Phương pháp phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp. Mục đích của việc phân tích chi phí - khối lượng - lợi nhuận chính là phần tích cơ cấu các chi phí của doanh nghiệp để nhằm xác định, phân tích được mức rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải khi cơ cấu các chi phí. Việc phân tích thông qua mô hình CVP không chỉ giúp việc lựa chọn dây chuyền sản xuất, định giá bán sản phẩm, xây dựng chiến lược tiêu thụ, chiến lược marketing nhằm khai thác có hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn giúp ích nhiều cho việc xem xét rủi ro của doanh nghiệp. Bài viết quan tâm đến một trong các ứng dụng này của mô hình CVP, đồng thời cũng xem xét các giả thiết trong quá trình vận dụng mô hình.

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số:1900.6162

1. Khái quát về phương pháp phân tích CVP

Phân tích CVP nhằm xác định một mô hình với 5 biến kinh doanh gắn liền với lợi nhuận can thiệp nhằm mô tả  mối quan hệ giữa lợi nhuận kinh doanh của một doanh nghiệp với chi phí, khối lượng hoạt động, giá bán với LN = (G – BPđv)QTT – ĐP.

Trong đó LN là lợi nhuận kinh doanh, G là giá bán đơn vị sản phẩm, BPđv là biến phí đơn vị, QTT là sản lượng bán ra, ĐP là định phí chung của doanh nghiệp, G – BPđv được định nghĩa là số dư đảm phí đơn vị.

Các áp dụng của mô hình phân tích CVP rất phong phú thường sẽ đi từ việc tìm kiếm đơn giản nhất là điểm hòa vốn đến các áp dụng phức tạp khác của mô hình như dự toán, phân tích mô tả các ảnh hường do sự thay đổi các biến số, xem xét rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo quan niệm thông thường, điểm hòa vốn của doanh nghiệp được xem xét là mức độ hoạt động có thể biểu hiện bằng không. Có nghĩa là tại mức độ hoạt động này, doanh thu của doanh nghiệp chỉ đủ bù đắp các chi phí của doanh nghiệp như biến phí, định phí. Như vậy tại điểm hòa vốn LN = (G – BPđv)QTT – ĐP = 0 do đó

QHV = ĐP/(G-BPdv)  doanh thu hòa vốn sẽ là

DTHV = ĐP/((G-BPdv)/G)  hoặc DTHV =  ĐP/TSDĐP với TSDĐP là tỷ lệ số dư đảm phí được định nghĩa bằng thương số của chênh lệch giữa doanh thu và biến phí so với doanh thu. Nếu doanh nghiệp không có định phí thì điểm hòa vốn sẽ bằng không vì  chênh lệch giữa doanh thu và biến phí cũng chính là lợi nhuận cuối cùng của doanh nghiệp. Từ điểm hòa vốn trở đi, doanh nghiệp bắt đầu có lợi nhuận bằng với khối lượng tiêu thụ vượt trên so với điểm hòa vốn nhân với SDĐP đơn vị.

Trong phân tích trên, rõ ràng khối lượng sản xuất, tiêu thụ, doanh thu của doanh nghiệp chỉ là mục tiêu thứ yếu còn kết  quả kinh doanh biểu hiện bằng lợi nhuận mới chính là mục tiêu chủ yếu.

Thường việc phân tích CVP được sử dụng nhiều trong các thời kỳ mà doanh nghiệp đã đạt được thị phần quan trọng, mục tiêu sản lượng trong giai đoạn này là phụ, lợi nhuận qua phân tích hòa vốn là mục tiêu chính. Nhiều giám đốc doanh nghiệp cần biết trong trường hợp nào lợi nhuận bằng hoặc nhỏ hơn không, vì theo họ, dự đoán được chênh lệch giữa lợi nhuận (-1.000, + 1.000) quan trọng hơn việc dự đoán khoảng chênh lệch  (8.000, 10.000), do vậy việc áp dụng có lẽ được khá nhiều nhà quản trị quan tâm là xem xét rủi ro không có lợi nhuận của doanh nghiệp trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa mức độ hoạt động và sản lương hòa vốn.

Để đo lường rủi ro của doanh nghiệp, người ta có thể dùng nhiều chỉ tiêu như độ lớn đòn bẩy kinh doanh, độ phân tán, hệ số biến thiên… trong đó chỉ tiêu hệ số an toàn, xác suất không có lãi được nhiều nhà quản trị quan tâm.

Hệ số an toàn được định nghĩa là tỷ lệ giữa doanh thu với độ lệch giữa doanh thu và doanh thu hòa vốn của doanh nghiệp.

Với Hat là hệ số an toàn. DThv là doanh thu hòa vốn.

Thực chất hệ số an toàn cũng chính là chỉ tiêu độ lớn đòn bẩy kinh doanh được xem xét dưới một dạng khác đó.

