Mọi vướng mắc pháp lý của chủ sử dụng lao động, người lao động về chế độ thử việc chỉ cần gọi số: 1900.6162 để được luật sư tư vấn và giải đáp trực tuyến quy định pháp luật lao động qua tổng đài điện thoại.

1. Công văn 47484/CT-TTHT 2018 khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trong thời gian thử việc Hà Nội

TỔNG CỤC THUẾ
CỤC THUẾ TP HÀ NỘI-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 47484/CT-TTHT
V/v khấu trừ thuế TNCN trong thời gian thử việc.

Hà Nội, ngày 9 tháng 7 năm 2018

Kính gửi: Công ty TNHH Silver Mountain Logistics (Viet Nam)
Đ/c: Tầng 6, Tòa nhà Việt Á, Phố Duy Tân, P. Dịch Vọng Hậu, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội; MST: 0107273271

Trả lời công văn số 01CV/2017 ngày 25/6/2018 của Công ty TNHH Silver Mountain Logistics (Viet Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty) hỏi về khấu trừ thuế TNCN trong thời gian thử việc, Cục Thuế TP Hà Nội có ý kiến như sau:

- Căn cứ Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế:

“1. Khấu trừ thuế

Khấu trừ thuế là việc tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện tính trừ s thuế phải nộp vào thu nhập của người nộp thuế trước khi trả thu nhập, cụ thể như sau:

...b) Thu nhập từ tiền lương, tiền công

b.1) Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biu thuế lũy tiến từng phần, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ ba (03) tháng trở lên tại nhiều nơi.

b.2) Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên nhưng nghỉ làm trước khi kết thúc hợp đồng lao động thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập vẫn thực hiện khấu trừ thuế theo Biu thuế lũy tiến từng phần.

.... i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đi tượng phải khu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhung ước tính tng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn v quản lý thuế) gửi tổ chức tr thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Căn cứ vào cam kết của người nhận thu nhập, tổ chức trả thu nhập, không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vn phải tng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế (vào mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dn về quản lý thuế) và nộp cho cơ quan thuế. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của Luật quản lý thuế.

Cá nhân làm cam kết theo hướng dn tại điểm này phải đăng ký thuế và có mã s thuế tại thời điểm cam kết”.

- Căn cứ Phụ lục số 02 Danh mục mẫu biểu đối với cá nhân kinh doanh và mẫu biểu đối với thuế TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính:

STT

Mu số

Tên Mu biểu

Nhóm 02 - Cá nhân tự khai thuế đi với tin lương, tin công

18

02/CK-TNCN

Bản cam kết

Căn cứ các quy định trên, trường hp Công ty ký Hợp đồng thử việc với người lao động:

Trường hp sau khi kết thúc Hợp đồng thử việc trên, Công ty ký Hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên với người lao động thì Công ty có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN theo Biểu thuế lũy tiến từng phần trước khi chi trả cho người lao động tính cả thời gian thử việc.

Trường hợp sau khi kết thúc Hợp đồng thử việc, Công ty không ký Hợp đồng lao động với người lao động thì Công ty phải khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% khi chi trả đối với khoản thu nhập của người lao động trong thời gian thử việc từ 02 triệu đồng/lần trở lên.

Trường hợp trong năm quyết toán thuế người lao động chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của người lao động sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì người lao động làm cam kết theo mẫu số 02/CK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính gửi Công ty. Căn cứ vào cam kết của người lao động, Công ty tạm thời chưa khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% khi chi trả thu nhập cho người lao động. Người lao động phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung cam kết của mình và phải có mã số thuế tại thời điểm cam kết, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của Luật quản lý thuế.

Cục Thuế TP Hà Nội trả lời để Công ty được biết và thực hiện./.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Phòn
g Kiểm tra thuế số 1;
- Phòng Pháp chế;
- Lưu: VT, TTHT(2)
.

KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG




Mai Sơn

2. Công văn 1410/BNV-CCVC thực hiện chế độ thử việc

BỘ NỘI VỤ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------

Số: 1410/BNV-CCVC
V/v thực hiện chế độ thử việc

Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2007

Kính gửi: SởY tế tỉnh Bắc Kạn

Trảlời công văn số 127/CV-SYT ngày 01 tháng 3 năm 2007 của Sở Y tế tỉnh Bắc Kạn đềnghị giải đáp một số vướng mắc trong việc thực hiện chế độ, chính sách đối vớiviên chức, Bộ Nội vụ có ý kiến như sau:

Căncứ quy định tại khoản 5 Điều 9 Chương II Pháp lệnh Cán bộ, công chức, cán bộ,công chức là nữ được nghỉ chế độ thai sản theo quy định tại Điều 114 Bộ luậtLao động. Do vậy, cán bộ, công chức là nữ trong thời gian thử việc, nếu sinhcon được nghỉ chế độ thai sản theo quy định của Bộ luật Lao động.

Theoquy định của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chínhphủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sựnghiệp của Nhà nước và mục 4 Chương II Thông tư số 10/2004/TT-BNV ngày 19 tháng02 năm 2004 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số116/2003/NĐ-CP thử việc là quá trình người được tuyển dụng làm thử chức trách,nhiệm vụ của ngạch sẽ được bổ nhiệm sau khi ký hợp đồng làm việc. Mục đích củachế độ thử việc là giúp cho người mới được tuyển dụng làm quen với môi trườngcông tác, tập làm những công việc của ngạch viên chức sẽ được bổ nhiệm. Do vậy,thời gian được tính để để thực hiện chế độ thử việc là thời gian được tuyểndụng thực tế công tác, làm thử chức trách, nhiệm vụ của ngạch sẽ được bổ nhiệm.Trong thời gian thử việc cán bộ, công chức nữ nghỉ chế độ thai sản thì thờigian này không được tính vào thời gian thử việc theo quy định.

BộNội vụ xin trả lời để Sở Y tế tỉnh Bắc Kạn được biết.

Nơi nhận:
- Như trên;
- TT Trần Văn Tuấn (để báo cáo);
- Lưu VP, Vụ CCVC.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ CÔNG CHỨC – VIÊN CHỨC




Trần Anh Tuấn

3. Công văn 35/LĐTBXH-LĐTL thời gian thử việc và trợ cấp thôi việc

BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH
VÀ XÃ HỘI

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------

Số: 35/LĐTBXH-LĐTL
V/v: Thời gian thử việc và trợ cấp thôi việc.

Hà Nội, ngày 07 tháng 01 năm 2009

Kính gửi:

Đại học quốc tế RMIT
702 Nguyễn Văn Linh, Tân Phong, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh.

Trảlời thư hỏi ngày 18/12/2008 của quý trường, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hộicó ý kiến như sau:

1.Theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Lao động thì “Người sử dụng lao động và ngườilao động thỏa thuận về việc làm thử, thời gian thử việc, vềquyền, nghĩa vụ hai bên”. Do đó, hai bên có thể thỏa thuận cụ thể về cách tínhthời gian thử việc: là ngày làm việc thực tế hay là ngày tính theo dương lịch.

Trườnghợp hai bên không thỏa thuận cụ thể về cách tính thời gian thử việc, nếu phátsinh tranh chấp thì sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự về thời hạn đểtính thời gian thử việc.

2.Căn cứ quy định tại Điều 41 Nghị định 127/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày12/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm xã hội về bảohiểm thất nghiệp thì:

-Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợcấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật về lao độngvà pháp luật về cán bộ, công chức.

-Thời gian người lao động thực tế làm việc theo các bản hợp đồng lao động, hợpđồng làm việc với người sử dụng lao động mà không phải đóng bảo hiểm thấtnghiệp thì được tính để xét hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theoquy định của pháp luật lao động hiện hành hoặc trợ cấp thôi việc theo quy địnhcủa pháp luật về cán bộ, công chức.

