1. Ly hôn không có sổ hộ khẩu được không ?

Thưa luật sư, mong luật sư giải đáp cho tôi vấn đề này: Cho tôi hỏi vợ chồng tôi cưới nhau được 12 tháng nhưng ngay từ đầu đả không có tình cảm nên bây giờ vợ chồng thường xuyên cải nhau ,không tìm được tiếng nói chung. Tôi đả làm đơn và chồng tôi đả ký rồi nhưng gia đình chồng tôi không muốn cho tôi li hôn nên đả không đưa sổ hộ khẩu vậy cho tôi hỏi nếu không có sổ có nộp đơn được không ?
Xin chân thành cảm ơn.
Tên khách hàng: L.T.H

Theo Khoản 1 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Điều 97. Xác minh, thu thập chứng cứ

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ bằng những biện pháp sau đây:

a) Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử;

b) Thu thập vật chứng;

c) Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng;

d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý;

đ) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng;

e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ;

g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản;

h) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, tòa án có thẩm quyền ở đây là nơi chồng bạn cư trú. Hoặc bạn có thể nộp tại Tòa án nơi bạn đang cư trú (nhà ngoại) nếu bạn và chồng bạn thỏa thuận được với nhau và đồng ý Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi bạn cư trú.

- Thứ 2 về giành quyền nuôi con

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, con vợ chồng chị sẽ phải thỏa thuận về người nuôi cháu.

Về nguyên tắc, việc ai là người nuôi con sau khi ly hôn có thể được các bên đương sự (vợ, chồng) tự thỏa thuận với nhau và được tòa án ghi nhận trong bản án. Tuy nhiên, nếu hai người (vợ, chồng) không thể thoả thuận được với nhau thì toà án sẽ có quyền phán xét, giao quyền nuôi con cho một bên vợ hoặc chồng. Quyết định của tòa án căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt và hướng tới tương lai tốt đẹp của con. Các quyền lợi đó có thể là: điều kiện học tập, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, đi lại…

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Tư vấn ly hôn khi nguyên đơn vắng mặt tại Tòa án ?

Thưa luật sư! Em đã gửi đơn ly hôn và tòa án đã mời em một lần rồi và đã có giấy triệu tập lần hai, nếu lần hai này em không về tòa có sao không? Em là nguyên đơn trong vụ án ly hôn này ?
Em xin chân thành cảm ơn luật sư!

Ly hôn không có sổ hộ khẩu được không ?

Luật sư tư vấn luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Dựa trên thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi , chúng tôi xin tư vấn vấn đề của bạn như sau :

- Khi vụ án được đưa ra xét xử, nguyên đơn và bị đơn có quyền và nghĩa vụ tham gia phiên tòa. Trong trường hợp bạn không tham gia phiên tòa khi được tòa án triệu tập thì xử lý theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau :

Điều 227. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Điều 228. Xét xử trong trường hợp đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự vắng mặt tại phiên tòa

Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:

1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa.

3. Các trường hợp quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật này.

Như vậy, Tòa án vẫn giải quyết khi bạn vắng mặt tại tòa trong trường hợp bạn phải có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa. Trong trường hợp bạn không có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn thủ tục ly hôn vắng mặt vợ ?

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Vợ không cho chồng thăm con sau ly hôn ?

Thưa Luật sư, tôi tên Đ.V sinh năm 1989 hiện cư ngụ tại Hòa Bình Bạc Liêu. Hiện nay tôi và vợ tôi đã đăng ký kết hôn, chúng tôi có một con chung. Khi Tòa án quyết định cho chúng tôi nuôi con, quyền nuôi con thuộc về vợ tôi nhưng khi tôi ra thăm con hoặc đón con về nhà chơi thì vợ tôi cố tình không cho và còn đem con tôi đi đâu.
Vậy tôi muốn hỏi tôi có quyền thăm con hoặc đón con về nhà chơi không và vợ tôi làm như vật có đúng không ?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.
Người gửi: Đ.V

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời :

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì sau ly hôn quyền nuôi con thuộc về vợ bạn song vợ bạn lại không cho bạn đến thăm con. Như vậy, vợ bạn đã xâm phạm đến quyền của người cha không trực tiếp nuôi con sau ly hôn, vi phạm nghĩa vụ của người mẹ trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Cụ thể Luật hôn nhân gia đình 2014 :

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con."

Với hành vi này, vợ bạn có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt quy định tại Điều 53 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, cụ thể:

“Điều 53. Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau như sau:

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.”

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Chồng ở một nơi, vợ ở một nơi khi ly hôn phải nộp đơn ở đâu ?

Chào Luật sư Minh Khuê, Luật sư làm ơn tư vấn giúp tôi vụ việc gia đình của tôi như sau: Tôi và vợ tôi kết hôn được gần 10 năm, gần 4 năm gần đây do hai vợ chồng bất đồng quan điểm nên vợ tôi bỏ đi và đã chuyển hộ khẩu đi. Hiện tôi và vợ tôi đang có hai hộ khẩu khác nhau, hiện tại tôi muốn được ly hôn, vậy nếu chúng tôi không ở cùng nhau thì sẽ nộp đơn xin ly hôn ở đâu?
Rất mong Luật sư tư vấn, giải đáp, xin cảm ơn Luật sư!

Chồng ở một nơi, vợ ở một nơi khi ly hôn phải nộp đơn ở đâu ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về ly hôn, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì có 02 trường hợp ly hôn là ly hôn thuận tình và ly hôn đơn phương, hai trường hợp này có sự khác biệt về nơi nộp đơn xin ly hôn, cụ thể như sau:

1. Ly hôn thuận tình:

Ly hôn thuận tình là sự thỏa thuận giữa vợ và chồng, trong đó vợ chồng đều đồng ý ly hôn và thỏa thuận được các vấn đề về tài sản, quyền nuôi con.

Thuận tình ly hôn được quy định tại điều 55, Luật hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Nếu hai vợ, chồng đồng thuận ly hôn thì có thể nộp đơn và hồ sơ ly hôn lên Tòa án nhân dân quận/huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng. Có nghĩa là khi ly hôn thuận tình bạn có thể nộp ở chỗ chồng hoặc chỗ vợ đang sinh sống, nộp ở một trong hai nơi đó.

2. Ly hôn theo yêu cầu một bên (ly hôn đơn phương):

Ly hôn theo yêu cầu một bên, còn được gọi là ly hôn đơn phương là việc vợ hoặc chồng muốn ly hôn với người còn lại, mà người còn lại không đồng ý cho ly hôn.

Đơn phương ly hôn được quy định tại điều 56, Luật hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Như vậy khi một bên yêu cầu ly hôn phải đảm bảo thuộc điều kiện ly hôn trong Luật quy định, khi thuộc các trường hợp được ly hôn đơn phương thì bạn sẽ nộp đơn và hồ sơ lên Tòa án nhân dân quận/huyện nơi cư trú, làm việc của bị đơn. Co nghĩa là khi một bên yêu cầu ly hôn sẽ phải nộp đơn lên Tòa án nơi người đó đang sinh sống.

Ví dụ: Chị A đang sinh sống ở quận B và chị A muốn ly hôn đơn phương anh C ở huyện D, thì chị A phải đến tòa án nhân dân huyện D để nộp đơn ly hôn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sựa hợp tác!

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Vì sao án ly hôn ở Thành Phố Hồ Chí Minh tăng mạnh ?

Theo TAND TP.HCM, năm qua lượng án hôn nhân-gia đình tăng đột biến so với các năm trước. Qua các vụ việc cụ thể, những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này đã được chỉ ra: Vợ chồng bất đồng trong lối sống, suy nghĩ; nạn bạo lực gia đình; thiếu kỹ năng chung sống…

Nhiều cặp vợ chồng trẻ trình độ học vấn cao, có thừa kiến thức xã hội, kỹ năng nghề nghiệp, giao tiếp… nhưng lại thiếu hiểu biết và kỹ năng tổ chức cuộc sống gia đình.

>> Tải mẫu đơn xin ly hôn

Theo TAND TP, năm qua tình trạng ly hôn nhiều chủ yếu xuất phát từ sự bất đồng trong suy nghĩ, lối sống giữa vợ chồng.

Bất đồng trong lối sống

Chẳng hạn như chuyện của vợ chồng anh T. ở quận Gò Vấp. Họ lôi nhau ra tòa, khăng khăng xin ly hôn cho bằng được chỉ vì ganh nhau trong những việc rất nhỏ như ai nấu cơm, ai đón con… Vợ thì nói không bao giờ chồng làm giúp một chút việc nhà dù là nhỏ nhất như quét nhà, vứt rác, hay đi đón con… Anh lại bảo rằng “những việc đó là thiên chức của người phụ nữ Việt Nam, có gì mà làm lớn chuyện”… Mâu thuẫn cứ chất chồng theo ngày tháng, cuối cùng họ quyết định chia tay nhau.

Vụ khác, tháng 6-2009, TAND quận Phú Nhuận từng giải quyết ly hôn cho một cặp vợ chồng trẻ chỉ vì cô vợ chê chồng không còn ga lăng, tâm lý như hồi còn đang yêu. Cô bảo: “Ngày chưa lấy nhau anh ấy lãng mạn lắm, hay kiếm cớ tặng hoa, quà cho em và thường nói những lời yêu thương ngọt ngào. Giờ lấy được nhau rồi thì cộc cằn, thậm chí ngày 8-3 còn bỏ đi nhậu”…

Bạo hành gia đình

Tại những quận, huyện vùng ven của TP, tình trạng bạo hành gia đình còn diễn ra mà nạn nhân hầu hết vẫn là phụ nữ. Không chỉ bị bạo hành về mặt thể chất, nhiều người còn bị bạo hành về tinh thần như chồng ngang nhiên cặp bồ, rẻ rúng, khinh thường, lạnh nhạt… Chính vì vậy mà hiện nay phụ nữ có xu hướng chủ động xin ly hôn nhiều hơn nam giới.

Chung sống với vợ hơn 10 năm, có với nhau ba mặt con, bất ngờ ông H. (huyện Cần Giờ) đổi tính trăng hoa, quan hệ tình cảm với người khác. Phát hiện ra, vợ ông và các con ra sức can ngăn, khuyên nhủ. Không những ông H. không thay đổi mà còn thường xuyên gây gổ, đánh đập vợ. Một lần bà bị ông đánh gãy tay nên uất ức làm đơn xin ly hôn. Nhìn hai ông bà nông dân gầy gò, tóc đã muối tiêu lếch thếch dắt nhau ra tòa, ai cũng ái ngại.

Một vụ khác xảy ra ở huyện Bình Chánh: Bản tính cộc cằn, gia trưởng, từ ngày cưới nhau về, anh B. thường xuyên chửi bới, đánh đập vợ. Có lần người vợ báo chính quyền và anh B. đã bị xử phạt hành chính về hành vi bạo lực với vợ nhưng vẫn không chừa. Dù đã cố gắng nín nhịn chịu đựng những cái tát tai của người chồng vũ phu để nuôi hai con nhưng đến một ngày, người vợ cũng phải đâm đơn xin ly hôn vì không thể sống mãi trong “địa ngục trần gian” được nữa.

Một thẩm phán chuyên xử án hôn nhân kể: Có một cặp, chồng ở nhà trông con, vợ vất vả buôn bán xoay sở đủ kiểu để lấy tiền nuôi gia đình. Thấy vợ quan hệ rộng, người chồng ghen tuông, thường kiếm cớ gây lộn. Ghen không xong, người chồng sinh ra chán nản, rượu chè suốt ngày để cản trở việc buôn bán của vợ. Cuối cùng, người vợ cũng phải xin ly hôn.

Thiếu kỹ năng chung sống

Một thực tế khác khi giải quyết án ly hôn được ngành tòa án TP vạch ra là độ tuổi xin ly hôn ngày càng trẻ hóa. Nhiều cặp vợ chồng trẻ trình độ học vấn cao, có thừa kiến thức xã hội, kỹ năng nghề nghiệp, giao tiếp… nhưng lại thiếu hiểu biết và kỹ năng tổ chức cuộc sống gia đình.

Chẳng hạn như trường hợp của vợ chồng anh C. Lúc chưa lấy nhau, anh C. làm nghề kinh doanh tự do, còn cô vợ là sinh viên năm cuối. Họ quen nhau trên mạng bằng những cuộc chat thâu đêm suốt sáng, cuối cùng phải cưới vội vì nhiều lần… “trót dại”. Cuộc hôn nhân này kéo dài chẳng được bao lâu vì anh C. thì vẫn ham vui nhậu nhẹt, cô vợ lại ức chế vì học hành dở dang, còn trẻ mà đã phải con bồng con bế, không được đi du lịch chỗ này chỗ kia… Cuối cùng, cả hai nộp đơn ra tòa xin “đường ai nấy đi”.

Tháng 3-2009, TAND quận Phú Nhuận cũng phải giải quyết ly hôn cho một cặp vợ chồng trẻ măng vì không hợp nhau. Họ kết hôn khi người vợ chưa đầy 20 tuổi và sinh được một con chung. Sau hơn một năm chung sống, cả hai mới nhận ra rằng quyết định đi đến hôn nhân của mình là quá vội vàng vì họ chẳng hiểu gì về nhau cả. Cứ hễ chồng thích ăn món gì thì vợ không thích, còn vợ thích mặc quần áo màu gì thì người chồng lại dị ứng khiến cả hai bất hòa trầm trọng…

Theo Phó Chánh án TAND TP Huỳnh Ngọc Ánh, trong năm qua đã xuất hiện trường hợp nguyên đơn là người nước ngoài hoặc Việt kiều về nước xin ly hôn với công dân Việt Nam (21 vụ). Đây là những trường hợp hoàn toàn mới và việc giải quyết án sẽ vất vả, kéo dài hơn thông thường vì phải công chứng, chứng thực đơn, tài liệu, phiên dịch tại tòa…

Ông Ánh nhìn nhận án ly hôn là loại án có số lượng cao nhất, năm sau luôn cao hơn năm trước nhưng ngành tòa án TP đã nỗ lực cao và chủ động gỡ vướng nên lượng án tồn, án quá hạn rất ít (63 vụ).

 Theo một cuộc khảo sát mới đây của Trung tâm Tư vấn giáo dục tâm lý thể chất TP.HCM, ly hôn vì bất đồng trong cá tính, suy nghĩ, quan điểm chiếm tỉ lệ cao nhất (39,5%).

Tại buổi báo cáo đề tài này, Tiến sĩ Mai Ngọc Luông cho rằng đây là sự thay đổi tất yếu trong xã hội đô thị. Cá tính của những trí thức trẻ đã thể hiện rõ nét hơn, họ dám trung thực với bản thân hơn trong nếp sống và suy nghĩ của mình.

Theo Tiến sĩ Luông, cá tính mạnh trong cuộc sống hiện đại thì rất tốt nhưng nó lại là kẻ thù của hôn nhân vì người ta dễ tự do thể hiện cá tính mà thiếu sự nhường nhịn lẫn nhau.

Theo kết quả nghiên cứu khoa học mới công bố về tình trạng ly hôn của thanh niên trên địa bàn TP.HCM của nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Tài (Trung tâm Tư vấn giáo dục tâm lý thể chất TP.HCM), hiện nay cứ bình quân 2,7 cặp kết hôn thì có một cặp ly hôn. Độ tuổi ly hôn dưới 30 chiếm tỉ lệ cao và năm sau luôn tăng hơn năm trước.

Cũng theo khảo sát này, 43,4% cảm thấy cuộc sống của mình thoải mái, tự do hơn sau khi ly hôn.

Theo một kết quả nghiên cứu được công bố năm 2008 của Tiến sĩ Nguyễn Minh Hòa (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM), tỉ lệ ly hôn ở Việt Nam tăng nhanh và chiếm 31%-40%, nghĩa là cứ ba cặp kết hôn thì có một cặp ly hôn.

Từ đó, báo cáo kết luận: Tuổi thọ hôn nhân ở Việt Nam càng ngày càng giảm.

Theo thống kê của các trung tâm tư vấn tình yêu hôn nhân gia đình ở TP.HCM, số người đến tư vấn ly hôn chiếm đến 70% trong các ca tư vấn.

Luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?