1. Mẫu giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng

Công ty Luật Minh Khuê cung cấp Mẫu giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng để quý khách hàng tham khảo và áp dụng trong thực tiễn khi tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương hoặc thuận tình- Thông tin chi tiết vui lòng liên hệ 1900.6162 để được tư vấn, hỗ trợ trực tiếp:

Tham khảo mẫu đơn xin ly hôn liên quan:

1. Mẫu đơn xin ly hôn;

2. Mẫu đơn thuận tình ly hôn;

3. Mẫu đơn xin đơn phương ly hôn;

4. Mẫu giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng;.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------***------

Hà nội, ngày tháng năm 20....

GIẤY XÁC NHẬN

MÂU THUẪN VỢ CHỒNG

Tên tôi là : .........tổ trưởng (hoặc tổ phó)

Tổ…..........… cụm …............... phường ...................

Xác nhận tình trạng hôn nhân của :

Anh (chị)…………..………...............................………

Trú tại:……………………………….............................

Và chị (anh)…………………………............................

Trú tại :………………………………...........................

1. Về tình cảm : (Xác nhận mâu thuẫn vợ chồng )

………………………………………………………….....

……………………………………………...…………….

………………………………………………………….....

…………………………………………………………....

2. Về con : (Xác nhận có mấy con chung, ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh )

………………………………………………………….....

……………………………………………………………..

…………………………………………………………......

………………………………………………………….....

3. Về tài sản và nhà ở chung : ( Xác nhận có tài sản - nhà ở chung hay không ) :

…………………………………………………………......

…………………………………………………………….

…………………………………………………………......

…………………………………………………………......

Xác nhận của UBND phường Tổ trưởng - tổ phó, tổ …cụm…

(UBND phường xác nhận chữ ký Phường…………………

tổ trưởng- tổ phó tổ dân phố) Ký và ghi rõ họ tên




>> Xem thêm:  Xử lý khi cha có hành vi ngoại tình và bạo lực gia đình ? Mức phạt bạo hành gia đình

2. Cách giải quyết mâu thuẫn tài sản chung, riêng của vợ chồng ?

Thưa luật sư! Em đang rất thắc mắc về nội dung như sau xin luật sư giúp em nhé! Phần hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 và phần hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ chồng ở Điều 40 luật này có mâu thuẫn với nhau không?
Em xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định Tài sản chung của vợ chồng như sau :

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Và Điều 40 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau :

"1. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.

2. Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba."

Theo đó ở điều 33 thì đối với các hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài riêng được hình thành trước hôn nhân hoặc được tặng cho thừa kế riêng thì được coi là tài sản chung của hai vợ chồng trong hôn nhân, nhưng tại điều 44 thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài riêng được hình thành từ thỏa thuận chia tài sản chung thì lại được coi là tài riêng. Như vậy mẫu thuận ở đây là cùng là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tìa sản riêng nhưng một cái thì được coi là tài sản riêng một cái lại được coi là tài sản chung.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Bố hay đánh mẹ con cái có quyền can ngăn không ? Việc phòng chống bạo lực gia đình như thế nào để hiệu quả ?

3. Hôn nhân của vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng khi nào ?

Thưa luật sư, tôi muốn ly hôn đơn phương nhưng không biết cách chứng minh cuộc hôn nhân của mình rơi vào trầm trọng dưới cách hiểu của luật hiện nay là gì ? Xin được giải thích rõ. Cảm ơn!

Trả lời:

Về căn cứ giải quyết ly hôn

Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

Theo quy định này, pháp luật cho phép vợ hoặc chồng đơn phương ly hôn. Tuy nhiên, nếu như thuận tình ly hôn thì Tòa án xem xét sự thuận tình, tự nguyện của các bên, còn đơn phương ly hôn thì Tòa án lại xem xét chủ yếu căn cứ mà bên đơn phương ly hôn đưa ra. Điều luật quy định rằng: "hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được".

Hôn nhân của vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình

Chào luật sư Minh Khuê, tôi và vợ tôi chung sống với nhau được 4 tháng thì phát hiện ra vợ tôi bị mắc bệnh tâm thần phân liệt. Trong quá trình yêu nhau do tôi đã không tìm hiểu kỹ về tiểu sử bản thân của vợ tôi. Sau khi cho vợ tôi đi điều trị tại bệnh viện tâm thần giờ vợ tôi đã ổn định trở lại bình thường và hai vợ chồng tôi quyết định ly hôn để giải phóng cho hai bên. Xin công ty luật Minh Khuê cho tôi hỏi là giờ vợ tôi đã ổn định trở lại bình thường khi đưa ra tòa để ly hôn có cần thiết yêu cầu tòa án tuyên bố vợ tôi là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không ? Mặc dù trong đơn ly hôn tôi có viết lý do để ly hôn về bệnh tật của vợ tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn !

-. Với lý do vợ của anh bị bệnh thì chưa hợp lý để tòa án cho ly hôn. Nếu việc chúng sống với nhau có nhiều mâu thuẫn thì anh chị xác nhận mâu thuẫn, vợ anh đồng ý thuận tình ly hôn với anh trong trạng thái minh mẫn, không ép buộc thì tòa cho ly hôn. Việc tuyên vợ anh hạn chế năng lực hành vi dân sự là không cần thiết nếu thời điểm này chị này đã mih mẫn.

Về hồ sơ ly hôn

+ Hồ sơ ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn

- Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

- Bản sao có chứng thực chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng

- Bảo sao giấy khai sinh của con (nếu có)

- Các giấy tờ chứng minh tài sản chung (nếu có).

Bạn có thể tham khảo cách viết đơn xin ly hôn tại đây

+ Nơi nộp hồ sơ :

Hồ sơ xin ly hôn sẽ nộp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết

Về thẩm quyền theo cấp: Tòa án nhân dân có thẩm quyền ở đây là Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

Về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện: Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây: Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình.

Về thẩm quyền theo lãnh thổ: Quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

Về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động."

Thưa Luật Sư, xin tư vấn cho em về việc như sau: Em đăng ký kết hôn vào tháng 8/2015 tại TPHCM. Em có hộ khẩu thường trú tại TPHCM, chồng em hộ khẩu tại Tỉnh Ninh Thuận, Phan Rang. Hiện em đang mang thai 5 tháng. Em muốn làm đơn ly hôn đồng thuận với chồng em ( không có tài sản chung, không có con chung ). Nhưng ba mẹ chồng ở quê không chịu gửi bản sao Hộ Khẩu lên cho em làm thủ tục. Vậy em có thể chuyển qua làm ly hôn đơn phương được không ạ ? Chân thành cảm ơn luật sư

-> Đối với hồ sơ ly hôn, hộ khẩu của anh chị là giấy tờ cần thiết do đó anh chị khi mất hộ khẩu/không tìm được hộ khẩu cần xin giấy tờ xác nhận hộ khẩu tại UBND xã/phường nơi thường trú. Vì ly hô đơn phương anh chị cũng vẫn cần giấy tờ này.

Về thủ tục giải quyết ly hôn

Thời hạn giải quyết:

+ Trong vòng 5 ngày từ ngày nhận được hờ sơ hợp lệ của bạn thì tòa án sẽ tiến hành thu lý đơn của bạn và thông báo nộp tiền án phí cho hai vợ chồng bạn

+ Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thì hai vợ chồng bạn phải tiến hành nộp án phí.

+ Thời gian chuẩn bị xét xử đối với vụ án ly hôn là 4 tháng, trong vòng 4 tháng này thì tòa án sẽ gửi thông báo mời hai bạn đến hòa giải, trường hợp hòa giải không thành thì tòa án sẽ ra quyết định hòa giải không thành.

+ Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày có quyết định hòa giải không thành tòa án sẽ ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn cho hai vợ chồng bạn.

Cháu chào luật sư ạ . Sau đây cháu có câu hỏi nhờ luật sư tư vấn. Vợ chồng em gái cháu ly thân gần hai năm nay, chồng nó trốn sang Trung Quốc gần hai năm nay. Em gái cháu muốn viết đơn ly hôn, hai vợ chồng em nó có chung nhau một đứa con gái, năm nay được 7 tuổi. Hai vợ chồng không có tài sản chung. Em nó đã viết đơn và gửi lên tòa án huyện và được tòa án huyện hướng dẫn là phải thông báo lên truyền hình là thông báo chồng em nó mất tích . Sau thời gian là hai năm mới được giải quyết. Em cháu đã làm như tòa án huyện yêu cầu. Và người của tòa án huyện thu của em cháu một khoản tiền là 6 triệu nói là tiền án phí khi người này bảo em cháu nộp tiền mà không có hoá đơn thu tiền. Vậy cháu muốn nhờ luật sư tư vấn giúp cho cháu biết quy trình mình muốn đơn phương xin ly hôn là như thế nào ? Và người của tòa án thu tiền như vậy có đúng quy định của tòa án không ạ. Cháu xin chân thành cảm ơn luật sư ạ.

Hiện nay việc có mặt của chồng chị là yếu tố cần thiết để giải quyết ly hôn. Nếu có được thông tin của bị đơn tòa án sẽ tiến hành tống đạt giấy tờ triệu tập. Theo quy định bộ luật tố tụng dân sự thì "Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Toà án giải quyết vắng mặt bị đơn." Nếu chồng chị được tuyên là mất tích thì tòa án cũng xác định tuyên một người là mất tích và cho ly hôn.

Gửi Công ty Luật Minh Khuê, Tôi sinh năm 1985, đã có một bé gái 27 tháng tuổi (hơn 2 tuổi). Tôi đang ly thân với chồng, và đang muốn làm thủ tục ly hôn.Trong suốt quá trình nuôi con, chồng tôi không hỏi thăm và chăm sóc .Nên tôi muốn anh ta từ bỏ quyền làm cha đối với con gái tôi, và đổi họ cho nó. Điều này anh ta cũng sẵn sàng làm. Tôi muốn tư vấn về thủ tục giải quyết ly hôn (chồng cũ của tôi đồng thuận, tuy nhiên cả hai không trực tiếp liên hệ) Ngoài ra thủ tục từ bỏ quyền làm cha và đổi họ cho con gái tôi thế nào ? Chân thành cảm ơn.

Theo quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2014

"Điều 88. Xác định cha mẹ con

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Điều 89. Xác định con

1. Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.

2. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình."

Vậy nếu là con ruột, là cha ruột thì sẽ không có căn cứ để từ bỏ quyền làm cha theo quy định cảu pháp luật. Nếu có căn cứ như giấy ADN, xác nhận không là cha con ruột thì mới được tòa án xem xét.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Mọi vướng mắc xin vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Chia tài sản sau ly hôn theo quy định mới nhất năm 2020

4. Mâu thuẫn trần trọng chia nhà ở khi ly hôn ?

Kính thưa luât sư!. Câu chuyên của em là thế này. Năm 1996 em đã kết hô và năm 1998 em sinh bé trai. Tới năm 2001 thì cha mẹ chồng em có cho một mảnh đất. Và cha me đẻ em cũng cắt cho em 5m2 dất mặt tiền để vợ chồng em cất nhà. Khi cất nhà xong chồng em xin cha me em tách sổ đỏ. Cha me em đã làm giấy tay sang đất là có tên vợ chồng em. Ký giấy xong chồng em mượn sổ đỏ của cha me em đưa ra chính quyền xã tách sổ dỏ.
Vi gia đình em cha me hiền lành. Và lúc đó em cũng không nghĩ gì việc để chồng em đi làm giấy một mình. Vi chồng em làm việc trong xã nên chồng em tư di làm. Tới khi chồng em đưa sổ đỏ đã tách riêng về. Thì không có mang tên em mà lại là tên chồng em và em có hỏi chồng em tai sao lai là tên anh mà không phải là tên em. Chồng em nói ai đứng tên không quan trong. Và em cũng hỏi tại sao đất của cha me chồng cho thì không vào sổ luôn. Chồng em nói đất đó dể làm sổ khác. Từ đó vợ chồng em sống ở ngôi nhà xây trên dất của cha me em cho. Và sinh cháu gái 2001. Năm 2010 vợ chồng sinh ra nhiều mâu thuẫn. Em đã phải đưa 2 dứa con cháu dầu Sinh năm 1998 và Cháu nhỏ Sinh năm 2001 vào vũng tàu sinh sống. Môt thời gian ngắn chồng em vào đưa con em sinh năm 1998 ve nuôi. Còn em nuôi cháu sinh năm 2001.
Tới bây giờ chồng e đưa đơn ly hôn và đòi chia tai sản. Mà chỉ chia căn nhà đất của cha me em cho. Còn mảnh đất cha me chồng cho.thì lấy lý do không có giấy tờ. Mấy ngày nay chồng em goi cho e va nói căn nhà tôi chia dôi. Cô ở thi cô trả cho tôi một nửa. Còn tôi ở tôi trả cho cô môt nửa. Em đã nói em không chia vì đất do cha me cho. Còn nhà hai vợ chồ xây lên Thì để làm của chung cho hai đứa con. Nhưng mới hôm qua chồng em gọi và nói tôi đóng lê phí cho toà án tự chia cho tôi. Mấy ngày trước có người gọi cho em xưng danh là ở toà án nói là đã nhận đơn ly hôn và giấy chia tài sản của chồng em. Và hỏi em có ý kiến gi không. Em cũng trả lời là toà cứ tiến hành xử lý đơn theo quy định pháp luật còn tài sản thi em không chia. Nhưng em nghe nói có luật toà vẫn chia tài sản làm đôi được. V
ậy xin hỏi em chưa ký dơn ly hôn hay bất cứ một giấy tờ gì liên quan tới tài sản của em. Vậy toà án có chia đươc tài sản của em khi em chưa có mặt không. Và khi chia tài sản toà án có báo cho em biết không ?
Vậy em xin nhờ luật sư tư vấn cho em. Em xin chân thành cảm ơn!.

Luật sư tư vấn:

1. Trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn

Về ly hôn đơn phương: Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định và theo quy định của pháp luật ly hôn đơn phương không bắt buộc phải hòa giải mà người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án giải quyết trực tiếp.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Để có căn cứ chứng minh tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thực hiện theo quy định tại mục 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP như sau:

8. Căn cứ cho ly hôn (Điều 89)

a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được.

a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt."

- Thụ lý đơn theo quy định tại ĐIều 167 BLTTDS.

"Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

1. Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

2. Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;

3. Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án."

"Điều 171. Thụ lý vụ án

1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì Toà án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

2. Toà án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí.

3. Toà án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí."

Theo đó, trong vòng 5 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ của bạn thì Tòa án sẽ thông báo cho bạn về việc tiến hành thụ lý và yêu cầu bạn nộp tiền tạm ứng án phí nếu hồ sơ của bạn đủ căn cứ để giải quyết. Việc thông báo và yêu cầu nộp tiền tạm ứng sẽ được thực hiện theo thủ tục cấp, tống đạt giấy tờ quy định tại Điều 146 BLTTDS.

Vì bạn ly hôn đơn phương nên theo quy định của nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP có quy định về việc nộp tiền tạm ứng án phí như sau:

-Trường hợp có tranh chấp về tài sản: Khoản 3 Điều 11 Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án quy định:

"3. Trường hợp ngoài yêu cầu ly hôn, đương sự còn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu chia 1/2 giá trị tài sản chung của vợ chồng thì người có yêu cầu phải nộp tiền tạm ứng án phí đối với 1/2 giá trị tài sản chung của vợ chồng."

Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án. Yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án hoặc Thực hiện một hoặc một số biện pháp để thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 85 của BLTTDS.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo. Nên vấn đề của bạn sẽ được thông báo bằng văn bản đến ban nên bạn yên tâm nhé.

2. Quy định về chia tài sản khi ly hôn.

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Như vậy, nếu mảnh đất nếu bạn chứng minh là tài sản riêng được cha mẹ đẻ của bạn tặng cho riêng thì mảnh đất sẽ được tòa án giải quyết cho bạn nếu bạn không chia cho chồng. Còn đối với căn nhà trên mảnh đất đó được xây trong thời kỳ hôn nhân bằng số tiền do cả hai vợ chồng bạn đóng góp thì là tài sản chung của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Sau khi ly hôn, hai vợ chồng sẽ thỏa thuận về việc chia tài sản là căn nhà đó. Nếu không thỏa thuận được thì việc chia tài sản là căn nhà đó sẽ do tòa án giải quyết, và sẽ được chia đôi nhưng còn xét đến công sức đóng góp trong việc tạo lập tài sản chung, hoàn cảnh của mỗi bên.

Về việc chia tài sản cho con của bạn:

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án (khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Bên cạnh đó, ly hôn còn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con sau ly hôn cũng như quyền tài sản của hai vợ chồng. Pháp Luật Hôn nhân và gia đình không quy định cha mẹ khi ly hôn phải chia tài sản cho con cái. Việc chia tài sản hay không chia tài sản cho con hoàn toàn thuộc quyền quyết định của cha, mẹ. Vì vậy, để chia tài sản cho con thì cha, mẹ có thể thỏa thuận về việc chia tài sản cho con.

Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân và gia đình quy định nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn của cha, mẹ tại các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn thuận tình ly hôn tại tòa án cập nhật mới năm 2020

5. Có được ly hôn do mâu thuẫn gia đình ?

Thưa Luật sư, vợ chồng cháu lấy nhau năm 2013 năm nay đã được 2 năm nhưng chúng cháu ở với nhau được 8 tháng, chỉ vi câu nói của cháu "hay em thích về dưới nhà ở" nên vợ cháu đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Gia đình cháu đã nhiều lần xuống đón nhưng vợ cháu nhất quyết không về. Đến nay con cháu được 18 tháng cháu đã cố gắng sửa chữa và níu kéo vợ cháu để cho con có bố có mẹ.
Nay vợ cháu làm đơn ly hôn với lí do chỉ vì câu nói như vậy. Vậy có được chấp nhận cho ly hôn không ạ.Và nếu ly hôn cháu có được quyền nuôi con không ạ. Và không được chấp nhận thi cháu được hưởng các quyền lợi gì với con cháu?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn..."

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được..."

Căn cứ theo quy định pháp luật thì vợ bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc bạn có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Điểm a.1 Khoản a Điều 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

"8. Căn cứ cho ly hôn (Điều 89)

[...] a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;.."

Căn cứ vào các quy định pháp luật trên thì Tòa án chỉ có thể giải quyết ly hôn cho vợ chồng bạn khi có những căn cứ được coi là trầm trọng.

Trường hợp này của bạn, vợ chồng bạn chỉ vì một lời nói "hay em thích về dưới nhà ở" mà dẫn tới ly hôn, đây không phải là lý do để Tòa án có thể cho vợ chồng bạn ly hôn.

Nếu như Tòa án chấp nhận cho vợ chồng bạn ly hôn thì quyền nuôi con sẽ tuân theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.".

Theo quy định trên thì con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho mẹ trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc vợ chồng bạn có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Trong trường hợp bạn không phải là người trực tiếp nuôi con, bạn sẽ có quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

>> Đối với trường hợp này, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Căn cứ chứng minh để được ly hôn đơn phương ?
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Năm 2020, Hồ sơ xin ly hôn tại tòa án bao gồm những tài liệu, giấy tờ gì ?