-Tiền lương, tiền công làm căn cứ tính chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mấtviệc làm theo pháp luật về lao động là tiền lương, tiền công theo hợp đồng laođộng, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi mất việc làm hoặc chấmdứt hợp đồng lao động, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấpkhu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

Trênđây là ý kiến của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để quý trường tham khảovà thực hiện

Nơi nhận:
- Như trên;
- Thứ trưởng Hòa (để báo cáo);
- Lưu VT, Vụ LĐTL.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG – TIỀN LƯƠNG




Phạm Minh Huân

4. Công văn 1859/LĐTBXH-BHXH mức tiền lương tháng làm việc căn cứ đóng bảo hiểm xã hội người lao động trong thời gian thử việc

BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 1859/LĐTBXH-BHXH
V/v: Mức tiền lương tháng làm việc căn cứ đóng BHXH đối với người lao động trong thời gian thử việc

Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2006

Kính gửi

Công ty Tnhh Tohoku Poineer Vn
(Khu Công Nghiệp Nomura Hải Phòng)

Trả lời Công văn số 40/TPV-PER ngày 15/3/2006 của quý Công ty hỏi về mức tiền lương tháng làm việc căn cứ đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong thời gian thử việc, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Điều 32 của Bộ luật Lao động thì tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc ít nhất phải bằng 70% mức lương cấp bậc của công việc đó. Thời gian thử việc không được quá 60 ngày đối với lao động chuyên môn kỹ thuật cao và không quá 30 ngày đối với lao động khác.

Theo quy định tại Điều 141 của Bộ luật lao động, loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng đối với doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời gian từ đủ ba tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng thì các khoản bảo hiểm xã hội được tính vào tiền lương do người sử dụng lao động trả theo quy định của Chính phủ, để người lao động tham gia bảo hiểm xã hội theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm.

Như vậy, cách tính trả lương thử việc của quý công ty là 560.000 VNĐ/tháng cho người lao động làm công việc có mức lương 800.000 VNĐ/tháng trong thời gian thử việc là đúng quy định của Nhà nước.

Đối với người lao động sau thời gian thử việc như quy định trên, ký hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên thì thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, mức tiền lương, tiền công làm căn cứ để đóng bảo hiểm xã hội là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời để quý Công ty biết và thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu VP, BHXH.

T/L. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI



Phạm Đỗ Nhật Tân

5. Công văn 318/QHLĐTL-CSLĐ 2019 về thời gian thử việc không được tính hưởng trợ cấp thôi việc

BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH
VÀ XÃ HỘI
CỤC QUAN HỆ LAO ĐỘNG
VÀ TIỀN LƯƠNG

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 318/QHLĐTL-CSLĐ
V/v thời gian thử việc không được tính hưởng trợ cấp thôi việc

Hà Nội, ngày 29 tháng 05 năm 2019

Kính gửi: Công ty TNHH Công nghệ Giao tiếp WISE-CONCETTI
(Tầng 3, tòa nhà Kinh Đô, 93 Lò Đúc, Phưng Phạm Đình Hổ,Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội)

Trả lời kiến nghị của Công ty TNHH Công nghệ Giao tiếp WISE-CONCETTI về việc thời gian thử việc không được tính hưởng trợ cấp thôi việc do Văn phòng Chính phủ chuyển đến tại công văn số 4191/VPCP-ĐMDN ngày 17 tháng 5 năm 2019, sau khi nghiên cứu, Cục Quan hệ Lao động và Tiền Lương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 Bộ Luật lao động 2012 thì người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thỏa thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc.

2. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 48 Bộ Luật lao động 2012 thì khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

3. Theo quy định tại Khoản 5 Điều 1 Nghị định số 148/2018/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động (có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 12 năm 2018) thì: thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được người sử dụng lao động trả lương theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; thời gian nghỉ hàng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật lao động; thời gian nghỉ việc để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật mà được người sử dụng lao động trả lương; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo Điều 129 của Bộ luật lao động.

Căn cứ quy định nêu trên và nội dung hỏi của Công ty gửi kèm Công văn số 4191/VPCP-ĐMDN nêu trên thì thời gian người lao động và người sử dụng lao động giao kết hợp đồng thử việc không được tính vào thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động để trả trợ cấp thôi việc.

Cục Quan hệ lao động và Tiền lương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trảlời để Quý công ty biết./


Nơi nhận:
- Như trên;
- TT Doãn Mậu Diệp (để báo cáo);
- Vụ Đổi mới doanh nghiệp, VPCP (để biết);
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (để biết);
- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (đ
biết);
-Lưu: VT,Cục QHLĐTL.

Q. CỤC TRƯỞNG




Nguyễn Huy Hưng

6. Công văn 4294/LĐTBXH-LĐTL tiền lương trong thời gian thử việc

BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH
VÀ XÃ HỘI

-------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

---------

Số: 4294/LĐTBXH-LĐTL
V/v tiền lương trong thời gian thử việc

Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2008

Kính gửi: Sở Lao động - Thương binh và Xã hộitỉnh Thái Bình

Trả lời công văn số 773/SLĐTBXH ngày 24 tháng 9năm 2008 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình về việc ghi tạitrích yếu, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Điều 32, Bộ Luật Lao động thìtiền lương của người lao động trong thời gian thử việc ít nhất phải bằng 70%mức lương cấp bậc của công việc mà người lao động làm thử.

Theo quy định tại Điều 9 Chương I: Những quyđịnh chung của Bộ Luật Lao động thì Nhà nước khuyến khích những thoả thuận bảođảm cho người lao động có những điều kiện thuận lợi hơn so với những quy địnhcủa pháp luật lao động.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xin trả lờiđể Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình biết và thực hiện./.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG - TIỀN LƯƠNG




Phạm Minh Huân

7. Công văn 4738/LĐTBXH-LĐTL hợp đồng thử việc 2015

BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 4738/LĐTBXH-LĐTL
V/v hợp đồng thử việc

Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2015

Kính gửi: Ngân hàng Mizuho Bank
(Đ/c: Số 63 Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội)

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhận được công văn số 1008/2015/HR ngày 08/10/2015 của Ngân hàng Mizuho Bank đề nghị hướng dẫn về hợp đồng thử việc, sau khi xem xét, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Theo Điều 26 của Bộ luật Lao động thì người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thỏa thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc. Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g và h Khoản 1 Điều 23 của Bộ luật này.

2. Theo Điều 29 của Bộ luật Lao động thì khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ thỏa thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thỏa thuận.

Như vậy, trường hợp người lao động và người sử dụng lao động có thỏa thuận về việc làm thử thì hai bên giao kết hợp đồng thử việc. Người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo kết quả về việc làm thử theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ và hai bên phải giao kết hợp đồng lao động khi việc làm thử đạt yêu cầu.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời để Ngân hàng Mizuho Bank biết và thực hiện./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- TT. Phạm Minh Huân (để b/c);
- Lưu VT, Vụ LĐTL.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG - TIỀN LƯƠNG




Tống Thị Minh

8. Công văn 4229/LĐTBXH-LĐVL hợp đồng lao động khi hết thời gian thử việc

BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 4229/LĐTBXH-LĐVL
V/v: Hợp đồng lao động khi hết thời gian thử việc

Hà Nội, ngày 09 tháng 12 năm 2004

Kính gửi: Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

Trả lời công văn số 2594/BQL-KCN-HCM-LĐ ngày 18/11/2005 của quý Ban về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Hết thời gian thử việc mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc, chứng tỏ việc làm thử đã đạt yêu cầu. Theo quy định tại Điều 32 của Bộ luật Lao động và khoản 4 Điều 7 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động, khi việc làm thử đạt yêu cầu, thì người sử dụng lao động phải nhận người lao động vào làm việc chính thức như đã thỏa thuận và ký kết hợp đồng lao động.

Loại hợp đồng lao động hai bên ký kết căn cứ vào nội dung về thời hạn hợp đồng lao động mà doanh nghiệp đã thông báo trước khi tuyển dụng lao động. Bởi vì, theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm và điểm 1b mục II Thông tư số 20/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ về tuyển dụng lao động, thì trước khi tuyển dụng lao động doanh nghiệp phải thông báo cho người lao động biết về nghề, công việc cho từng vị trí cần tuyển, thời hạn hợp đồng lao động sẽ giao kết sau khi được tuyển.

Khi có tranh chấp lao động liên quan đến hợp đồng lao động, đề nghị quý Ban căn cứ vào các quy định nêu trên để giải quyết./.

Nơi nhận:
- Như trên
- Lưu VP, Vụ LĐVL.

TL/ BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM




Nguyễn Đại Đồng

9. Công văn 1974/BNV-CCVC miễn thử việc khi tuyển dụng sinh viên cao đẳng sư phạm

BỘ NỘI VỤ
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------

Số: 1974/BNV-CCVC
V/v miễn thử việc khi tuyển dụng đối với sinh viên CĐSP tham gia dạy phổ cập giáo dục.

Hà Nội, ngày 10 tháng 07 năm 2007

Kínhgửi: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai.

Bộ Nội vụ nhận được công văn số 1345/UBND-VX ngày 21 tháng 6 năm 2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai đề nghịcho sinh viên cao đẳng sư phạm tham gia dạy phổ cập giáo dục, khi tuyển dụngvào ngành giáo dục và đào tạo của tỉnh được miễn thời gian thử việc, Bộ Nội vụcó ý kiến như sau:

Nhất trí với đề nghị của Ủy bannhân dân tỉnh Lào Cai về việc miễn thời gian thử việc đối với các trường hợptốt nghiệp cao đẳng sư phạm Lào Cai có thời gian đào tạo là 4 năm do kéo dàithêm 1 năm tham gia dạy phổ cập THCS theo chủ trương của Ủy ban nhân dân tỉnh,đã đạt kết quả tuyển dụng, được bố trí giảng dạy tại các cơ sở giáo dục thuộctỉnh Lào Cai.

Bộ Nội vụ xin trả lời để Ủy bannhân dân tỉnh Lào Cai biết và thực hiện.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Sở Nội vụ tỉnh Lào Cai;
- Lưu VP, Vụ CCVC.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Trần Văn Tuấn

10. Công văn 748/LĐTBXH-BHXH đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế lao động trong thời gian thử việc

BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 748/LĐTBXH-BHXH
V/v: Giải đáp chính sách bảo hiểm xã hội

Hà Nội, ngày 10 tháng 03 năm 2006

Kính gửi:

Trung tâm điện thoại di động CDMA S TELECOM
11 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Trả lời công văn số 308/CV /S-Telecom HN ngày 12/10/2005 của Trung tâm đề nghị giải đáp về việc đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiệm y tế đối với lao động trong thời gian thử việc, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Về hiệu lực của hợp đồng lao động:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 33 Bộ Luật lao động thì hợp đồng lao động có hiệu lực từ ngày giao kết hoặc từ ngày do 2 bên thỏa thuận hoặc từ ngày người lao động bắt đầu làm việc và tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 của Chính phủ về hợp đồng lao động, thì ngày có hiệu lực của hợp đồng lao động là ngày người lao động bắt đầu làm việc.

Về quy định đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc:

Theo quy định tại Điều 141 Bộ luật lao động thì bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng đối với doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Ở những doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức này, người sử dụng lao động, người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật này; đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động dưới 3 tháng thì các khoản bảo hiểm xã hội được tính vào tiền lương do người sử dụng lao động trả theo quy định của Chính phủ, để người lao động tham gia bảo hiểm xã hội theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm xã hội. Khi hết hạn hợp đồng lao động mà người lao động tiếp tục làm việc hoặc giao kết hợp đồng lao động mới, thì áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Căn cứ vào các quy định nêu trên, người lao động của Trung tâm, sau thời gian thử việc từ 1 đến 2 tháng (thỏa thuận miệng) nếu đạt yêu cầu, trung tâm sẽ ký hợp đồng lao động chính thức với người lao động bằng văn bản. Nếu thời gian thử việc được tính trong thời hạn của hợp đồng lao động chính thức, thì hợp đồng lao động có hiệu lực từ ngày người lao động bắt đầu làm thử việc và hai bên phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ ngày người lao động bắt đầu vào làm thử việc; nếu thời gian làm thử việc là hợp đồng lao động riêng (thỏa thuận miệng), thì hợp đồng này là hợp đồng thứ nhất có hiệu lực từ ngày người lao động bắt đầu làm thử việc và hợp đồng lao động ký kết bằng văn bản là hợp đồng thứ hai, có hiệu lực từ ngày ký kết (ngày hết hạn thời gian làm thử việc), hai bên phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ ngày ký kết hợp đồng lao động chính thức theo quy định tại Điều 141 của Bộ luật lao động.

Về việc đóng Bảo hiểm y tế, đề nghị Trung tâm liên hệ với Bộ Y tế để được trả lời theo thẩm quyền.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu: VT, BHXH

T/L. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI




Phạm Đỗ Nhật Tân

11. Công văn 1855/LĐTBXH-BHXH đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế lao động trong thời gian thời gian thử việc

BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 1855/LĐTBXH-BHXH
V/v: giải đáp chính sách bảo hiểm xã hội

Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2006

Kính gửi

Công ty TNHH KPMG (Việt Nam)
Tầng 16, tòa nhà VCB, 198 Trần Quang Khải, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Trả lời công văn CV 0206/KPMG-MOLISA ngày 21/2/2006 của Công ty đề nghị giải đáp về việc đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đối với lao động trong thời gian thử việc, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Điều 141 Bộ luật lao động thì bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng đối với doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Ở những doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức này, người sử dụng lao động, người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật này; đối với người lao động làm việc theo hợp đồng dưới 3 tháng thì các khoản bảo hiểm xã hội được tính vào tiền lương do người sử dụng lao động trả theo quy định của Chính phủ, để người lao động tham gia bảo hiểm xã hội theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm xã hội. Khi hết hạn hợp đồng lao động nói trên mà người lao động tiếp tục làm việc hoặc giao kết hợp đồng lao động mới, thì người lao động và người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội theo quy định.

Căn cứ quy định trên, nếu thời gian làm thử việc là hợp đồng lao động riêng, sau đó ký hợp đồng lao động chính thức có thời hạn từ 3 tháng trở lên thì hai bên (người sử dụng lao động và người lao động) phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ ngày ký kết hợp đồng lao động chính thức, thời gian thử việc không phải đóng bảo hiểm xã hội.

Về việc đóng Bảo hiểm y tế, đề nghị Công ty liên hệ với Bộ Y tế để được trả lời theo thẩm quyền.



Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu VP, BHXH.

T/L. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI




Phạm Đỗ Nhật Tân

12. Công văn 4738/LĐTBXH-LĐTL của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về việc hợp đồng thử việc

BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI-------
Số: 4738/LĐTBXH-LĐTL
V/v:Hợp đồng thử việc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2015
Kính gửi: Ngân hàng Mizuho Bank
(Đ/c: Số 63 Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội)
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhận được công văn số 1008/2015/HR ngày 08/10/2015 của Ngân hàng Mizuho Bank đề nghị hướng dẫn về hợp đồng thử việc, sau khi xem xét, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
1. Theo Điều 26 của Bộ luật Lao động thì người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thỏa thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc. Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g và h Khoản 1 Điều 23 của Bộ luật này.
2. Theo Điều 29 của Bộ luật Lao động thì khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ thỏa thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thỏa thuận.
Như vậy, trường hợp người lao động và người sử dụng lao động có thỏa thuận về việc làm thử thì hai bên giao kết hợp đồng thử việc. Người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo kết quả về việc làm thử theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ và hai bên phải giao kết hợp đồng lao động khi việc làm thử đạt yêu cầu.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời để Ngân hàng Mizuho Bank biết và thực hiện./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- TT. Phạm Minh Huân (để b/c);
- Lưu VT, Vụ LĐTL.
TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG - TIỀN LƯƠNG




Tống Thị Minh

13. Công văn 5609/CT-TTHT khấu trừ thuế thu nhập cá nhân nhân viên thử việc

TỔNG CỤC THUẾ
CỤC THUẾ
TP. HỒ CHÍ MINH
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------

Số: 5609/CT-TTHT
V/v: Thuế thu nhập cá nhân

TP. Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 7 năm 2011

Kínhgửi: Công ty TNHH Dịch vụ An Toàn Điện Tử
Đ/chỉ: 401/9 Chu Văn An, Phường 12, Quận Bình Thạnh
MST: 0305645997

Trả lời văn thư số SE110601 ngày23.6.2011 của Công ty về khấu trừ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) của nhân viêntrong thời gian thử việc; Cục thuế TP có ý kiến như sau:

Căn cứ Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30.9.2008 của Bộ Tài chính về thuế Thu nhập cá nhân.

Căn cứ Điều 5 Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27.3.2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung tiết1.2.7, khoản 1, Mục II, Phần D Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30.9.2008 của BộTài chính về thuế Thu nhập cá nhân:

“Các tổ chức, cá nhân chi trảtiền hoa hồng đại lý bán hàng hoá; tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiềnchi khác cho cá nhân thực hiện các dịch vụ có tổng mức trả thu nhập từ 500.000đồng trở lên cho mỗi lần chi trả hoặc tổng giá trị hoa hồng, tiền công dịch vụthì phải khấu trừ thuế trước khi trả thu nhập cho cá nhân theo hướng dẫn sau:

Áp dụng thống nhất một mức khấutrừ theo tỷ lệ 10% trên thu nhập chi trả, trừ các trường hợp Bộ Tài chính đã cóvăn bản hướng dẫn mức tạm khấu trừ riêng (như tiền hoa hồng đại lý bảo hiểm,tiền hoa hồng đại lý xổ số)”.

- Trường hợp tổ chức, cá nhânthuê lao động theo thời vụ từ trên 03 tháng đến dưới 12 tháng và có hợp đồnglao động thì không áp dụng khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% theo từng lần chi trảthu nhập hoặc tổng thu nhập mà thực hiện tạm khấu trừ thuế theo Biểu luỹ tiếntừng phần tính trên thu nhập tháng”

Trường hợp Công ty khi tuyểnnhân viên vào làm việc có ký thỏa thuận thử việc từ 01, 02 tháng thì khi chitrả tiền lương, tiền công cho 01, 02 tháng thử việc Công ty phải tính khấu trừthuế TNCN theo thuế suất 10% trên mỗi lần chi trả từ 500.000 đồng trở lên.

Trường hợp cá nhân là người nướcngoài (không có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề độc lập), có ký hợp đồngcung cấp dịch vụ tư vấn với Công ty trong thời hạn 03 tháng, không xác địnhđược là đối tượng cư trú hay không cư trú tại Việt Nam thì khi chi trả tiềncông cho cá nhân nước ngoài, Công ty thực hiện khai thuế TNCN theo thuế suất20% trên toàn bộ thu nhập thực trả theo hợp đồng.

Cục Thuế TP. thông báo Công tybiết để thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đã đượctrích dẫn tại văn bản này.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Phòng Ktra 2;
- Phòng Pháp Chế;
- Lưu: HC, TTHT
1195-107442

TUQ. CỤC TRƯỞNG
TRƯỞNG PHÒNG TUYÊN TRUYỀN
HỖ TRỢ NGƯỜI NỘP THUẾ




Trần Thị Lệ Nga