và chồng chị có lỗi trong cuộc hôn nhân này nên phần tài sản này sẽ được chia cho chị nhiều hơn. Chị sẽ là người được sở hữu hai căn nhà này để nuôi các con, còn chồng chị sẽ được chị thanh toán phần được hưởng của mình.

>> Ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình:

- Chị nên báo với chính quyền địa phương nơi chị đang sinh sống để ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình, ngăn chặn chồng chị đánh chị. Báo với UBND xã phường, công an địa phương, hội phụ nữ...

- Nếu chồng chị vẫn tiếp tục đánh chị, chị có thể viết đơn tố cáo lên công an để truy tố trách nhiệm hình sự về hành vi này:

Vì hành vi chồng chị đánh chị bị gãy tay, hành vi này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ và có thể ảnh hưởng đến tính mạng của chị nếu hành vi này không được ngăn chặn. Hành vi trên rất có thể sẽ bị truy tố trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích, được quy định như sau:

Căn cứ theo điều 104, Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 cũng có quy định như sau:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

3. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 04 năm đến 07 năm.

4. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

5. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 6 Điều này hoặc dẫn đến chết người, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

6. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

7. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

>> Như vậy để ngăn chặn hành vi chồng bạo lực gia đình chị phải báo ngăn đến những người thân hoặc cơ quan chắc năng để được bảo vệ về sức khoẻ và tính mạng. Cần đưa những hành vi bạo lực đó ra ánh sáng và pháp luật sẽ nghiêm trị hành vi cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khoẻ người khác.

>> Chị có thể tham khảo video về ly hôn đơn phương và giành quyền nuôi con sau đây:

(Thủ tục giải quyết ly hôn đơn phương)

(Quyền nuôi con sau ly hôn)

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Ly hôn đơn phương, chồng có hành vi bạo lực gia đình sẽ chia tài sản và quyền nuôi con như thế nào ?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo thêm nội dung liên quan: Tư vấn giải quyết ly hôn vì bạo lực gia đình?

2. Ly hôn khi chồng có hành vi bạo lực gia đình ? Chồng có phải bồi thường vì hành vi này hay không ?

Thưa luật sư: Cho em hỏi 2 vợ chồng đã lấy nhau được 7 năm và có 2 con trai, bé lớn 5 tuổi, bé út đã hơn 2 tuổi. Chồng đánh đập và dùng dao đe dọa, em muốn làm đơn ly hôn thì chồng phải bồi thường những khoản gì ạ? Thủ tục ly hôn và quyền nuôi dưỡng con cái?
Em xin cảm ơn !

Ly hôn khi chồng có hành vi bạo lực gia đình ? Chồng có phải bồi thường vì hành vi này hay không ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân về hành vi bạo lực gia đình trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy, khi chồng bạn có hành vi bạo lực gia đình thì bạn có quyền làm đơn ly hôn đơn phương với chồng, vì vậy, bạn cần phải thực hiện các thủ tục sau:

1. Chuẩn bị và nộp hồ sơ xin ly hôn

a. Hồ sơ ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn

- Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

- Bản sao có chứng thực chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng

- Bảo sao giấy khai sinh của con (nếu có)

- Các giấy tờ chứng minh tài sản chung (nếu có).

Bạn có thể tham khảo cách viết đơn xin ly hôn tại đây

b. Nơi nộp hồ sơ: Hồ sơ xin ly hôn sẽ nộp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết

Về thẩm quyền theo cấp: Khỏa 1 Điều 33 BLTTDS 2004, sửa đổi, bổ sung 2011 có quy định:

"1. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này; "

Về thẩm quyền theo lãnh thổ: Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 như sau:"a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này; "

Theo quy định của Điều 52 Bộ luật dân sự 2005, thì “1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này (Điều 52 BLDS) thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống”.

Trường hợp không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 36 BLDS như sau:

"1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết; "

Như vậy, Hồ sơ xin ly hôn sẽ được nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu không biết nơi cư trú, làm việc thì sẽ là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc cuối cùng).

Về quyền nuôi con:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

- Điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập… mà mỗi bên có thể dành cho con, các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;

- Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn… của cha mẹ.

Theo quy định tại khoản 3 điều 81 luật hôn nhân gia đình 2014 thì nếu như con dưới 36 tháng tuổi thì con đương nhiên thuộc quyền nuôi con của người mẹ, trừ trường hợp hai vợ chồng có thỏa thuận khác.

Còn đối với con đủ 7 tuổi trở lên thì Tòa án sẽ hỏi ý kiến của cháu và sẽ tôn trọng ý kiến của cháu. Còn cháu từ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi thì các bên có nghĩa vụ chứng minh và đưa ra các căn cứ về kinh tế cũng như về điều kiện chăm sóc con cái và tình cảm giành cho con để từ đấy Tòa sẽ xem xét xem chị có đủ điều kiện để nuôi hai cháu không.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Bị chồng đánh phải nhập viện thì kết quả kiểm tra có được xem là căn cứ bạo hành vợ không? Có thể ly hôn được không?

3. Ly hôn đơn phương khi có hành vi bạo lực gia đình ?

Con là một đứa con gái 18 tuổi. Từ nhỏ đến bây giờ con vẫn luôn chứng kiến việc bạo lực gia đình khi ba con luôn có những hành vi bạo lực đối với mẹ con con, những lời xúc phạm nhân phẩm và có những câu nói đe dọa tính mạng của mẹ con con . Bây giờ khi sức chịu đựng không thể chịu được nữa con đã khuyên mẹ con li hôn với ba . Nhưng đây là li hôn đơn phương vì ba con nhất quyết không kí vì ba con nói muốn hành hạ mẹ con con dã man hơn và con rất sợ . Con không biết nếu mẹ con nộp đơn li hôn thì có thể nào thắng không và cần những giấy tờ gì. Theo như con biết li hôn đơn phương sau 170 ngày mới xong vậy trong khoảng thời gian đó có cần sống chung không ?
Con xin cám ơn.

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trường hợp của bạn bố bạn đã có những hành vi bạo lực gia đình như vậy thì mẹ bạn hoàn toàn có quyền gửi đơn yêu cầu đơn phương ly hôn và sẽ được Tòa án giải quyết cho ly hôn theo Điều 56 Luật HNGĐ :

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Thủ tục giấy tờ cần thiết khi đơn phương ly hôn như sau :

Bước 1 .Hồ sơ, thủ tục ly hôn đơn phương được quy định như sau:
- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

- Chứng minh nhân dân của vợ (bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

- Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

- Đơn xin ly hôn (Theo mẫu) không cần chữ kí của cha bạn .

Bước 2 Bạn nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân quận, huyện nơi thường trú.

Trong thời hạn giải quyết yêu cầu đơn phương ly hôn mẹ bạn hoàn toàn có thể chuyển tới nơi khác sống và không bắt buộc phải sống chung với cha bạn, ngoài ra bạn có thể trình báo với chính quyền địa phương hoặc cơ quan công an về hành vi bạo lực gia đình của cha bạn nhằm tránh tình trạng cha bạn tiếp tục đánh đập hành hạ mẹ bạn.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Hướng dẫn ly hôn khi thường xuyên bị bạo hành tình dục ?

4. Đơn phương ly hôn do bị bạo lực gia đình ?

Dạ thưa vp luật sư! Em quê ở Phú Yên hiện đang đi làm tại Đồng Nai,quê chồng (ck) ở Bình Định,đăng ký kết hôn(kh) tại Bình Định. Vợ chồng em kh đc 4 năm,ko có con,ko có tài sản chung,ko có tranh chấp. Ck em hay đánh đập em,em ko thể chung sống được nữa nên muốn đơn phương ly hôn.

Em không thể làm song phương vì ck em luôn dùng lời lẽ thô tục và thường xuyên hăm dọa em nên em ko dám gặp mặt để thỏa thuận ly hôn được.Em muốn nhờ vp luật sư tư vấn giúp em cách làm thủ tục ly hôn và nơi giải quyết thuận tiện nhất cho em( em đi làm cty ko đc phép nghỉ việc nhiều).Vì lý do như trên nên em ko có được các loại giấy tờ cá nhân từ phía ck( em chỉ có đc 1 bản gốc giấy đkkh).

Rất mong được sự giúp đỡ từ các luật sư!Em xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

1. Quyền ly hôn và căn cứ cho ly hôn

+ Về nguyên tắc vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên trường hợp vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn.

+ Tòa án xem xét, quyết định cho ly hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện về tình trạng vợ chồng mẫu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được:



2. Hồ sơ khởi kiện xin ly hôn gồm có:

+ Đơn xin ly hôn (theo mẫu);
+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);
+ Sổ hộ khẩu, Chứng minh thư nhân dân của vợ, chồng (bản sao chứng thực);
+ Giấy khai sinh của con (bản sao chứng thực);
+ Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao chứng thực); (Hồ sơ có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường Bưu điện)

3. Trình tự, thủ tục xin ly hôn đơn phương

Quy trình giải quyết vụ án ly hôn:

+ Nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin đơn phương ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi bị đơn (chồng hoặc vợ) đang cư trú, làm việc;

+ Đương sự nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án sau khi nhận thông báo nộp tiền tạm ứng án phí của Tòa án;

+ Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và ra Bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án.

Thời gian giải quyết:

+ Thời hạn xét xử: Từ 4 đến 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án;

+ Thời hạn mở phiên tòa: Từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử./.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Chồng bạo hành vợ có được yêu cầu ly hôn?

5. Chồng có hành vi bạo lực gia đình muốn ly hôn có cần khai báo ủy ban nhân dân xã phường không ?

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, nếu chồng chị có hành vi đánh chị, tỉ lệ thương tích dưới 11% thì chị có thể trình báo tới cơ quan công an để xử lý vi phạm hành chính phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng theo Điểm e, Khoản 3, Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP.

Hoặc tỉ lệ thương tích của chị trên 11% thì chồng chị có thể bị xử lý hình sự về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 104, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.”

Thứ hai, chị có thể làm thủ tục ly hôn

Về căn cứ để ly hôn: Điều 56, Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về căn cứ để ly hôn theo yêu cầu một bên như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia"

Như vậy, chồng chị có hành vi bạo lực gia đình. Đây là căn cứ để chị có thể yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn. Chị chuẩn bị hồ sơ như sau và nộp tới tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi chồng chị đăng ký thường trú.

Hồ sơ bao gồm:

- Đơn xin ly hôn.

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính)

- Sổ hộ khẩu gia đình. (bản sao có chứng thực)

- Chứng minh nhân dân của vợ và chồng ( bản sao có chứng thực).

- Giấy khai sinh của các con. (bản sao có chứng thực).

- Giấy tờ chứng minh về các tài sản chung.

>> Xem thêm: Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn? Điều kiện giành quyền nuôi con khi ly hôn?

6. Bạo lực gia đình làm sao để vợ đơn phương ly hôn?

Luật sư tư vấn:

Theo Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 về ly hôn theo yêu cầu của một bên quy định :

" 1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Theo Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định 2007 về các hành vi bạo lực gia đình quy định :

" 1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;

e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;

g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;

h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

2. Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng."

Như vậy trong trường hợp của bạn, chồng bạn đã có các hành vi bạo lực gia đình và nếu bạn muốn đơn phương ly hôn thì bạn phải có căn cứ để chứng minh rằng chồng bạn có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm quyền, nghĩa vụ của bạn làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bạn có thể làm hồ sơ đơn phương ly hôn bao gồm những giấy tờ sau đây:

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ( bản chính )

- Sổ hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ chồng ( bản sao có chứng thực )

- Chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu của vợ chồng ( bản sao có chứng thực )

- Giấy khai sinh của các con ( bản sao có chứng thực )

- Các giấy tờ về chứng minh tài sản ( bản sao có chứng thực )

- Đơn xin ly hôn ( theo mẫu của tòa án )

Bạn có thể gửi đơn xin ly hôn bằng cách nộp trực tiếp tại tòa án nhân dân quận, huyện nơi chồng bạn cư trú hoặc qua đường dịch vụ bưu chính.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê