NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Bước cuối cùng trong thủ tục nhập khẩu hàng hóa vào Hoa Kỳ: Thanh toán

Một khi hải quan quyết định giá trị phải đóng thuế và tỷ lệ thuế có thể áp dụng, nhà nhập khẩu tiến hành thanh toán để tiếp nhận hàng. Lúc này, bất kỳ việc trả thuế thừa nào cũng sẽ được trả lại hay trả chưa đủ sẽ phải đóng thêm.

Nếu Cục Hải quan quyết định rằng việc phân loại, đánh thuế, hay giá trị phải đóng thuế quan của việc nhập hàng, khác với những gì được báo cáo khi nhập hàng vào, nếu sự quyết định này cho thấy mức thuế đã trả vượt quá mức thuế phải trả, thì nhà nhập khẩu được bồi hoàn khoản tiền thuế đặt cọc dôi ra. Nếu một thay đổi dẫn đến kết quả là tỷ lệ thuế cao hơn, thì nhà nhập khẩu sẽ được thông báo và có được một cơ hội để khiếu nại về mức thuế nhập hàng vào, về sự phân loại và sự đánh giá. Nếu nhà nhập khẩu không hồi đáp lại thông báo này, hay nếu người ta thấy thư hồi đáp đó không có giá trị, thì thuế vẫn được thanh toán đúng như đã sủa lại, và nhà nhập khẩu phải trả khoản thuế thêm này.

Việc thanh toán được hoàn thành bằng việc gửi một thông báo để dán lên bảng tin công cộng tại cơ quan hải quan. Giới hạn thời gian để phản đối chỉ được bắt đầu từ ngày gửi thông báo, việc phản đối không được thu xếp trước khi thanh toán được công bố. Các thông bảo thường được gửi cho một nhà nhập khẩu, nhưng không giới hạn thời gian liên quan đến việc phản đối, khiếu nại.

Chỉ đến khi mọi sự phản đối đã được quyết định thì việc thanh toán mới kết thúc. Tương tự như vậy, quyết định có tính hành chính đối với một sự phản đối sẽ chỉ là cuối cùng khi mà bất cứ một sự kiện cáo nào liên quan đến nó kết thúc. Mặc dù, thông thường Cục Hải quan yêu cầu thanh toán việc tiếp nhận hàng trong vòng một năm, song nó có thể mở rộng, hay hoàn lại việc thanh toán sự tiếp nhận hàng do tòa án hay quy chế yêu cầu. Ví dụ : việc mở rộng được sử dụng khi việc phân loại, hay thông tin về giá trị chưa được hoàn thiên. Việc mở rộng nằm trong khoảng thời gian một năm và không vượt quá ba năm. Việc ngừng Ịại (Ví dụ : được yêu cầu trong trường hợp chống viêc sơ bô xuất cảng hàng với giá hạ, hay việc làm cân bằng thuế) vẫn có hiệu Lực cho đến khi được giải quyết.

2. Những hình thức tiếp nhận khác:

2.1 Hàng được lữu trữ tại kho và tiếp nhận :

Ngoài việc nhập khẩu hàng hóa để phục vụ mục đích tiêu dùng hiện tại, phần lớn hàng hóa có thể được nhập khẩu để tích lũy trong kho và có thể được lưu giữ trong kho của Hải quan lâu nhất là 5 năm. Cục Hải quan kiểm soát việc xuất và nhập hàng hóa ở các kho này. Chỉ khi những hàng hóa này được xuất kho để tiêu dùng thì mới cần phải đặt cọc khoản tiền thuế ước tính cho lượng hàng này. Việc nhận hàng từ các kho Hải quan nói trên có thể do người chịu trách nhiệm cao nhất về việc thanh toán tiền thuế nhập khẩu các hàng hóa này đảm nhận.

