1. Ly hôn và sự thỏa thuận nuôi mỗi người một con ?

Chào luật sư. Hiện tại vợ chồng tôi muốn thuận tình ly hôn với lý do tôi và gia đình vợ nhiều mâu thuẫn. Vợ tôi không muốn ra ở riêng với tôi mà chỉ muốn ở nhà mẹ vợ.
Vợ chồng tôi có 2 con nhỏ (5 tuổi và 8 tháng đang ở với mẹ). Chúng tôi đã sống ly thân 10 tháng, không có tài sản chung, tôi đang ở trọ và làm việc tại Vũng Tàu với mức lương 5 triệu. Vợ tôi không có việc làm và đang ở nhà mẹ ở Nha Trang.Trình độ tôi đã tốt nghiệp 12, vợ chưa tốt nghiệp cấp 2. Tôi muốn xin luật sư tư vấn về quyền nuôi con khi ly hôn. Tôi muốn nuôi đứa lớn 5 tuổi, vợ tôi nuôi đứa nhỏ 8 tháng và không phụ cấp nuôi con qua lại. Vậy tỉ lệ tôi được nhận nuôi con 5 tuổi cao không ạ?
Mong luật sư tư vấn giúp tôi. Xin chân thành cảm ơn ạ.

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, theo quy định trên, con nhỏ của bạn mới 8 tháng tuổi do đó người mẹ sẽ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, trừ khi hai bạn thỏa thuận về việc ai sẽ là người nuôi con sau khi ly hôn.

Đối với con 5 tuổi thì tòa án sẽ dựa trên những điều kiện về vật chất và cả tình thần của 2 vợ chồng, ai đáp ứng được cho con những điều kiện tốt hơn thì được giành quyền nuôi con. Việc vợ bạn đang nuôi 1 con nhỏ thì có thể bị hạn chế về điều kiện nuôi con thứ 2 vì việc nuôi đồng thời 2 con sẽ khó khăn. Tuy nhiên việc nuôi con 5 tuổi thì mình dựa trên những điều kiện sau:

Căn cứ về điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập… mà mỗi bên dành cho con, yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;

Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm dành cho con, điều kiện cho con vui chơi giải trí, trình độ học vấn… của cha mẹ.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Bài viết tham khảo thêm: Tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí và trả phí qua Email

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Ly hôn khi vợ bêu rếu tình cũ của chồng trên facebook ?

Kính gửi luật sư Minh Khuê, em muốn nhờ luật sư tư vấn giúp về hôn nhân của người anh trai. Anh trai đã kết hôn và sinh được một đứa con gái khoảng 4 tuổi. Cuộc sống gia đình anh trai thì khá khó khăn về kinh tế, hai vợ chồng đang có khoản nợ chung khoảng vài chục triệu, anh thường đi làm thuê xa nhà, thời gian ở chung với vợ là rất ít. Cách đây khoảng một năm, trong lúc xa nhà, anh có quen và yêu cô gái khác.

Và anh có nói rõ chuyện này với chị dâu, rằng anh yêu cô gái đó và muốn chị dâu khoan dung chấp nhận vì trước đây anh cưới chị dâu không phải vì tình cảm 2 bên. Do đó, anh trai cũng đã nói hết mọi thông tin về cô bồ cho chị dâu biết (số điện thoại, nơi ở, ....). Và dù yêu người khác nhưng anh trai em vẫn thực hiện tốt trách nhiệm với con gái, chu cấp tiền nuôi con. Anh không bỏ vợ con, nhưng chỉ muốn được yêu thương luôn cả cô gái kia. Chị dâu em không đồng ý, và thường xuyên điện thoại, nhắn tin chửi bới cô bồ của anh trai. Chị dâu cũng kêu gọi họ hàng hai bên khuyên nhủ anh trai, chửi mắng cô gái kia....

Hiện tại thì chị dâu còn đăng cả hình của cô gái kia lên mạng xã hội, bêu rếu cô ấy. Do đó, tình cảm vợ chồng anh trai bị sứt mẻ ngày càng nghiêm trọng hơn. Hiện tại anh trai muốn ly hôn, để chị dâu không có cớ để bêu rếu người yêu, và mắng chửi chồng với làng xóm, và mạng xã hội. Nhưng theo ý của chị dâu thì không muốn nhường bước, chị dâu không muốn ly hôn để chồng và cô gái kia thuận lợi đến với nhau. Theo gia đình em biết thì sắp tới tội ngoại tình sẽ bị phạt tù, nếu bị tù tội thì tương lai của anh trai em sẽ bị ảnh hưởng nhiều. Mặc dù anh ấy chủ quan nghĩ rằng chị dâu không kiện tụng, vì anh đi tù thì chị dâu không đủ khả năng nuôi con, nhưng gia đình em rất lo. Rất mong luật sư tư vấn giúp em xem có cách nào dể giải quyết ổn thỏa chuyện gia đình em không ạ?

Em xin chân thành cảm ơn !

Tư vấn ly hôn khi vợ bêu rếu tình cũ của chồng trên facebook ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến gọi : 1900.6162

Trả lời:

Khoản 2 Điều 5, Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

“2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;…”

Do đó, trong trường hợp anh bạn và chị dâu chưa ly hôn nhưng anh bạn đã có hành vi chung sống với người phụ nữ khác nên anh trai bạn đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì thế, anh bạn có thể bị xử lý theo quy định của Pháp luật về hành vi vi phạm pháp luật của mình.

Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

e) Kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Tại Điều 147 Bộ Luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định:

“Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm”.

Trong trường hợp của anh bạn, theo quy định của pháp luật hiện hành thì sẽ bị sử phạt theo các quy định nêu trên. Tuy nhiên khi Bộ Luật Hình sự 2015 có hiệu lực, nếu vẫn nhất quyết ly hôn thì anh bạn có thể bị khép vào tội vi phạm chế độ một vợ một chồng quy định tại Điều 182 Bộ Luật Hình sự 2015 cụ thể như sau:

Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

+ Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn.

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát.

+ Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Vì anh trai của bạn đã vi phạm chế độ một vợ một chồng nên việc bị xử lý theo quy định của Pháp luật là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên mức độ xử phạt nặng hay nhẹ và anh bạn có phải chịu trách nhiệm hình sự về vi phạm trên hay không còn tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của vi phạm. Anh bạn vẫn có thể làm đơn xin ly hôn đơn phương đồng thời chấp nhận những hậu quả pháp lý nêu trên vì hậu quả ly hôn là do lỗi mà anh của bạn gây ra. Trong trường hợp này, tốt nhất là anh của bạn nên chấm dứt quan hệ hôn nhân bất hợp pháp với cô gái kia để không vi phạm pháp luật hình sự dẫn đến phải chịu hình phạt tù.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu ly hôn và vấn đề trợ cấp nuôi con ?

Chào anh/chị Công ty luật Minh Khuê. Trước tiên rất cảm ơn anh/chị đã dành time đọc thư này của em. Hiện em đang gặp chuyện rắc rối trong hôn nhân và cũng chưa hiểu nhiều về Luật HNGĐ, vì vậy rất mong được lời tư vấn của anh/chị.

Vợ chồng em có HKTT ở P.Mai Dịch, Q.Cầu Giấy, em muốn đơnn phương ly hôn với chồng và đã đầy đủ giấy tờ nộp lên Tòa Cầu Giấy, Tòa không nhận và yêu cầu em đưa đơn về P.Mai Dịch xin dấu xác nhận. Khi em nộp đơn ở P.Mai Dịch, cán bộ tư pháp ko tiếp nhận đơn của em, lý do vợ chồng em bán nhà và chuyển về nhà mới mua thuộc P.Mỹ Đình1 từ tháng 10/2014 (chưa khai báo tạm trú ở P.Mỹ Đình1), cán bộ TP bảo em phải về P.Mỹ Đình1 xin xác nhận và nộp đơn lên Tòa Q.Nam Từ Liêm, còn P.Mai Dịch ko giải quyết.

Vậy theo Luật, P.Mai dịch có thẩm quyền giải quyết vụ việc của em ko khi mà em vẫn có HKTT ở phường Mai Dịch? cán bộ Tp đó làm đúng hay sai, em có nên làm đơn khiếu nại ko ah, và nộp đơn khiếu nại lên cơ quan nào ? Hiện tại vợ chồng em đang sống ly thân đc 4th, em về nhà ngoại ở (Đông Anh), em có cần phải khai báo tạm trú tạm vắng ở P.Mỹ Đình1 ko ah? (em về nhà mẹ từ khi bắt đầu chuyển nhà). Vợ chồng em có 1 con gái hơn 3 tuổi và ko có tranh chấp về tài sản. Nếu em nuôi con, chồng em có trách nhiệm trợ cấp nuôi con ko ah, và ngược lại em có phải trợ cấp hàng tháng nếu chồng em nuôi con ko? Em muốn hỏi thêm, đơn ly hôn em xin mẫu trên Tòa, trong đơn em nên viết địa chỉ nơi ở khi ly hôn là nơi hiện tại em đang ở Đông Anh thì có đc ko ah?, nếu viết sai mà tẩy xóa bằng bút xóa thì Tòa có chấp nhận thụ lý đơn không ah?

Rất mong được sự trả lời tư vấn của anh/chị sớm.

Em xin cảm ơn!

Thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu ly hôn và vấn đề trợ cấp nuôi con?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn theo luật hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Về vấn đề tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bạn.

Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy đinh:

Điều 53. Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn

1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

Điềm a khoản 1 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định như sau

Điều 33. Thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

1. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này;

Như vậy, vấn đề của chị sẽ do tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì: "Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân". Như vậy, chị cần nộp đơn về tòa án huyện, thành phố thuộc tỉnh nơi chồng chị đang cư trú, làm việc. Sau khi nộp đơn Tòa án sẽ thụ lý và hướng dẫn chị về xã, phường để xin xác nhận của địa phương.

- Về vấn đề cấp dưỡng cho con

Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Như vậy, nếu chị nuôi con thì chồng chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, và ngược lại, nếu chồng chị nuôi con thì chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

- Về mẫu đơn ly hôn:

Chị xin đơn ly hôn mẫu trên Tòa, trong đơn chị có thể viết địa chỉ nơi ở khi ly hôn là nơi hiện tại em đang ở Đông Anh, nếu viết sai mà tẩy xóa bằng bút xóa thì chị cần viết lại đơn khác cho hoàn chỉnh, không tẩy xóa (Tải mẫu đơn xin ly hôn)

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Tư vấn giải quyết nợ nần sau ly hôn ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Vợ chồng tôi cưới nhau từ năm 1999 đến nay đã có 2 con 16 và 7 tuổi. Do thua lỗ trong làm ăn và những chi tiêu không hợp lý, chồng tôi chơi bời cờ bạc vay nợ lãi ngày nên năm 2006 gia đình tôi vỡ nợ. Vì cùng là viên chức nhà nước nên chúng tôi bàn nhau cùng cố gắng vay mượn của mọi người thân quen, đồng nghiệp, ngân hàng để trả nợ.

Trong đó tôi đã đứng ra vay của ngân hàng sau đó là người thân, vay lãi xuất thấp của người quen rất nhiều để trả nợ cho anh ấy nhưng vì tin cậy tôi nên một số người không bắt chồng tôi phải kí giấy tờ. Còn với anh em trong gia đình chúng tôi chỉ nói miệng. Nhưng do số nợ khá lớn, sau đó chồng tôi cũng không có ý thức giúp tôi trả nợ và đồng lương của tôi không đủ trang trải cả sinh hoạt lẫn nợ nần, lương của chồng tôi thời điểm cao nhất khoảng 2 đến 2,5 triệu trả qua thẻ ngân hàng mà vẫn phải trừ tiền vay tín chấp của ngân hàng trong thời gian dài nên cứ như vậy số nợ ngày càng nhân lên, tôi phải vay chỗ nọ trả chỗ kia và số tiền ngày càng nhiều. Có thời điểm tôi phải vay mượn đi bán hàng đêm nhưng thu nhập thấp lại phải một mình lo tất cả nên âm vào tiền vốn và tiếp tục mắc nợ chồng chất. Mâu thuẫn ngày càng lớn mà ý thức gia đình cũng như máu cờ bạc của anh ấy không thay đổi, chồng tôi nhiều lần lạm dụng tiền cơ quan. Cũng sau nhiều lần vay mượn trả để anh ta không bị đuổi việc thì năm 2012 anh ta cũng mất việc. Trong thời gian này anh ta có quan hệ bất chính nên càng mâu thuẫn nặng kết quả anh ta chuyển về quê ở chúng tôi gần như ly thân và anh hoàn toàn không còn có trách nhiệm với gia đình nữa. Con lớn của tôi vì bất mãn không tập chung học hành và quậy phá nên giữa năm 2013 tôi chuyển cháu về quê học ở với bố nhưng nhiều khi vẫn phải hỗ trợ tiền cho 2 bố con. Đến nay, chúng tôi quyết định ly hôn. Tôi hoàn toàn mong muốn có thể thỏa thuận tránh phải căng thẳng mệt mỏi, tốn kếm lại ảnh hưởng tâm lí con cái nhưng bằng hiểu biết của tôi về anh ấy thì dù có dễ dàng nhận và hứa trả anh ta cũng không bao giờ chịu thực hiện. Vì tài sản chung không có, đất 2 bên nội ngoại cho cũng đã bán để trả nợ. Tiền vay nợ còn rất nhiều nhưng hầu hết do tôi kí vay, bố chồng tôi mới mất di chúc cho chồng tôi mảnh đất ông bà đã ở nhưng bìa đỏ chưa tách khỏi đất chung với anh chị chồng và vẫn mang tên bố chồng tôi (chị tôi đang giữ vì anh ta cũng vay tiền của chị)

Vậy xin hỏi luật sư chồng tôi có trách nhiệm trả nợ cùng tôi không và tôi phải làm như thế nào? Tôi có quyền cùng hưởng tài sản do bố chồng tôi cho chồng tôi không? Tôi có tìm hiểu thì biết tôi phải chứng minh được tiền nợ ấy là chi phí cho nhu cầu thiết yếu của gia đình nhưng do quá trình vay nợ kéo dài lại thay đổi nhiều chủ nợ nên việc ấy rất khó. Nếu bất đắc dĩ phải nhờ sự phân định của tòa án tôi có phải chịu tiền án phí cho số tiền ấy không?

Hiện nay kinh tế của tôi vô cùng khó khăn tôi không có khả năng chi trả số tiền lên đến vài triệu nên xin Luật sư làm ơn tư vấn giúp tôi để tôi có thể giải quyết mọi việc nhanh gọn hiệu quả và ít tốn kếm nhất.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: L.T

Tư vấn giải quyết nợ nần sau ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, vợ chồng có nghĩa vụ chung về tài sản trong những trường hợp sau đây:

"Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan."

Do đó, với trường hợp của bạn, bạn không có nghĩa vụ phải trả nợ đối với các khoản nợ do chồng bạn do thua lỗ trong làm ăn và những chi tiêu không hợp lý cũng như nợ nần do cờ bạc vì đây không thuộc trường hợp là nghĩa vụ chung của vợ chồng. Tuy nhiên, hiện tại, các hợp đồng vay tài sản do bạn đứng tên để thực hiện nghõa vụ trả nợ với các khoản vay của chồng. Trong trường hợp này, để yêu cầu chồng bạn trả nợ, bạn có thể lựa chọn các cách xử lý như sau:

Thứ nhất, nếu như bạn chứng minh được rằng các khoản vay của mình là để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì trong trường hợp này, chồng bạn sẽ có nghĩa vụ trả nợ cùng với bạn vì đây thuộc một trong các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng.

Thứ hai, với một số khoản vay để trả nợ cho nghĩa vụ của chồng bạn mà nghĩa vụ đó không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yêu của gia đình hoặc không phải do vợ chồng bạn cùng thỏa thuận xác lập thì trong trường hợp này, bạn có thể yêu cầu chồng bạn phải trả cho bạn các khoản tiền này vì bạn đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho chồng. Do đó, bạn có thể yêu cầu chồng bạn phải hoàn trả lại khoản tiền mà bạn đã trả nợ thay.

Về vấn đề bạn có được hưởng di sản thừa kế của bố chồng bạn hay không thì theo quy định của luật hôn nhân và gia đình 2014, tài sản riêng của vợ, chồng được quy định bao gồm các tài sản sau:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Do đó, nếu mảnh đất do bố chồng bạn để lại chỉ cho riêng chồng bạn thì đây sẽ được xem là tài sản thừa kế riêng của chồng bạn. Bạn sẽ không có quyền hưởng di sản thừa kế của bố chồng bạn trong trường hợp này vì bố chồng bạn đã để lại di chúc định đọat đối với di sản thừa kế của mình.

Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự mà bạn thắc mắc: theo quy định của Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về Án phí, lệ phí tòa án như sau:

"Điều 27. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm

1. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận.

2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

3. Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận.

4. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận.

5. Bị đơn có yêu cầu phản tố phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố không được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận.

6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận. Người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập được Tòa án chấp nhận.

7. Mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản, phần di sản mà họ được hưởng, được chia trong trường hợp các bên đương sự không tự xác định được phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản mà mình được hưởng trong khối di sản thừa kế và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế đó.

8. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

9. Các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài việc chịu án phí dân sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 của Pháp lệnh này, còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia.

10. Người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ theo quyết định của Tòa án phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch.

11. Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí quy định.

12. Trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án đó.

13. Trong vụ án có người không phải nộp hoặc được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm thì những người khác vẫn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều này."

Do đó, với trường hợp của bạn, về việc bạn có phải chịu án phí tòa án hay không còn phụ thuộc vào việc yêu cầu của bạn có được tòa án chấp nhận hay không. Nếu yêu cầu của bạn được tòa án chấp nhận thì bạn sẽ không phải chịu án phí mà sẽ do chồng bạn chịu và ngược lại.

Tuy nhiên, nếu bạn phải chịu án phí do yêu cầu không được chấp nhận thì bạn có thể chứng minh mình thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về Án phí, lệ phí tòa án như sau:

"Điều 11. Miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí

Những trường hợp sau đây được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí:

1. Người khởi kiện vụ án hành chính là thương binh; bố, mẹ liệt sỹ; người có công với cách mạng.

2. Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;

3. Người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự;

4. Người khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh;

5. Cá nhân, hộ gia đình thuộc diện nghèo theo quy định của Chính phủ;

6. Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm."

Vì thế nếu bạn thuộc diện hộ nghèo theo quy định của chính phủ thì bạn sẽ không phải chịu án phí kể cả trong trường hợp bạn không được tòa án chấp nhận yêu câù của mình.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn 1900.6162.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Chưa ly hôn mà kết hôn với người khác có được không ?

Thưa Luật sư, con tên đầy đủ là Ngô Ngọc A sinh năm 2001 hiện tại đang sống ở thành phố A Con muốn kể cho luật sư nghe câu chuyện sau: "Bố con và mẹ con không sống chung với nhau từ lúc con còn rất nhỏ, họ không ly hôn. Nghĩa là hiện tại mặc dù bố mẹ con không sống chung nhưng trên cơ bản mẹ và bố là hôn nhân hợp pháp có trên giấy tờ.Bố con đã sống chung với một người phụ nữ khác.
Bố con đã sống chung với một người phụ nữ khác. Vấn đề ở đây là trên giấy tờ bố và mẹ con vẫn là vợ chồng hợp pháp nhưng tại sao bố con lại có thể đăng ký kết hôn với người đó được? Bố không cho con ở chung với bố vì mẹ kế con không thích, hiện tại con không biết nương tựa ai. Con muốn đưa tất cả mọi chuyện ra trước pháp luật để giải quyết. Con không biết có ai nhận con làm con nuôi không ?
Luật sư có thể tư vấn giúp con được không ạ? Xin chân thành cảm ơn Luật sư.
Người gửi: N.N

Thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu ly hôn và vấn đề trợ cấp nuôi con?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Theo Luật hôn nhân và gia đình 2014 hiện nay bố mẹ bạn vẫn được coi là kết hôn hợp pháp dựa trên giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của 2 người. Việc bố bạn chung sống với người khác chỉ là chung sống như vợ chồng chứ không được coi là kết hôn hợp pháp.

- Nếu như bố mẹ bạn không chung sống với nhau từ rất lâu rồi thì 2 bên có thể tiến tới thỏa thuận ly hôn thuận tình hoặc ly hôn đơn phương theo yêu cầu 1 phía.

- Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

+ Mẫu đơn xin ly hôn.

+ Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có Sao y bản chính).

+ Bản chính giấy chứng nhận kết hôn (nếu có), trong trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải trình bày rõ trong đơn.

+ Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con).

+ Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

+ Nếu hai bên kết hôn tại Việt Nam, sau đó vợ hoặc chồng xuất cảnh sang nước ngoài (không tìm được địa chỉ) thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương về việc một bên đã xuất cảnh và đã tên trong hộ khẩu.

+ Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn xin ly hôn.

Thời hạn xét xử: Từ 3 đến 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.

Thẩm quyền giải quyết: Tòa án nhân dân quận huyện (nơi đăng ký hộ khẩu của vợ hoặc chồng)

- Khi bố mẹ đưa đơn ra tòa, một trong hai bên sẽ có nghĩa vụ trực tiếp nuôi con khi con chưa thành niên( chưa đủ 18 tuôi), còn bên còn lại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

Những điều cần lưu ý:

- Ở đây sẽ không đặt ra việc nhận nuôi vì cha hoặc mẹ sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng bạn.

- Người trực tiếp nuôi con nếu như bố mẹ không thỏa thuận được thì Tòa sẽ xác định người nuôi con dựa trên luật hôn nhân và gia đình 2014.

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn luật Hôn nhân - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?