1. Khái quát chung

Tội giết người do vượt quá giói hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ ngưòi phạm tội được quy định như thế nào?

Điều 126. Tội giết người do vượt quá giói hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ ngưòi phạm tội
1. Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội đổi với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

2. Bình luận

Điều luật gồm 2 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; khoản 2 quy định trường hợp phạm tội tăng nặng.
Điều luật không mô tả mà chỉ nhắc lại tội danh. Theo đó, có thể định nghĩa tội giết ngựời do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng người khác trong khỉ thực hiện quyền phòng vệ chính đáng, quyền bắt giữ người phạm tội nhưng đã vượt quá giới hạn của các quyền này.
Như vậy, về tính chất, đây cũng là trường họp giết người có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt. Để thể hiện rõ sự phân hoá trách nhiệm hình sự, BLHS tách trường hợp giết người này khỏi tội giết người (nói chung) và quy định thành tội danh riêng - tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội. Trong BLHS năm 1999 mới chỉ có tội danh giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. BLHS năm 2015 bổ sung trường họp giết người do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội vì Bộ luật đã quy định thêm trường họp “Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội” (Điều 24 BLHS).
So với tội giết người được quy định tại Điều 123 BLHS, tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội cũng có các dấu hiệu của tội giết người và có thêm dấu hiệu vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức càn thiết khi bắt giữ người phạm tội.

2.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Dấu hiệu đặc biệt của chủ thể ở tội phạm này thể hiện ở chỗ họ phải là người thực hiện quyền phòng vệ chính đáng hoặc quyền bắt giữ người phạm tội khi thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng người khác.
Theo Điều 12 BLHS, chủ thể của tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.

2.2 Dấu hiệu hành vi khách quan và hậu quả của tội phạm

Hành vi khách quan được quy định của tội này là hành vi tước đoạt tính mạng người có hành vi tấn công hoặc người phạm tội bị bắt giữ. Hành vi này đã gây ra hậu quả chết người hay nói cách khác, hành vi tước đoạt tính mạng người có hành vi tấn công hoặc người phạm tội bị bắt giữ có QHNQ với hậu quả chết người đã xảy ra. Nạn nhân của tội phạm là người có hành vi tấn công và buộc chủ thể của tội phạm phải phòng vệ hoặc là người phạm tội và bị chủ thể của tội phạm bắt giữ. Hành vi tước đoạt tính mạng trong hai trường hợp này là trái pháp luật do chủ thể đã vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội. Trong đó, dấu hiệu “vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” và dấu hiệu “vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội” có thể được hiểu như sau:
- Dấu hiệu “vượt quá giới hạn phòng vệ chỉnh đáng”
Dấu hiệu này đòi hỏi người phạm tội có cơ sở thực hiện quyền phòng vệ nhưng đã phòng vệ rõ ràng quá mức cần thiết khi gây ra hậu quả chết người. Cụ thể: Nạn nhân đã có hành vi trái pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, xâm phạm quyền hoặc lợi ích chính đáng của người phạm tội hoặc của người khác. Do vậy, người phạm tội đã có hành vi chống trả hành vi xâm phạm đang xảy ra hoặc đe dọa sẽ xảy ra ngay tức khắc và hành vi chống trả đã gây ra hậu quả chết người nhưng việc chống trả này rõ ràng vượt quá mức cần thiết. Việc gây ra hậu quả chết người rõ ràng là không cần thiết để ngăn chặn hành vi xâm phạm của nạn nhân.
Để đánh giá hành vi chống trả rõ ràng là không cần thiết cần phải xem xét một cách đầy đủ, toàn diện tất cả các tình tiết liên quan, trước hết phải chú ý đến:
+ Tính chất quan trọng của quyền hoặc lợi ích bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại;
+ Mức độ thiệt hại mà hành vi tấn công của nạn nhân có thể gây ra;
+ Sức mãnh liệt củă hành vi tấn công của nạn nhân;
+ Khả năng ngăn chặn hành vi tấn công của nạn nhân đặt trong hoàn cảnh cụ thể.
- Dấu hiệu “vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội ”
Dấu hiệu này đòi hỏi người phạm tội có cơ sở thực hiện quyền sử dụng vũ lực để bắt giữ người phạm tội nhưng đã dùng vũ lực rõ ràng quá mức cần thiết khi gây ra hậu quả chết người. Cụ thể: Nạn nhân thuộc đối tượng mà mọi người có quyền bắt giữ theo các điều 111 và 112 BLTTHS (người phạm tội quả tang và người đang bị truy nã). Do vậy, người phạm tội đã dùng vũ lực để bắt giữ nạn nhân và đã gây ra hậu quả chết người nhưng việc dùng vũ lực gây chết người rõ ràng vượt quá mức cần thiết. Việc gây ra hậu quả chết người rõ ràng là không cần thiết để bắt giữ người phạm tội.
Khách quan: hành vi khách quan của tội phạm là giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Đây là trường hợp nạn nhân chính là người có hành vi tấn công, xâm hại lợi ích hợp pháp và hành vi giết người là hành vi người phạm tội lựa chọn thực hiện để ngăn chặn hành vi tấn công, bảo vệ lợi ích hợp pháp đang bị xâm hại. Trong trường hợp này, hành vi giết người để phòng vệ là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết để thực hiện quyền phòng vệ chính đáng.
Hành vi khách quan được thể hiện thông qua các hành động như: đánh, đấm, đá, đâm chém,… hoặc dùng vũ khí như: súng, dao,… Tội phạm này có bản chất của tội giết người tuy nhiên do tính chất vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, vượt quá mức cần thiết nên có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng cơ bản sau:
Nạn nhân phải là người đang có hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người phạm tội hoặc của người khác. Hành vi đó là trái pháp luật và có mức độ nguy hiểm đáng kể.
Người phạm tội đã có hành vi tước đoạt tính mạng nạn nhân trong khi hành vi xâm phạm nói trên của nạn nhân đang xảy ra và chưa kết thúc hoặc đe doạ sẽ xảy ra ngay tức khắc.
Người phạm tội đã có hành vi tước đoạt sinh mạng của nạn nhân khi có đủ cơ sở để thực hiện quyền phòng vệ. Việc người phạm tội có hành vi phòng vệ là cần thiết. Nhưng người phạm tội đã thực hiện quyền phòng vệ của mình rõ ràng là quá đáng, quá mức cần thiết nhằm ngăn chặn và đẩy lùi hành vi xâm hại. Việc gây ra cái chết cho nạn nhân rõ ràng là vượt quá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công của nạn nhân.

2.3 Khách thể

Khách thể của tội này là quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền sống của con người.Tội phạm xâm phạm đến quyền sống của con người, tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật.Đối tượng tác động của tội phạm là tính mạng, thân thể của người đang có hành vi xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân.
- Dấu hiệu lỗi của chủ thể
Lỗi của chủ thể được quy định có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp.

2.4 Mặt chủ quan của tội phạm :

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Cụ thể, về lý trí người phạm tội nhận thức rõ được hành vi của mình là gây nguy hiểm và có thể tước đoạt tính mạng của người có hành vi xâm hại. Tuy nhiên, về mặt ý chí thì người phạm tội lại muốn thực hiện hành vi phạm tội để ngăn cản hành vi xâm hại hoặc cũng có thể người phạm tội nhận thức được nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra miễn là ngăn chặn được hành vi xâm hại.
Động cơ của tội phạm là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Theo đó, động cơ thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi là nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác.
Mục đích của người phạm tội là nhằm ngan chặn và làm cho người có hành vi xâm phạm không thể tiếp tục thực hiện hành vi của mình.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Khung hình phạt này nhẹ hơn so với các khung hình phạt của tội giết người vì đây là trường hợp giết người có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt. Động cơ của người phạm tội là muốn ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc hành vi trốn tránh pháp luật của nạn nhân. Sai phạm của người phạm tội chỉ ở chỗ đã vượt quá phạm vi được phép phòng vệ, được phép gây thiệt hại cho nạn nhân. Nhưng sự “vượt quá” này một phần cũng do hoàn cảnh chi phối. Do vậy, các khung hình phạt được quy định cho tội danh này đều nhẹ hơn so với các khung hình phạt của tội giết người.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng có mức phạt tù từ 02 năm đến 05 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội đối với 02 người trở lên.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê