1. Khái niệm đình chỉ vụ án dân sự.

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc toà án quyết định ngừng việc giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy định.

Trong quá tình tố tụng của vụ án có thể xụất hiện sự kiện làm cho vụ án phải dừng lại, không tiếp tục giải quyết. Những sự kiện dẫn đến chấm dứt việc giải quyết vụ án phải được nhà làm luật dự liệu và quy định trong văn bản quy phạm pháp luật để Tòa án căn cứ vào đó ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Do đó, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án ra quyết định không tiếp tục giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ đã được pháp luật quy định. Sau khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì về nguyên tắc mọi hoạt động tố tụng của Tòa án về vụ án phải ngừng lại.

Đặc điểm của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là sau khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, các hoạt động tố tụng giải quyết vụ án dân sự được ngừng lại.

2. Những căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại Điểu 217 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế:

Thực tế có nhiều quyền và nghĩa vụ dân sự của cá nhân mà pháp luật Nhà nưốc ta đã quy định được thừa kế, nhưng cũng có những quyền và nghĩa vụ không được thừa kế. Thông thường những quyền và nghĩa vụ không được thừa kế là các quyển, nghĩa vụ gắn liền với nhân thân một con người, ví dụ như quyền, nghĩa vụ cấp dưỡng. Nếu có một người khởi kiện yêu cầu bên kia phải cấp dưỡng cho mình theọ quy định của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành, tuy nhiên, sau khi Tòa án đã thụ lý đơn kiện nhưng bên nguyên đơn hoặc bị đơn chết thì vụ án phải được đình chỉ, hoặc trong vụ kiện xin ly hôn, vụ kiện yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi... mà một bên trong vụ án bị chết thì Tòa án cũng phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

b) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó:

Trên thực tế việc xác định “ai” có quyền thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng khi cơ quan, tổ chức bị giải thể hoặc bị tuyên bô phá sản và ngược lại việc xác định không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là một việc khá phức tạp, nên không hiếm trường hợp đã xác định sai do không nắm vững hay do chưa nghiên cứu ký các tiêu chí tròng quá trình xác định.

Muốn xác định cơ quan, tổ chức nào đã bị giải thể hoặc bị tuyên bô' phá sản thuộc trưòng hợp không có cẳ nhẫn, cớ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, hay “ai” phải kê' thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng thì phải căn cứ vào quyết định thành lập, điều lệ, quyết định giải thể... để xác định. Việc xác định “ai” phải thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng còn căn cứ vào khoản 2 Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành để xác định, xử lý. Khi có căn cứ xác định không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng khi cơ quan, tổ chức đó bị giải thể, bị tuyên bô' phá sản thì Tòa án đã thụ lý vụ án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó.

>> Xem thêm:  Hồ sơ vụ án là gì ? Khái niệm về hồ sơ vụ án

c) Người khởi kiện, rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện:

Trưổc khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực, thì trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động chỉ quy định khi nguyên đơn rút đơn khỏi kiện thì Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án. Do đó, thời điểm các Pháp lệnh nói trên có hiệu lực dù trong vụ án có phản tố của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa Vụ liên quan có yêu cầu độc lập nhưng khi nguyên đơn rút đơn, Tòa án chỉ kiểm tra việc rút đơn đó có tự nguyện không, nếu tự nguyên là Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết toàn bộ vụ án, không xem xét yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong trường hợp này bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập muốn tiếp tục vụ kiện họ phải khởi kiện vụ án khác, trong khi trên thực tế có những vụ án đã trải qua nhiều hoạt động tố tụng, đến phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm... thậm chí, vụ án đã trải qua nhiều vòng xét xử, khi vụ án được xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại nguyên đơn thấy nếu tiếp tục vụ kiện sẽ bị thua kiện, và để gây khó dễ cho bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, nguyên đơn đã rút đơn khởi kiện, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ. Trong trường hợp này bị đơn có yêu cầu phản tôi.. phải tiến hành các thủ tục tố tụng lại từ đầu, gây lãng phí thời gian, công sức, vụ việc chậm kết thúc. Khi xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã có quy định hết sức hợp lý, khoa học tại Điều 245 về việc thay đổi địa vị tố tụng, với quy định này, khi nguyên đơn có rút đơn trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử hay rút đơn khỏi kiện tại phiên tòa thì quá trình tố tụng vụ án vẫn được tiếp diễn.

Tại Điều 24 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03- 12-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hưống dẫn như sau:

“1. Khi người khởi kiện rút đơn khởi kiện, thì Toà án cần phải xem xét trong vụ án có yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không để quyết định như sau:

a) Trong trường hợp không có yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập, thì Toà án chấp nhận việc người khởi kiện rút đơn khởi kiện và căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

b) Trong trường hợp có yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thì tuỳ trường hợp mà giải quyết như sau:

b.l) Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình, thi Toà án ra quyết định đinh chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với ỳêu cầu của người khởi kiện đã rút;

b.2) Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình, thì Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện và yêu cầu phản tố của bị đơn đã rút;

b.3) Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình, thì Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã rút.

c) Sau khi ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của đương sự đã rút được hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều này, Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung đối với yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có qúyền lợi, nghĩa vụ liên quan và căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định lại địa vị tố tụng của các đương sự theo đúng quy định tại Điều 219 của Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Điều 33 của Nghị quyết này.

d) Trong trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ yêu Cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập, thì Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết toàn bộ vụ án.

2. “Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định” quy định tại điểm k khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự là các trường hợp lầm căn cứ cho Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự mà trong Bộ luật tố tụng dân sự này chưa quy định nhưng đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc sau khi Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành mới được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó hoặc trong các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

Dù Bộ luật tô tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2011 nhưng hướng dẫn nói trên trong Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP đến nay vẫn có ý nghĩa trong nghiên cứu, ứng dụng trong thực tế.

Đốì với ý thứ hai của điểm c khoản 1 Điều 217 “người khởi kiện không có quyền khởi kiện” được hiểu là người có đơn khỗi kiện nhưng họ không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186 và Điểu 187 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành. Nếu phát hiện việc “người khởi kiện không có quyền khởi kiện” trước khi thụ lý vụ án thì phải áp dụng điểm a khoản 1 Điều 192 để trả lại đơn khởi kiện, nếu sau khi thụ lý vụ án mới phát hiện người khởi kiện không có quyền khởi kiện thì áp dụng điểm c khoản 1 Điều 217 để ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

d) Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án:

Đối với trường hợp cơ quan, tổ chức chính là đương sự

(nguyên đơn) của vụ án nếu cơ quan, tổ chức rút đơn khồi kiện sẽ áp dụng như điểm c khoản 1 Điều 217 nói trên. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức có văn bản khởi kiện vụ án dân sự vì quyển và lợi ích của người khác nhưng sau đó không xác định được ai là nguyên đơn hoặc có nguyên đơn nhưng nguyên đơn không yêu cầu tiếp tục giải quyết vụ án thì Tòa án mối rà quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

đ) Các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án:

Trong trường hợp này các bên đương sự đã tự giải quyết được các mâu thuẫn, xung đột lợi ích nên đã yêu cầu Tòa án khồng giải quyết nữa. Việc không yêu cầu giải quyết phải thể hiện bằng văn bản có tất cả các đương sự cùng ký; nếu trực tiếp trình bày với Tòa án, thì Thẩm phán phải lập biên bản ghi lời khai của họ và yêu cầu tất cả các đương sự cùng ký vào biên bản thì Tòa án mới ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

>> Xem thêm:  Tạm đình chỉ điều tra là gì ? Quy định mới về tạm đình chỉ điều tra

Trường hợp các đương sự tự thỏa thuận việc giải quyết và yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận, thì Tòa án không ra quyết định đình chỉ, mà phải lập biên bản ghi nhận tự thỏa thuận của đương sự, nếu thấy sự tự nguyện thỏa thuận đó không trái pháp luật, mổi ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó.

e) Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện hất khả kháng:

Nếu đương sự là nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai và không phải vì sự kiện bất khả kháng thì dù việc vắng mặt có lý do hay không có lý đo Tòa án vẫn ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Nếu việc vắng mặt lần thứ hai là vì có sự kiện bất khả kháng thì Tòa án không ra quyết định tạm đình chỉ mà phải hoãn để triệu tập lại khi không còn sự kiện bất khả kháng.

Sự kiện bất khả kháng: là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Ví dụ: trên đường đến Tòa án theo giấy triệu tập lần thứ hai của Tòa án thì bị tai nạn, phải vào cấp cứu tại bệnh viện, nên đã không có mặt theo giấy triệu tập, hoặc bị Ốm nặng phải cấp cứu, gia đình có tang ở thời điểm đó, V.V..

g) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó:

Đây là trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã là nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong một vụ án kinh tế, dân sự...và khi giải quyết vụ án sẽ có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.

Ví dụ: Doanh nghiệp là bị đơn trong vụ án dân sự, nếu giải quyết thì doanh nghiệp phải có trách nhiệm giao tài sản của doanh nghiệp cho nguyên đơn.

Cũng cần lưu ý đốì với trường hợp đã có một bản án xác định doanh nghiệp có trách nhiệm trả nợ (10 tỷ đồng) cho một cá nhân hay một doanh nghiệp khác. Bản án đã có hiệu lực pháp luật, đo doanh nghiệp không có tiền, tài sản để thi hành theo bản án nên người được thi hành án đã yêu cầu mở thủ tục phá sản. Trong trường hợp này, Tòa án phải thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chứ không được trả lại đơn hoặc đình chỉ giải quyết đối vối đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với lý do đã được giải quyết bằng bản án. Trưòng hợp này, người được thi hành án là chủ nợ và doanh nghiệp có nghĩa vụ thi hành bản án là con nợ, họ có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản khi thỏa mãn các điều kiện về tiến trình mở thủ tục phá sản.

h) Thời hiệu khởi kiện đã hết:

Thời hiệu khởi kiện đã hết thì đương sự mất quyền khỏi kiện. Việc xác định trường hợp nào thời hiệu khởi kiện còn hay đã hết phải căn cứ vào các quy định về thời hiệu khỏi kiện đôì với loại việc đó. Ví dụ, thời hiệu khởi kiện về chia thừa kế (Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015) là mười năm; thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, và đều tính từ thời điểm mở thừa kế.

>> Xem thêm:  Tạm đình chỉ công việc là gì ? Quy định về tạm đình chỉ công việc

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có quy định: “thời hiệu khởi kiện đã hết” là một căn cứ để trả lại đơn khỏi kiện, nhưng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã bỏ căn cứ này, vì cho rằng, Tòa án chưa thụ lý, xem xét thì không thể kết luận được là đã hết thời hiệu khởi kiện. Đây là một hướng đi thận trọng, và nếu phát triển theo hướng này thì sau này cần phải chặt chẽ hơn nữa trong việc quy định trưòng hợp nào thì mới trả lại đơn khởi kiện, ví dụ Tòa án chưa thụ lý, chưa xem xét thì tại sao đã biết “chưa đủ điều kiện khởi kiện” (điểm d, khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành ), hoặc chưa thụ lý, xem xét mà đã trả lại đơn khởi kiện đôì với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành là: “người khỏi kiện không có quyền khỏi kiện, hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự”, V.V..

Trên thực tế, có trường hợp với các tài liệu do đương sự xuất trình đã có thể biết là “chưa đủ điều kiện khởi kiện”, “người khỏi kiện không có quyền khởi kiện, hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự”, nhưng cũng giống như trường hợp “thòi hiệu khởi kiện đã hết” với các tài liệu do đương sự xuất trình không dễ dàng kết luận

chính xác được. Tuy nhiên, hiện nay, Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành mới chỉ quy định “thời hiệu khỏi kiện đã hết” không thuộc trường hợp trả lại đơn khỏi kiện. Do đó, trong những trường hợp dù vối tài liệu đương sự xúất trình có thể biết là đã hết thời hiệu khởi kiện, nhưng Tòa án vẫn phải thụ lý để kiểm tra, xem xét một cách thận trọng.

Sau khi thụ lý có đủ căn cứ kết luận vụ án đã hết thời hiệu khồi kiện thì căn cứ vào điểm h, khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành để đình chỉ giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, trong thực tế xuất hiện tình huốhg sau khi thụ lý đã có đủ tài liệu khẳng định vụ việc đã hết thời hiệu từ trước khi thụ lý và cũng không có căn cứ để kết luận có việc bắt đầu lại thòi hiệu ở thòi điểm trưốc khi thụ lý vụ án. Nhưng cần xem xét quá trình tố tụng (sau khi thụ lý) bên có nghĩa vụ thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ hoặc các bên đã tự hòa giải với nhau thì có bắt đầu lại thòi hiệu vụ việc dân sự đó hay không? Đây là vấn đề cần hướng dẫn. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả thì Điều 157 Bộ luật dân sự năm 2015 không quy định việc thừa nhận nghĩa vụ phải diễn ra trưốc khi hết thời hiệu. Do đó, cần hướng dẫn theo hướng bên có nghĩa vụ đã thừa nhận nghĩa vụ dù bất kỳ ở thời điểm nào thì đều được coi bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện.

Từ những vấn đề nêu trên các Thẩm phán cần lưu ý khi vận dụng điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành như sau:

- Sau khi thụ lý, Thẩm phán phải thu thập các tài liệu, chứng cứ về thời điểm đương sự biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

- Thu thập các tài liệu, chứng cứ làm rõ việc có hay không có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng ảnh hưởng đến việc khởi kiện; và tài liệu, chứng cứ về có hay không có việc bắt đầu lại thời hiệu.

- Nắm vững các quy định về các trường hợp không áp dụng thời hiệu được quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03-12-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, v.v. để từ đó xác định vụ án còn thòi hiệu hay hết thời hiệu.

i) Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dãn sự hiện hành mà Tòa án đã thụ lý:

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin sao chụp hồ sơ vụ án hình sự mới nhất năm 2021

Đây là các trường hợp lẽ ra phải trả lại đơn khởi kiện, nhưng do Thẩm phán không phát hiện ra nên đã thụ lý, hoặc sau khi thụ lý thì mới xuất hiện các tình huống đó thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Đây là một quy định mới góp phần tháo gỡ vưống mắc trong thời gian vừa qua.

k) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

3. Thời điểm áp dụng

Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự chỉ áp dụng ở giai đoạn sơ thẩm trong đó có hai mốc thời gian chính là:

– Giai đoạn chuẩn bị xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

“3. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

d) Đưa vụ án ra xét xử.”

– Giai đoạn tại phiên tòa sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 219 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

“Điều 219. Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

1. Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

2. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.”

4. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

vể nguyên tắc, khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khỏi kiện vụ án sau không có gì khác trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp ỉuật có tranh chấp, trừ trường hợp pháp luật có quy định được khởi kiện lại.

>> Xem thêm:  Thời gian điều tra trong vụ án hình sự là bao lâu ? Hủy điều tra và tái điều tra là gì ?

Tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành đã quy định rõ chỉ các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192 và điểm c, e, g khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì dù Tòa án đã có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, nhưng sau đó đương sự vẫn có quyền khởi kiện lại.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì các trường hợp đương sự được quyền nộp đơn khởi kiện lại là:

- Người khỏi kiện có quyền khỏi kiện hoặc đã đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.

- Xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, xin thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản hoặc vụ án đòi lại tài sản, đòi lại tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ỏ nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện.

- Đã có đủ điểu kiện khởi kiện.

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Các trường hợp quy định tại điểm c, e, g khoản 1 Điều 217 đương sự được quyền khởi kiện lại là:

- Người khỏi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện.

- Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.

- Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối vởi doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.

>> Xem thêm:  Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì ? Quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ?

Các trường hợp Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án, sau đó, đương sự được quyền khỏi kiện lại như đã nêu ở trên chỉ được Tòa án chấp nhận giải quyết khi thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Do đó, dù đương sự có quyền khỏi kiện lại nhưng trong thời gian còn thời hiệu, không do sự kiện bất khả kháng, không do trỏ ngại khách quan... mà không khởi kiện, sau khi hết thời hiệu khỏi kiện mới khởi kiện thì việc khỏi kiện đó sẽ không được Tòa án chấp nhận.

Trong khoảng thòi gian xuất hiện sự kiện bất khả kháng hoặc trỏ ngại khách quan, thời gian Tòa án nhận đơn, thụ lý đơn đến ngày đương sự nhận được, biết được quyết định đình chỉ giải quyết của Tòa án sẽ không tính vào thời hiệu khỏi kiện. Do đó, khi gặp trường hợp này để đánh giá còn thời hiệu khởi kiện hay đã hết thời hiệu khỏi kiện thì Tòa án phải thu thập chứng cứ, xem xét cụ thể ngày đương sự gặp sự kiện bất khả khảng hoặc trỏ ngại khách quan, ngày kết thúc sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan...để xử lý vấn đề thòi hiệu khỏi kiện.

Đôì với các trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, k khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.

Đôì với các trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại các điểm c, g, h và i khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.

Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự, trong thời hạn năm ngày lạm việc kể từ ngày ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự và Viện Kiểm sát cùng cấp. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

5. Một vài kiến nghị

Trong các trường hợp luật quy định được quyển khởi kiện lại, trường hợp: “người khởi kiện không có quyền khởi kiện” quy định ở điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành và “người khởi kiện có quyền khởi kiện” theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành và được viện dẫn về khoản 3 điểm a Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành được quy định là những căn cứ để thụ lý lại sau khi đã có quyết định có hiệu lực của Tòa án là không khoa học, không chính xác.

Các cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ có quyền khởi kiện khi họ vốn đang có quyền, lợi ích được pháp luật bảo vệ và đang bị “ai” đó xâm phạm... hoặc họ có chức trách khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước, có quyền khởi kiện để bảo vệ lợi ích người khác; các quyền đó, chức trách đó đã được pháp luật quy định cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đó. Do đó, khi các văn bản luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quyền của công dân đang có hiệu lực, chưa bị thay đổi thì các loại chủ thể quy định tại Điều 186, Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành không lúc nào mất quyền khởi kiện. Có chăng họ chỉ có thể bị hạn chế quyền khởi kiện trong một khoảng thòi gian hoặc phải thỏa mãn những điểu kiện mà pháp luật quy định thì mới được khởi kiện ra Tòa án (vì chưa thỏa mãn các điều kiện đó mà khởi kiện thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện hoặc nếu Tòa án đã thụ lý thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với lý do “chưạ đủ điều kiện khởi kiện” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành).

Ví dụ: Trong trưòng hợp người vợ đang mang thai hoặc nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì người chồng không có quyển yêu cầu xin ly hôn. Nếu Tòa án đã thụ lý thì phải đình chỉ giải quyết vụ án; khi người vợ sinh con từ đủ mười hai tháng tuổi trở lên thì người chồng mới có quyền khởi kiện lại.

Như vậy, trừ trường hợp người khởi kiện bị hạn chế quyền khởi kiện trong các trường hợp pháp luật có quy định như phân tích ở trên, còn lại các trường hợp khác khi người khởi kiện thỏa mãn các yêu cầu của Điều 186, Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì không thể cho rằng, “họ” “không có quyền khởi kiện” để ra quyết định đình chỉ, nên không phải trả lại quyền này để họ được quyền khởi kiện lại. Còn nếu cho rằng trước đây họ khởi kiện khi chưa đủ năng lực hành vi tố tụng, chưa đủ điều kiện khởi kiện hoặc thuộc các trưòng hợp cụ thể khác được quy định ở khoản 3 Điều 168, và điểm c, e, g khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì luật đã quy định họ được quyền kiện lại.

>> Xem thêm:  Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì ? Quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Tương tự như vậy, nếu lý giải quy định trường hợp “người khởi kiện có quyền khởi kiện” để nhằm bảo vệ cho trường hợp người khởi kiện có quyền khởi kiện ỏ thời điểm khởi kiện trước đó nhưng đã bị Tòa án đình chỉ và ỗ thời điểm sau này họ lại có quyền khởi kiện lại cũng không đúng. Vì như vậy đã quy định hai căn cứ (căn cứ thụ lý lại và căn cứ giám đốc thẩm) cho một trường hợp. Song điều quan trọng “người khởi kiện không có quyền khởi kiện” tức là họ không có lợi ích bị xâm phạm, cũng không được luật trao cho quyền đi kiện “thay cho người khác hoặc khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng” thì họ sẽ không bao giờ có quyền đi kiện lại chính bị đơn đó, vể cùng một quan hệ pháp luật đó nữa... Cũng không thể giải thích quy định đó dành cho trường hợp Tòa án đã đình chỉ sai, giải quyết sai, cho nên phải dành cho các chủ thể đó quyền khởi kiện lại, vì nếu có đình chỉ sai, các trường hợp này phải đi theo trình tự giám đốc thẩm. Nếu giải thích “người khởi kiện có quyển khởi kiện” là nhằm để xử lý trường hợp “chưa có đủ điều kiện khỗi kiện” và đã bị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án cũng không hợp lý, vì trường hợp khởi kiện chưa đủ điều kiện khởi kiện, bị Tòa án đình chỉ giải quyết đã được pháp luật cho phép khởi kiện lại với căn cứ “đã có đủ điều kiện khởi kiện”.

Với các phân tích ỏ trên tác giả cho rằng, quy định “người khởi kiện không có quyền khởi kiện” và “người khởi kiện có quyền khởi kiện” là những căn cứ để thụ lý lại là không đúng.

Nếu các cơ quan có thẩm quyền cho rằng, quy định trên là đúng thì cơ quan có thẩm quyền phải hướng dẫn, chỉ ra các trường hợp cụ thể thuộc về hai quy định nói trên, có như vậy các Thẩm phán mới có thể áp dụng thống nhất.

Ngoài hai trường hợp luật quy định được quyền khởi kiện lại mà tác giả cho rằng, quy định đó chưa đúng, thì cũng có trường hợp theo tác giả cần phải quy định cho họ được khởi kiện lại, nhưng chưa thấy để cập ở Điểu 218 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, đó là:

- “Các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án” (điểm đ khoản 1 Điều 217). Nếu Tòa ân không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó vì đương sự không có yêu cầu, mà chỉ ra quyết định đình chỉ giải quyết với lý do: các đương sự đã tự giải quyết nên không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết và căn Cứ điểm d khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành để ra quyết định đình chỉ; trong quyết định đình chỉ này đương nhiên không đề cập gì đến nội dung các bên tự thỏa thuận, tức là Tòa án chưa giải quyết về nội dung của tranh chấp, nhưng sau khi quyết định đình chỉ có hiệu lực, các đương sự lại tranh chấp với nhau, có thể vì lúc thỏa thuận thiếu cụ thể, hoặc hiểu lầm ý của nhau trong quá trình tự thỏa thuận, và cũng có thể vì lý do có đương sự nào đó lại đưa thêm yêu sách nên các bên không tự giải quyết được theo thỏa thuận đó và khởi kiện ra Tòa án, thời hiệu khởi kiện vẫn còn, vậy không có lý do gì lại không cho các đương sự được quyền khởi kiện lại, thụ lý lại.

- Đôì với trường hợp “cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án” (điểm d khoản 1 Điều 217) thì Tòa án ra quyết định đình chỉ. Sau khi quyết định đình chỉ giải quyết vụ án có hiệu lực, và còn thời hiệu khởi kiện, nguyên đơn lại yêu cầu và được cơ quan, tổ chức đó có văn bản khởi kiện lại thì Tòa án có chấp nhận đơn khởi kiện, thụ lý lại hay không? Theo tác giả thì phải chấp nhận yêu cầu khởi kiện này, phải thụ lý đơn khởi kiện thì mới hợp lý. Sau khi thụ lý, Tòa án kiểm tra, xem xét thấy nếu hết thời hiệu khởi kiện thì căn cứ vào điểm h khoản 1 Điều 192 Bộ luật tô tụng dân sự hiện hành để đình chỉ giải quyết vụ án; Nếu thời hiệu vẫn còn thì tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Với các trường hợp nêu trên, khi tiếp tục có sự sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự thì cần quy định thêm trường hợp được quyền khởi kiện lại. Trước mắt để xử lý bất cập này, nên chăng cần phải có văn bản hướng dẫn liên ngành hoặc của Hội đồng Thẩm phán để từ đó có cơ sở áp dụng thông nhất trong thực tiễn.

Trong quá trình áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, nếu gặp trường hợp “Các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án” (điểm b khoản 1 Điểu 217) thì Thẩm phán hưóng dẫn cho đương sự rút đơn khởi kiện. Khi đương sự đã rút đơn khởi kiện hoặc đương sự khai tại Tòa án và Thẩm phán lập biên bản vể việc ngưòi khởi kiện xin rút đơn khởi kiện để các đương sự vể tự thỏa thuận việc giải quyết tranh chấp, thì Thẩm phán áp dụng điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Nếu sau khi áp dựng điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, mà các đương sự không tự giải quyết được việc tranh chấp, họ vẫn có quyển khởi kiện lại. Đây là một hưống xử lý không trái pháp luật và vẫn bảo đảm được quyền của các đương sự.

>> Xem thêm:  Kỹ năng của luật sư trong việc biết bài bào chữa, bảo vệ trong vụ án hình sự

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Khái niệm chung về bản án?

Trả lời:

Bản án là Văn bản ghi nhận phán quyết của Tòa án sau khi xét xử một vụ án. Bản án đánh dấu sự kết thúc toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cho nên nội dung của nó phải phản ánh những kết quả của phiên tòa và ý kiến phân tích, đánh giá của hội đồng xét xử. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ viết bản án.

Câu hỏi: Khái niệm chung về hoạt động xét xử?

Trả lời:

Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lí của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lí của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất; mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc.

Câu hỏi: Khái niệm vụ án dân sự là gì?

Trả lời:

Vụ án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy định thì cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.