Bên cạnh việc dự trữ hàng, hàng hóa trong kho của Hải quan cũng có thể được lau chùi, xếp đặt, gói lại hoặc được điều khiển, hay ở trong kho hàng đặc biệt, trải qua quá trình hoạt động chế tạo. Sau đó hàng hóa xuất khẩu mà không phải đóng thuế, hoặc phải đóng thuế khi đưa ra để tiêu thụ ở Mỹ. Hàng hóa được tiếp nhận để chứa trong kho phải đóng thuế theo mức thuế quy định, có hiệu lực tại thời điểm hàng hóa được rút ra khỏi kho hàng để tiêu thụ và các tài liệu được lưu lại tại Cục Hải quan. Hàng hóa cũng có thể được tiếp nhận vào trong một khu vực ngoại thương để dự trữ, hay để làm các hoạt động chế tạo nào đó, sau đó được xuất khẩu hoặc được đưa ra tiêu thụ. Việc chi trả thuế cũng được hoãn lại trong trường hợp này.

Phần lớn hàng hóa khi đến cảng tiếp nhận của Mỹ được tiếp nhận mà không phải trả thuế, nếu nó được vận chuyển từ kho chứa đến bất kỳ một cảng tiếp nhân nào do nhà nhập khẩu trù liệu, và do một tàu chuyên chở hàng hóa mà anh ta đã quy định. Hàng hóa có thể được gửi đến một kho chứa khác, ở một địa phương khác, hay cho tàu chở đến một cảng khác để xuất khẩu.

2.2 Hàng được tiếp nhận bằng đường bưu điện:

Ngoài ra, hàng hóa có thể được tiếp nhận vào Mỹ bằng đường bưu điện. Tất cả các gói hàng được gửi bằng đường bưu chính phải kèm với một tờ khai Hải quan do cơ quan bưu chính nước ngoài cấp. Tờ khai đó mô tả hàng hóa và giá trị của những thứ chứa bên trong. Các chuyến hàng hóa thương mại trên tàu phải có một hóa đơn hàng kèm phía ngoài, hay kèm vào các gói hàng có mang tờ khai hải quan. Nếu giá trị nhập khẩu bằng bưu điện không vượt quá 1.000 đô la, bưu điện Mỹ sẽ giao hàng tới địa chỉ, sau khi đã trả tiền thuế ; nếu giá trị vượt quá 1.000 đô la, người nhận sẽ được thông báo để thu xếp việc tiếp nhận chính thức cảng hải quan gần nhất.

2.3 Hình thức tiếp nhận đánh giá và không chính thức:

Những hình thức tiếp nhận khác bao gồm sự tiếp nhận đánh giá (ví dụ: đối với hàng hóa bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển, hàng hóa được lưu giữ khỏi bị mất, và quà gửi từ nước ngoài tới cho người dân Mỹ) và sự tiếp nhận không chính thức (ví dụ: với những hàng hóa nhất định không vượt quá 1.000 đô la).

Phần 304 của đạo luật thuế quan năm 1930 (như đã được sửa đổi) đòi hỏi rằng, trữ khi được miễn trừ cụ thể, hàng hóa được sản xuất ở nước ngoài (hay công ten nơ của hàng hóa đó nếu cũng được yêu cầu) đươc nhập khẩu, vào Hoa Kỳ, phải được đánh dấu tên nước sản xuất ra hàng hóa đó, ở chỗ đáng chú ý để có thể đọc được dễ dàng, không thể xóa được, và giữ được càng lâu càng tốt. Những quy định cho sự lâu bền đủ để bảo đảm dấu hiệu đó sẽ vẫn còn ở trên hàng đó (hay ở trên công ten nơ của nó), dù có bất kỳ một sự việc bất ngờ nào xảy ra mà không thể đoán trước được, cho đến khi nó đến được tay người mua cuối cùng, trừ khi nó bị lấy đi một cách cố ý. Đạo luật về thuế quan quy định nhưng biên pháp cụ thể về đánh dấu đối với một Số loại hàng cụ thể, và những biên pháp này được đưa ra trong các quy định về hải quan. Đạo luật về thương mại và thuế quan năm 1984 cũng quy định những dấu hiệu đối với những hàng hóa đặc biệt. Dấu hiệu phải tồn tại được trong lúc giao hàng thông thường và chuyên chở để dự trữ.

Mục đích của yêu cầu đánh dấu hàng là để chỉ ra cho "người mua hàng cuối cùng"ở Hoa Kỳ về nơi hàng hóa được chế tạo hay sản xuất. Nếu hàng hóa không được đánh dấu đúng khi nhập khẩu, thì thuế đánh dấu hiệu sẽ tương đương 10% giá trị thuế quan của hàng hóa được định giá, trừ phi hàng hóa được xuất khẩu, phá hủy, hay đánh dấu đúng dưới sự giám sát của hải quan trước khi thanh toán.

Nếu hàng hóa nhập khẩu được kết hợp với một sản phẩm khác sau khi nhập khẩu, trước khi giao hàng cho ngườỉ mua cuối cùng, và để nước sản xuất mặt hàng nhập khẩu này sẽ cho thấy rõ sau sự kết hợp như vậy, Hoa Kỳ yêu cảu ghi nhãn để chỉ ra rõ rằng nguồn gốc chỉ định trên nhãn là nguồn gốc của hàng nhập khẩu chứ không phải của hàng kết hợp với hàng nhập khẩu đó. Ví dụ : vỏ chai được nhập vào, sau đó được làm đầy ở Hoa Kỳ nên được đánh dấu "chai được sản xuất ở" (tên nước).

Một Số hàng hóa nhất định được nhập khu vào Hoa Kỳ không cần phải đánh dấu để chỉ ra tên nước sản xuất nó. Những hàng hóa này được ghi trong danh sách ở phần kèm theo. Tuy nhiên, các vỏ bọc bên ngoài những hàng hóa này đến được người mua cuối cùng một cách bình thường ở Mỹ phải được ghi tên, đánh dấu nước sản xuất mặt hàng đó.

Hơn nữa, những loại hàng sau đây (và trong 3 trường hợp đầu) phần vỏ bọc bên ngoài của chúng được miễn trừ khỏi yêu cầu ghi tên nước sản xuất:

+ Một loại hàng hóa được nhập khẩu cho nhà nhập khẩu sử dụng và không có ý bán.

+ Một loại hàng hóa sẽ được nhà nhập khẩu gia công ở Mỹ vì một lý do nào đó, chứ không phải để che giấu nguồn gốc của hàng hóa, mặc dù trong quá trình gia công đó nhất thiết phải phá bỏ hay phủ kín vĩnh viễn dấu ghi xuất xứ.

+ Một loại hàng hóa mà người Mỹ mua cuối cùng biết rõ nguồn gốc của nó, mặc dù hàng hóa đó không được đánh dấu. Ví dụ : khi hợp đồng giữa người mua cuối cùng , ở Mỹ và nhà cung cấp ở nước ngoài đảm bảo hợp đồng này sẽ được thu xếp chỉ với mặt hàng được chế tạo hay sản xuất ở một nước cụ thể, người mua cuối cùng rõ ràng biết được nguồn gốc của nước sản xuất.

+ Những mặt hàng không thể đánh dấu được.

+ Những mặt hàng không thể đánh dấu mà không gây tổn hại, trước khi được chất lên chở tới Mỹ.

+ Những mặt hàng không thể đánh dấu trước khi được chở tới Mỹ, trừ ở một giá hoàn lại việc cấm nhập khẩu

+ Các hàng thô, các ngụyên liệu sơ cấp.

+ Những hàng hóa đã được sản xuất hơn 20 năm, trước khi nó được nhập vào Hoa Kỳ.

+ Những mặt hàng được tiếp nhận, xuất ra khỏi kho chứa để xuất khẩu ngay, hạy để vân chuyển và xuất khẩu.

+ Những sản phẩm cá ở Hoa Kỳ được miễn thuế.

+ Những sản phẩm của Mỹ đã được xuất khẩu và lại được đưa trở lại.

+ Các mặt hàng có giá trị không quá 5 đô la được nhập khẩu mà không phải làm tiếp nhân (một cách không chính thức).

Khi đánh dấu vào vỏ bọc ngoài của hàng hóa đã chỉ rõ tên nước sản xuất mặt hàng đó, mặt hàng này sẽ đến tạy người mua cuối cùng trong hộp không bị mở, thì bản thân mặt hàng này được miễn trừ khỏi việc đánh dấu. Ví dụ: bóng ten nít trong các thùng chân không đã được niêm phong không cần phải đánh đấu, nhưng thùng phải được đánh dấu để chỉ ra tên nước sản xuất.

Hàng hóa của Mỹ xuất ra nước ngoài, được lắp ráp thêm tối thiểu, mà không làm thay đổi đáng kể những bởị phần cấu thành do Mỹ sản xuất, sau đó tái nhập khẩu vào Mỹ được miễn đánh dấu. Tụy nhiên, chúng có thể không được phép đánh dấu "sản xuất tại Mỹ". Tuy vậy, nếu các bộ phân, thiết bị của Mỹ bị thay đổi đáng kể sau khi tham gia vào quy trình chế tạo, lap đặt ở nước ngoài, chúng phải được đánh dấu : "lắp đặt tại (tên nước), từ những nguyên Liệu có nguồn gốc Mỹ", hay một câu tương tự.

Nếu một mặt hàng được đóng gói lại vào một vỏ bọc mới để bán cho người mua cuối cùng, nhà nhập khẩu phải chứng nhận rằng vỏ bọc mới sẽ được ghi tên nước sản xuất, hay anh ta sẽ thông báo rằng việc đóng gói của hàng hóa phải phù hợp với yêu cầu. Quá trình đóng gói lại không thể làm mờ đi những dấu hiệu của nước sản xuất nó, nếu có thể, cái vỏ bọc mà nó được gói lại phải để tên nước sản xuất.

Bên cạnh những yêu cầu về đánh dấu tên nước sản xuất, một vài cơ quan trong chính phủ Mỹ đòi có dấu hiệu hay nhãn đặc biệt cho một Số sản phẩm nhất định gồm đồ gỗ, hàng dệt, sản phẩm về lông thú, bao bì, đồ uống có cồn, sắt và ống thép, Ống lắp ráp, các vòng cống ngầm, khung kho hay đồ che phủ, các ống xi lanh có ga được bọc vải, dao, kẹp giấy, kéo to, dao cạo an toàn, các dụng cụ giải phẫu, các đô dùng khoa học và thí nghiêm, kìm, các công ten nơ chân không, các linh kiện của đồng hồ, các hộp đựng đồng hồ bàn, đồng hồ đeo tay.

Cục Hải quan sẽ không tiếp nhận bất kỳ loại hàng sao chép hay làm giả nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại hay một loại nhãn hiệu hàng hóa, hay tên hàng giống hệt, trừ khi người chủ nhãn hiệu hàng hóa hay tên thương mại đó cho quyền nhập khẩu, đánh dấu, hoặc tên ghi trên hàng hóa bị xóa đi trước khi được tiếp nhận vào. Bên cạnh đó, Hải quan sẽ nắm giữ những mặt hàng nhập khẩu mang nhãn hiệu hàng hóa giả và thông báo cho chủ của nhãn hiệu hàng hóa đó, Hải quan cũng sẽ thu giữ những hàng nhập khẩu vi phạm bản quyền, truy tố, phạt và có thể áp dụng cả việc bỏ tù.

Khách hàng mua cuối cùng, được định nghĩa là người mua sau cùng tại Mỹ sẽ nhận được mặt hàng này dưới dạng nhập khẩu của nó. Người mua mặt hàng này trước khi nó được "biến đổi một cách đáng kể", hay được tiêu thụ là người mua cuối cùng.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: FOB là gì trong xuất nhập khẩu hàng hóa?

Trả lời:

FOB là một điều khoản giao hàng trong Incoterms được sử dụng rộng rãi trong mua bán hàng hóa quốc tế.

Câu hỏi: INCOTERMS được hiểu là gì?

Trả lời:

INCOTERMS - International Commerce Terms:  Là bộ tập hợp các quy tắc thương mại quốc tế quy định về trách nhiệm của các bên trong hợp đồng ngoại thương.

Câu hỏi: Vai trò của INCOTERMS là gì?

Trả lời:

Incoterms có 5 vai trò quan trọng như sau:

Là 1 bộ quy tắc nhằm hệ thống hóa các tập quán thương mại quốc tế.

Là tiếng nói chung trong giao nhận và vận tải hàng hóa.

Là phương tiện quan trọng để xây dựng hợp đồng ngoại thương.

 Là phương thức để xác định giá cả mua bán hàng hóa.

 Là căn cứ pháp lý trong xử lí khiếu nại và tranh chấp giữa các bên.