Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai năm 2013 số 45/2013/QH13

Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11

Luật kinh doanh bất động sản năm 2014

2. Nội dung phân tích: 

Thưa luật sư! tôi là một giáo viên, vừa rồi tôi có mua một mảnh ruộng gần nhà. Khi lên phòng địa chính sang tên thì họ nói tôi không được đứng tên mua đất và đứng tên sổ đỏ. Xin hỏi luật sư như vậy có đúng không? Và tôi muốn đứng tên sổ thì phải làm gì ạ? Xin luật sư tư vấn giúp ạ

Điều 190 và Điều 191 Luật Đất đai quy định như sau:

"Điều 190. Điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao đất, do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì chỉ được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng xã, phường, thị trấn cho hộ gia đình, cá nhân khác để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyển đổi quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ.
Điều 191. Trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất
1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất.
2. Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
3. Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa.
4. Hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, nếu không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đó." 

Như vậy, bạn cần phải xem xét bạn có thuộc các trường hợp pháp luật nêu trên hay không, nếu bạn thuộc những trường hợp nêu trên bạn sẽ không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn thủ tục mua bán, chuyển nhượng đất đai, nhà ở

Dear A/chị Em đang có ý định mua mảnh đất 5 phần trăm. Em xin a chi tư vấn giúp em - mẫu mua bán đất 5% . - mảnh đất không có số thửa đất và tờ thuế đất thì có ổn ko? Em cảm on. Đã gửi từ iPhone của tôi

Điều 132 Luật Đất đai quy định như sau:

"Điều 132. Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích
1. Căn cứ vào quỹ đất, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, mỗi xã, phường, thị trấn được lập quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích không quá 5% tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản để phục vụ cho các nhu cầu công ích của địa phương.
Đất nông nghiệp do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trả lại hoặc tặng cho quyền sử dụng cho Nhà nước, đất khai hoang, đất nông nghiệp thu hồi là nguồn để hình thành hoặc bổ sung cho quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.
Đối với những nơi đã để lại quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích vượt quá 5% thì diện tích ngoài mức 5% được sử dụng để xây dựng hoặc bồi thường khi sử dụng đất khác để xây dựng các công trình công cộng của địa phương; giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản tại địa phương chưa được giao đất hoặc thiếu đất sản xuất.
2. Quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn để sử dụng vào các mục đích sau đây:
a) Xây dựng các công trình công cộng của xã, phường, thị trấn bao gồm công trình văn hóa, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí công cộng, y tế, giáo dục, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình công cộng khác theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
b) Bồi thường cho người có đất được sử dụng để xây dựng các công trình công cộng quy định tại điểm a khoản này;
c) Xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương.
3. Đối với diện tích đất chưa sử dụng vào các mục đích quy định tại khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp xã cho hộ gia đình, cá nhân tại địa phương thuê để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản theo hình thức đấu giá để cho thuê. Thời hạn sử dụng đất đối với mỗi lần thuê không quá 05 năm.
Tiền thu được từ việc cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích phải nộp vào ngân sách nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý và chỉ được dùng cho nhu cầu công ích của xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật.
4. Quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất quản lý, sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt."

 Như vậy, theo quy định của luật bạn không được "mua" đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích.

chào luật sư ! năm 2015 tôi có mua 1 miếng đất ngang 5 dài 25m² bằng giấy viết tay . do diện tích đất không đủ 500m² nên không thể sang tên . tôi đã xây nhà ở kiêng cố. hiện tại chủ đất đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất . và đã cầm cố giấy tờ đất cho người khác . vậy xin luật sư hướng dẫn tôi làm thế nào để giữ được nhà và đất ? nếu chủ đất không có tiền chuộc giấy tờ đất thì tôi phải làm sao ? mong luật sư hướng dẫn giúp tôi tôi xin chân thành biết ơn !

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ năm 2015 do đó luật áp dụng ở đây là Luật Đất đai năm 2013:

Điều 211 Luật Đất đai quy định như sau:

"Điều 211. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014.
Luật đất đai số 13/2003/QH11 và Nghị quyết số 49/2013/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội về kéo dài thời hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối của hộ gia đình, cá nhân hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.
2. Bãi bỏ Điều 57 của Luật hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11; Điều 2 của Luật số 34/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai; Điều 4 của Luật số 38/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản; Điều 264 của Luật tố tụng hành chính số 64/2010/QH12; các quy định về trưng dụng đất trong Luật trưng mua, trưng dụng tài sản số 15/2008/QH12" 

Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai quy định như sau:

"3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;
b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;
c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;
d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã."

Như vậy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất bắt buộc phải công chứng. Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy viết tay, do đó việc chuyển nhượng này hoàn toàn không đáp ứng quy định của luật nên hợp đồng sẽ bị tuyên vô hiệu theo quy định của Điều 134 Bộ luật Dân sư:

Điều 134. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

>> Xem thêm:  Sổ đỏ đứng tên một mình vợ khi bán chồng có phải ký tên hay không ?

Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.

Khi hợp đồng đã bị tuyên vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu theo quy định của Điều 137 Bộ luật Dân sự:

"Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường."

Như vậy, trong trường hợp này, việc bạn giữ lại nhà và đất là rất khó.

Tôi mua 01 lô đất, mới ký hợp đồng công chứng tại phòng công chứng, chưa ra sổ đỏ,tôi có thể sử dụng hợp đồng công chứng mua bán đất để xin giấy phép xây dựng nhà ở được không?

Điềy 167 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 167. Đăng ký quyền sở hữu tài sản

Quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký bất động sản. Quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

Và Điều 168 Luật Đất đai quy định:

>> Xem thêm:  Có được xin cấp bổ sung đất thiếu trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất so với thực tế hay không?

"Điều 168. Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất
1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền.
2. Thời điểm người thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở để bán hoặc cho thuê; chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng thời chuyển nhượng toàn bộ dự án đối với dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê sau khi có Giấy chứng nhận và có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 194 của Luật này."

Theo quy định của pháp luật trên thì khi bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thì bạn mới được pháp luật công nhận quyền sử dụng mảnh đất này. Do đó, nếu như bạn mới chỉ có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng thì bạn vẫn chưa phải là người được pháp luật thừa nhận quyền sử dụng đất.

Như vậy, khi bạn làm thủ tục xin cấp giấy phép xây dựng khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thì bạn cần phải yêu cầu người có tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất lập hợp đồng ủy quyền cho bạn.

gia đình tôi có bán một miếng đất cho người tên phượng năm 1992 (nhưng người viết là bên mua ghi ,nói chung là bên mua ghi rồi đưa chúng tô xem) nội dung như sau: tôi và vợ tôi tên.......cùng các con ngụ tại.........đồng ý nhượng cái hầm cá diện tích :ngang 6n dài 33m cho cháu tôi tên ........ hiện công tác tại........ để cháu tôi xây dựng nhà nếu sau này ai đứng ra tranh trấp thì gia đình tôi chịu trách nhiệm trước pháp luật Gia đình bên bán có ghi họ tên nhưng không kí tên 1 chữ kí . vậy xin luật sư cho biết giấy tay mua bán đất trên co hiệu lực hay không ,và phần trăm lấy lại mảnh đất cao không Xin Cảm Ơn
Hiện mình đang tính mua 1 mảnh đất mà đất đó chưa có giấy CNQSDD. Người bán chỉ có giấy hợp đồng mua bán đất với 1 công ty bất động sản đã được công chứng. Như vậy khi mình mua thì mình và người bán và cả công ty bất động sản ra công chứng thì hợp đồng chuyển nhượng từ người bán sang mình có hợp lệ hay không ? Và sau khoảng mấy tháng nữa có giấy CNQSDD thì giấy CNQSDD đó có phải đúng tên mình không vậy ?

 Theo quy định của Điều 36 Luật Kinh doanh bất động sản thì bạn chỉ có quyền được nhận chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng. Do đó, việc bạn muốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ không được cơ quan pháp luật thừa nhận:

"Điều 36. Chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng
1. Bên thuê mua có quyền chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng khi hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bên thuê mua chưa được nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng phải được lập thành văn bản, có xác nhận của bên cho thuê mua vào văn bản chuyển nhượng.
2. Bên nhận chuyển nhượng hợp đồng thuê mua được tiếp tục thực hiện các quyền, nghĩa vụ của bên thuê mua nhà, công trình xây dựng với bên cho thuê mua. Bên cho thuê mua có trách nhiệm tạo điều kiện cho các bên trong việc chuyển nhượng hợp đồng và không được thu bất kỳ khoản chi phí nào liên quan đến việc chuyển nhượng hợp đồng.
3. Bên nhận chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng cuối cùng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
4. Việc chuyển nhượng hợp đồng quy định tại Điều này không áp dụng đối với hợp đồng thuê mua nhà ở xã hội.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Chào luật sư, cháu tên là quỳnh ạ.luật sư tư vấn giúp cháu được không ạ?. Dạ thưa luật sư nhà cháu có bán đất sx vào năm 1996 với thời hạn là bán 20 năm ạ,với diện tích là 4 sào dt đất nông nghiệp.và cứ 50 năm lại chia đất lại một lần và gia đình cháu xử dụng đất đến năm 96 thì còn 20 năm thì chia lại,tức là đến năm 2014 là chia lại đất.thì gia đình cháu sẽ nhận lại diện tích 4 xào đó.nhưng đến năm 2014 thì bên mua không trả lại đất cho gia đình cháu.vì khi bán hai bên không có bất cứ một giấy tờ nào hết về việc mua bán đất,nhưng trong sổ nhà đất nhà cháu vẫn còn diện tích 4xào đất đó trong sổ. Cùng thời điểm đó 1996 thì bên mua củng mua bán đất như vậy với hơn 50 hộ khác củng với thỏa thuận 20 năm, tức là đến 2014 phải trả lại đất.nhưng vì không có giấy tờ mua bán gì nên bên mua k trao trả lại đất cho dân.tất cả các hộ dân mất đất như nhà cháu có làm đơn kiến nghị ra ub xã nhưng họ không giải quyết.trong khi trong sổ tất cả các hộ đã bán đất vẫn còn nguyên diện tích đất trong sổ nhà đất Xin luật sư tư vấn giúp cháu và cháu và tất cả hộ dận bây giờ phải làm sao?. Cháu xin chân thành cảm ơn luật sư -- Gửi từ điện thoại thông minh OPPO

Để giải quyết về vấn đề tranh chấp đất đai hiện tại, gia đình bạn và những hộ dân xung quanh nên làm đơn yêu cầu cơ quan xã/phường hòa giải. Nếu hòa giải không thành gia đình bạn và những hộ xung quanh cần nộp đơn nên cơ quan Tòa án nhân dân để được giải quyết theo quy định của Điều 202 và Điều 203 Luật Đất đai:

"Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành." 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Những thắc mắc về mảnh đất thuộc quy hoạch ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật Đất đai.

>> Xem thêm:  Hỏi về thủ tục mua bán đất ở, đất tái định cư và mua đất chưa có sổ đỏ ?