Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn Luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

2. Luật sư tư vấn:

2.1 Yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma tuý là như thế nào?

Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý được quy định tại Điều 249 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể, cấu thành tội phạm của tội tàng trữ trái phép chất ma túy như sau:
Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 là các cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến độ tuổi luật định. Như vậy người từ đủ 14 tuổi đã phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội này. Tuy nhiên, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2, 3, 4 Điều 249 đối với tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma tuý. Theo đó hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đã xâm phạm tới các chính sách, quy định của Nhà nước trong việc quản lý, cất giữ chất ma túy. Đối tượng tác động của tội phạm này là các chất ma tuý.
Mặt khách quan của tội phạm: - Hành vi khách quanTàng trữ trái phép chất ma tuý là việc cất giữ bất hợp pháp chất ma tuý ở bất cứ địa điểm nào nhưng không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma tuý khác hoặc vận chuyển từ này đến nơi khác. Trong thực tế, tàng trữ chất ma túy không phải là việc để cố định chất ma túy đó tại một địa điểm cụ thể mà căn cứ vào mục đích của người phạm tội khi thực hiện hành vi. Nếu như người phạm tội cất giấu ma túy trên các phương tiện vận chuyển giao thông và di chuyển từ nơi này đến nơi khác nhưng người đó không có mục đích vận chuyển chất ma túy đó thì chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngoài ra, việc xác định một người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy cũng không phụ thuộc vào thời gian cất giữ chất ma túy ngắn hay dài, cứ có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội.
Hậu quả: Hậu quả của tội tàng trữ trái phép chất ma tuý không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội. Theo đó, người phạm tội cứ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng được quy định đối với từng loại chất ma túy tại Điều 249 thì đã phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội này. Hay nói cách khác đây là tội tàng trữ trái phép chất ma túy có cấu thành tội phạm hình thức.
Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý thực hiện hành vi phạm tội của mình do cố ý, tức là nhận thức rõ mình đang thực hiện hành vi bị pháp luật cấm, gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do đó, đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý chỉ có thể được thực hiện do cố ý trực tiếp. Không có trường hợp nào do cố ý gián tiếp.

2.2 Tạm giam của hành vi này là như thế nào?

Theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp: Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can; Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn; Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp: Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; Tiếp tục phạm tội; Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này; Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

2.3 Thời hạn điều tra là bao nhiêu lâu?

Như bạn có trình bày thì số lượng bạn tàng trữ là 3gram ma tuý đá, như vậy có nghĩa là căn cứ theo quy định thì số lượng này nằm trong quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 mà mức án cao nhất của tội này là từ 01 năm đến 05 năm. Theo đó, đây là tội phạm nghiêm trọng, theo đó, thời hạn điều tra sẽ là không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra. Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật Hình sự.