Lý lịch tư pháp là Ly lịch tư pháp là những thông tin về tình trạng pháp lí của một cá nhân do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho những người có yêu cầu nhằm xác định người đó có hoặc không có tiền án.

Lý lịch tư pháp được chính thức ghi nhận ở Việt “Về lí lịch tư pháp Đông Dương ban Lí lịch tư pháp được chính th Nam bởi đạo luật ngày 5.8.1899 và phục quyền” do toàn quyền hành áp dụng tại Việt Nam.

Từ đó ở Việt Nam, mỗi cấp Toà án đều có Từ đó, c ăng lập, lưu trữ và cấp lÍ Phòng Lục sự với chức n n lịch tư pháp, lí lịch tư pháp được lập khi một người đã có án và án đó đã có hiệu lực pháp luật. Lí lịch tư pháp được lưu giữ và quản lí theo nơi sinh của đương Sự.

Nội dung của lí lịch tư pháp, ngoài phần ghí những đặc điểm về hộ tịch như họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, trú quán, tên của bố, mẹ, vợ, chồng, con còn phải ghỉ đầy đủ các yếu tố của bản án đã tuyên như: tội danh, hình phạt, ngày, tháng, năm xét xử, Toà án nơi nào xét xử...

Lí lịch tư pháp được lập thành 3 phiếu (phiếu số 1 - gọi là chính phiếu, phiếu số 2 - gọi là quan phiếu, phiếu số 3 - gọi là thân phiếu). Mỗi phiếu có những nội dung ghi chép và cấp phát cho những đối tượng khác nhau.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Hồ Chủ tịch đã kí Sắc lệnh ngày 10.10.1945 cho phép áp dụng tạm thời các luật lệ của chế độ cũ nếu xét không trái với những mục tiêu cơ bản của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà. Tiếp theo, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng đã kí Sắc lệnh số 13/SL ngày 24.01.1946 về tổ chức Toà án và ngạch Thẩm phán của nước ta. Trong văn bản này đã có quy định mỗi ban tư pháp xã có một thư kí giữ công việc lục sự, mỗi Toà sơ cấp có 01 Lục sự, Toà án đệ nhị cấp có một Chánh lục sự và các thư kí giúp việc, ở Toà Thượng thẩm có 01 Chánh lục sự và các Lục sự. Trong số các nhiệm vụ của Lục sự có nhiệm vụ lập và quản lí lí lịch tư pháp.

Tuy nhiên, vì đất nước mới giành được độc lập, do đó chính quyền cách mạng non trẻ phải lo toan trăm bề, một mặt vừa lo kháng chiến chống giặc ngoại xâm, mặt khác lo kiến thiết xây dựng đất nước nên hoạt động của ngành Tư pháp cũng gặp nhiều khó khăn, và công tác lí lịch tư pháp cũng không có điều kiện đầu tư và chú trọng đúng mức.

Sau đó, ngày 02.11.1955, Bộ Tư pháp và Bộ Công an đã ban hành Thông tư liên Bộ số 1909- VHC về việc theo dõi lí lịch tư pháp và căn cước của bị can và những người bị tình nghỉ. Tại văn bản này, đã xác định tập trung một đầu mối công tác lí lịch tự pháp và căn cước can phạm đều do ngành công an thực hiện. Từ văn bản này, tất cả các hồ sơ, tài liệu về lí lịch tư pháp trước đây do các Lục sự của Toà án lập, lưu trữ đều được chuyển cho ngành công an quản lí.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc cấp phiếu lí lịch tư pháp do Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành. Sở Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với công an cấp tỉnh và trong trường hợp cần thiết với Toà án để xác minh lí lịch tư pháp của đương Sự.

Hồ sơ lí lịch tư pháp bao gồm đơn yêu cầu cấp phiếu lí lịch tư pháp, các giấy tờ kèm theo của đương sự và phiếu xác minh lí lịch tư pháp có ghi kết quả tra cứu hồ sơ của cơ quan công an, kết quả tra cứu hồ sơ của Toà án (nếu có). Phiếu lí lịch tư pháp chỉ có một loại bản chính, không được phép sao. Tuỳ theo mục đích yêu cầu cấp phiếu lí lịch tư pháp của đương sự, Sở Tư pháp cấp cho đương sự số lượng phiếu cần thiết. Hồ sơ lí lịch tư pháp phải được lưu trữ, bảo quản tại Sở Tư pháp theo quy định của pháp luật về lưu trữ.