Hệ số  an toàn càng lớn thì rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn và ngược lại hệ số an toàn càng nhỏ thì rủi ro càng bé. Điều này có thể được giải thích bởi khoảng cách giữa doanh thu với doanh thu hòa vốn càng bé, doanh thu khá gần so với doanh thu hòa vốn và doanh nghiệp có khả năng lỗ, như vậy rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn thì đó là biểu hiện không tốt vì đó là tình trạng cực kỳ mạo hiểm.
* Ví dụ:

Giả sử có 2 doanh nghiệp A và B với lợi nhuận tuân theo quy luật phân phối  chuẩn với trung bình giống nhau là 800, nhưng độ phân tán của lợi nhuận không giống nhau là 354 và 495. ta lý hiệu LNA ~NA (800, 354); LNA ~NB (800 , 495). Để xem xét xác suất để đạt được lợi nhuận nhỏ hơn 0, ta dùng phương pháp đổi biến sau:

Trong ví dụ này, ZA và ZB là các biến ngẫu nhiên tuân theo quy luật phân phối chuẩn tắc N(0,1).

Dựa vào bảng thống kê luật phân phối xác suất  xhuẩn N(0,1), ta có thể xác định xác suất để lợi nhuận của doanh nghiệp A và doanh nghiệp B là nhỏ hơn 0. Đó chính là xác suất để mà:

      P(LNA <0) =="" p(za =""><-2,26) =="" 1="" –="" p(za=""><>

                  = 1-0,988 = 0,012 (4)

      P(LNB < 0)="P(ZB"><-1,62) =="" 1="" –=""><>

                  = 1 – 0,947 = 0,053

Với cách phân tích này ta cũng nhận thấy rằng rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp B là lớn hơn rủi ro của doanh nghiệp A vì xác suất đạt được lợi nhuận âm của B cao hơn của doanh nghiệp A, vì doanh nghiệp B sẽ khó đạt điểm hòa vốn hơn doanh nghiệp A. Điều này phù hợp với phân tích bằng chỉ tiêu phương sai, độ phân tán của lợi nhuận đối với doanh nghiệp có cùng quy mô vì sLNA<>

Tuy nhiên, kỹ thuật trên đây không là biện pháp vạn năng, mà chỉ là một trong các phương tiện giúp các nhà quản trị khi ra quyết định trong doanh nghiệp nó chỉ là một công cụ rất hữu dụng hỗ trợ cho việc ra quyết định vì áp dụng mô hình CVP thường đòi hỏi các giả thiết khá chặt chẽ mà thực tế khó đáp ứng được.

Giả thiết không có tồn kho sản phẩm dở dang, tồn kho thành phẩm, dẫn đến sản xuất thời kỳ nào phải tiêu thụ thời kỳ ấy, như vậy khối lượng sản xuất phải bằng khối lượng tiêu thụ (Qsx = Qtt). Thường giả thiết này không thực tế vì nó  chỉ phù hợp với đơn vị thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ theo đơn đặt hàng, chứ đối với phần lớn các doanh nghiệp sản xuất không thể áp dụng phân tích này vì không đáp ứng được các giả thiết của mô hình. Dĩ nhiên, ở đây ta không thể đặt vấn đề mô hình sai hoặc mô hình quá đơn giản, mà chỉ xem xét các sử dụng sử dụng mô hình này như thế nào.

Xuất phát để xem xét trong phần này là có thể làm giảm đi hoặc bỏ bớt vài giả thiết của mô hình cơ bản để mở rộng phạm vi áp dụng của mô hình CVP. Ví dụ nếu bỏ bớt giả thiết khối lượng sản xuất bằng khối lượng tiêu thụ trên quan điểm quyết định sản xuất cũng là biến chủ yếu trong trường hợp ở đó nó phải phù hợp với dự báo doanh thu thì vấn đề trở nên rắc rối hơn. Nếu khối lượng sản xuất lớn hơn khối lượng tiêu thụ thì dự trữ thừa sẽ dẫn đến lãng phí ngược lại khối lượng tiêu thụ lớn hơn khối lượng sản xuất thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ không còn như trước. Do  vậy cần thiết tính đến sự biến thiên của tồn kho và giá trị của nó để tính toán LN mong muốn, đây cũng là một cơ sở để dự báo được rủi ro của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu xác suất để có lợi nhuận lớn hơn không hoặc xác suất mà sản lượng đạt được nhỏ hơn sản lượng hòa vốn.

Với việc mở rộng giả thiết không có tồn kho, quá trình xem xét để ra quyết định sản xuất và ảnh hưởng của tồn kho sẽ làm phức tạp vấn  đề, tùy thuộc vào mức hoạt động, lợi nhuận sẽ có thể được biểu  thị như sau:

LN = (G – BPđv)Qsx – ĐP nếu QTT  ³ Qsx và không có tồn kho đầu kỳ trong thời kỳ nghiên cứu. (Qsx là khối lượng sản phầm sản xuất ra trong kỳ)

LN = (G – BPđv)QTT – ĐP nếu QTT

LN = GQTT – BPQsx – ĐP nếu QTT

Với cách xem xét như vậy, doanh thu hòa vốn trong các trường hợp có sản phẩm tồn kho cũng như hệ số an toàn và xác suất để lợi nhuận nhỏ hơn không sẽ thay đổi đáng kể. Trong các trường hợp trên phương pháp sử dụng hệ số an toàn sẽ có hạn chế khi nghiên cứu rủi ro của doanh nghiệp. Đối với chỉ tiêu phân phối xác suất của lợi nhuận sẽ được tính toán đầy đủ dựa vào cả 3 công thức trên cơ sở phân phối xác suất của từng trường hợp tùy theo dự đoán khối lượng tiêu thụ, sản xuất của thị trường.

Tóm lại, mô hình phản ảnh quan hệ CVP có mối quan hệ khá chặt chẽ với các chỉ tiêu đo lường rủi ro  kinh doanh của doanh nghiệp, các mối quan hệ này có thể cũng được xác lập khi bỏ đi và giả thiết của mô hình.

2. Các khái niệm cơ bản sử dụng trong phân tích CVP

2.1 Khái niệm về số dư đảm phí

Tổng số dư đảm phí (SDĐP) là số dự biểu hiện bằng số tuyệt đối tổng số tiền còn lại của doanh thu bán hàng sau khi đã trừ đi tổng biến phí (hay còn gọi là số chênh lệch giữa doanh thu và tổng biến phí). Số dư đảm phí có thể tính cho tất cả các loại sản phẩm, một sản phẩm và một đơn vị sản phẩm. Tổng SDĐP được sử dụng trước hết để trang trải định phí, phần còn lại đó là lãi thuần trong kỳ. Nếu tổng số dư đảm phí không trang trải đủ định phí công ty sẽ bị lỗ, nếu trang trải vừa đủ định phí thì công ty sẽ hòa vốn. Khi tổng số dư đảm phí lớn hơn tổng định phí, có nghĩa rằng công ty hoạt động có lợi nhuận. Lợi nhuận được tính bằng cách lấy tổng số dư đảm phí trừ định phí .

Số dư đơn vị là số dư đảm phí tính cho một đơn vị sản phẩm. Khi tính cho một đơn vị sản phẩm số đảm phí còn được gọi là phần đóng góp, vậy ta có thể hiểu phần đóng góp là phần còn lại của đơn giá bán sau khi trừ đi biến phí đơn vị.

2.2  Sản lượng hòa vốn = Chi phí bất biến/Số dư đảm phí đơn vị 

Quy ước:

  • x: Sản lượng tiêu thụ
  • P: Giá bán 
  • b: Biến phí đơn vị 
  • A: Định phí 
  • X: Mức độ hoạt động (sản lượng)

Khi DN hoạt động tại sản lượng X1> Xo, lợi nhuận của DN = (P-b)X1 – A

Khi DN hoạt động tại mức sản lượng X2> xX1> X0, lợi nhuận DN = (P-b)X2 – A

Như vậy, khi sản lượng tăng một lượng ∆X = X2 - X1

Lợi nhuận tăng một lượng ∆P = (P-b)(X2-X1) = (P-b)∆X

Thông qua các khái niệm về số dư đảm phí có thể thấy mối quan hệ giữa sự thay đổi về sản lượng tiêu thụ và lợi nhuận. Nếu sản lượng tăng thêm thì lợi nhuận tăng thêm bằng chính sản lượng tăng thêm đó nhân với số dư đảm phía đơn vị. Điều này chỉ đúng khi doanh nghiệp vượt qua điểm hòa vốn.

2.3 Đòn bẩy kinh doanh

Đòn bẩy kinh doanh (ĐBKD) là một chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng định phí trong tổ chức DN. Do vậy, ĐBKD sẽ lớn ở các DN có tỷ lệ định phí cao hơn biến phí trong tổng chi phí và nhỏ ở các DN có kết cấu chi phí ngược lại. Điều này cũng có nghĩa là DN có ĐBKD lớn thì tỷ lệ định phí trong tổng chi phí lớn hơn biến phí, do đó lợi nhuận của DN sẽ rất nhạy cảm với thị trường doanh thu biến động, bất kỳ sự biến động nhỏ nào của doanh thu cũng sẽ gây ra biến động lớn về lợi nhuận.

Độ lớn của ĐBKD ở một mức doanh thu nhất định của DN được xác định theo công thức sau:

Độ lớn của ĐBKD = (Tổng SDĐP)/(Lãi thuần)=(Tổng SDĐP)/(Tổng SDĐP-Định phí)

Độ lớn ĐBKD là một công cụ đo lường ở mức doanh thu nhất định, khi có 1% doanh thu thay đổi thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận.

Mặc dù có những hạn chế nhất định, song lý thuyết về mối quan hệ CVP nói chung, điểm hòa vốn nói riêng vẫn có những ý nghĩa to lớn trong nghiên cứu lý luận và ứng dụng thực tiễn. Việc nghiên cứu mối quan hệ CVP là phần không thể thiếu trong tác nghiệp của nhà quản lý nhưng cũng cần phải thận trọng khi sử dụng kết quả phân tích mối quan hệ này.

Nguồn:

http://www.tapchiketoan.com

http://www.tapchitaichinh.vn

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

THAM KHẢO VÀ DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN: