Sau đó, chị tôi vỡ nợ nên mượn tôi 30 triệu và khấu trừ số đất đã bán, tuy nhiên vì tin tưởng nên giấy viết tay của tôi đều hủy hết mà không biết chị ấy vẫn giữ giấy tay mua bán đất đó. Giao dịch mua bán trong mỗi trường hợp trên đều có anh em ruột làm chứng. Nhưng thời điểm tôi bán đất cho chị, tôi không phải là người sỡ hữu lô đất, mà ba tôi là người sỡ hữu, trong giấy bán viết tay không có chữ ký của ba tôi.

Từ sau khi khấu trừ 30 triệu đó đến nay thì miếng đất tranh chấp này do tôi canh tác (trồng cây và xây nhà ở). Năm 2009 tôi đã làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại địa phương (Do ba tôi chuyển nhượng hợp pháp và không có tranh chấp trong gia đình). Và đến thời điểm này, khi giá trị miếng đất lên đến 600 triệu thì chị ấy đòi lại đất dựa vào tất cả giấy tay đã ký vào năm 2001-2002. Vậy theo luật sư chị ấy có đòi được không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đai của công ty Luật Minh Khuê.

Mua đất bằng giấy viết tay có đòi lại được không?

Luật sư tư vấn mua bán, chuyển nhượng đất đai, gọi: 1900.6162

Trả lời: Chào bạn, với thắc mắc của bạn trong tình huống này, công ty Luật Minh Khuê xin giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai năm 2013

2. Nội dung tư vấn:

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 thì :

"Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này.

...

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này"

Theo các quy định trên, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (mua bán đất đai) bắt buộc phải công chứng tại cơ quan có thẩm quyền.

Tuy nhiên, nếu hợp đồng mua bán đất đai được xác lập trước thời điểm Luật Đất đai 2003 có hiệu lực (01/7/2004) thì hợp đồng mua bán này không bắt buộc phải công chứng.

Trong trường hợp của bạn, hợp đồng mua bán đất bằng giấy viết tay giữa bạn và chị bạn được xác lập vào năm 2001 - 2002, do vậy vẫn được coi là hợp pháp. Và những hợp đồng mua bán từ 15 công đất đến 9 công đất và nền nhà 7m sau đó là khấu trừ đất để trả nợ, nếu như đều được lập thành văn bản thì văn bản sau cùng là văn bản có hiệu lực. Hơn nữa còn có toàn bộ anh em trong gia đình làm chứng nên việc thỏa thuận khấu trừ đất để trả khoản nợ giữa hai bên là hoàn toàn hợp pháp.

Mặt khác, căn cứ theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 về Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất mà có giấy tờ về quyền sử dụng đất, nếu như chị bạn muốn được đòi lại mảnh đất đó thì chị bạn phải là người sử dụng ổn định lâu dài và có giấy tờ từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993.

Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp, từ thời điểm khấu trừ 30 triệu đồng nói trên cho đến nay thì miếng đất này do bạn canh tác. Do đó, chị bạn không thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất đó.

Tóm lại, gia đình bạn sử dụng ổn định mảnh đất đó từ khoảng năm 2002 đến nay, và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn người chị của bạn đã khấu trừ đất để thanh toán nợ công thêm có người làm chứng, và không sử dụng đất suốt từ thời gian đó đến nay. Vì vậy, hiện tại chủ sở hữu mảnh đất hợp pháp là bạn chứ không phải chị bạn. Trong trường hợp này việc đòi đất của chị bạn sẽ không được giải quyết.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê