1. Quy định chung về mục đích của tội phạm:

Người phạm tội khi thực hiện tội phạm cố ý đều nhằm tới mục đích nhất định. Nhưng chỉ có thể nói đến mục đích phạm tội của người phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp vì chỉ trong những trường hợp này người phạm tội mới có sự mong muốn gây ra tội phạm để đạt mục đích phạm tội nhất định.

Ở một số tội phạm nhất định, mục đích phạm tội đã được thể hiện rõ qua hành vi phạm tội hoặc qua hậu quả phạm tội. Ví dụ: hành vi dùng vũ lực giao cấu với người phụ nữ trái với ý muốn của họ đã thể hiện rõ mục đích phạm tội của tội hiếp dâm (Điều TẤ1 B bc. hình sự năm 1999) hoặc hậu quả chết người đã thể hiện rõ mục đích phạm tội của tội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999). Trong những trường hợp này, mục đích phạm tội không cần phải được mô tả trong cấu thành tội phạm vì nó không cần thiết cho việc phân biệt với những tội phạm khác.

Đối với những tội phạm mà dấu hiệu hành vi phạm tội cũng như dấu hiệu hậu quả của tội phạm chưa phản ánh được mục đích phạm tội chính của người phạm tội, thì việc quy định dấu hiệu mục đích vào trong cấu thành tội phạm là bắt buộc vì dấu hiệu này cần cho việc phân biệt tội phạm đó với tội phạm khác. Ví dụ: dấu hiệu mục đích chống chính quyền nhân dân phải được phản ánh trong cấu thành tội phạm của tội khủng bố (Điều 84 Bộ luật hình sự năm 1999) để phân biệt với tội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999), tội cố ý gây thương tích (Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)...

2. Mục đích của phạm tội là gì ?

Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội cổ ý (trực tiếp).

Người phạm tội khi thực hiện tội phạm đều nhằm tới những mục đích nhất định nhưng chỉ có thể nói mục đích phạm tội của những hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, vì chỉ trong trường hợp này người phạm tội mới có sự mong muốn gây ra tội phạm để đạt những mục đích nhất định. Ở trường hợp phạm tội khác, người phạm tội cũng có mục đích nhưng đó chỉ là mục đích của hành vi vì người phạm tội hoàn toàn không mong muốn thực hiện tội phạm, họ hoặc không biết hành vi của mình có thể trở thành tội phạm hoặc biết nhưng không mong muốn hành vi đó trở thành hành vi phạm tội.

Ở đây, cần phân biệt mục đích phạm tội với hậu quả thiệt hại hay còn được gọi là hậu quả của tội phạm. Hậu quả thiệt hại là hiện tượng khách quan có quan hệ với mục đích phạm tội. Hậu quả thiệt hại là kết quả thực tế mà người phạm tội gây ra khi thực hiện hành vi để đạt mục đích phạm tội. Mục đích phạm tội được đặt ra trước khi chù thể thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, mọi trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp đều có mục đích phạm tội. Trong khi đó, hậu quả thiệt hại có thể xảy ra hay không xảy ra. Hậu quả thiệt hại xảy ra hay không xảy ra hay xảy ra ở mức độ nào là tuỳ thuộc vào khả năng chủ qvan của người phạm tội và những điều kiện bên ngoài khác. Hậu quả thiệt hại xảy ra có thể thể hiện đầy đủ mục đích của người phạm tội nhưng có thể chỉ thể hiện một phần mục đích đó.

Mục đích phạm tội không được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm. Ở hầu hết các cấu thành tội phạm vật chất, hậu quả thiệt hại được mô tả đều thể hiện được mục đích phạm tội. Ví dụ: Dấu hiệu hậu quả chết người trong cấu thành tội phạm tội giết người (Điều 123 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã thể hiện rõ mục đích phạm tội của người phạm tội. ở hầu hết các cấu thành tội phạm hình thức, việc mô tả hành vi phạm tội cũng thể hiện rõ mục đích phạm tội.

Ví dụ: Dấu hiệu hành vi dùng vũ lực giao cẩu với người khác... ttong cấu thành tội phạm tội hiếp dâm (Điều 141 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã thể hiện rõ mục đích phạm tội của người phạm tội.

Bên cạnh những trường hợp mà dấu hiệu khách quan (hành vi có tính gây thiệt hại hoặc hậu quả thiệt hại) đã thể hiện rõ mục đích phạm tội nên cấu thành tội phạm không cần mô tả mục đích phạm tội vẫn còn một số trường hợp đòi hỏi cấu thành tội phạm phải mô tả mục đích phạm tội vì mục đích phạm tội trong những trường hợp này có tính đặc trưng, là dấu hiệu phân biệt với các tội phạm khác. Cụ thể là các trường hợp sau:

- Trường hợp dấu hiệu hành vi chưa phản ánh được mục đích phạm tội chính của người phạm tội. Ví dụ: Hành vi khủng bố ở tội khủng bố tuy xâm phạm tính mạng con người hay xâm phạm sở hữu của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhưng đó chưa phải là mục đích chính của người phạm tội; người phạm tội muôn qua việc xâm phạm tính mạng con người hay sở hữu để gây ra tình trạng hoảng sợ ttong công chúng. Đó mới là mục đích chính. Do vậy, mục đích “gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng” phải được quy định trong cấu thành tội phạm tội khủng bố (Điều 299 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) để phân biệt tội phạm này với tội giết người (Điều 123 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) và với tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 BLHS).

- Trường hợp dấu hiệu hành vi không phản ánh được mục đích phạm tội. Đây là trường hợp hành vi có tính gây thiệt hại được thực hiện tuy giông nhau nhưng nhằm những mục đích khác nhau.

Ví dụ: Cùng là hành vi xuất cảnh ttái phép nhưng có trường hợp nhằm chống chính quyền nhân dân và có trường hợp không nhằm mục đích đó. Hai trường hợp này tuy giống nhau về dấu hiệu hành vi nhưng khác nhau về tính chất của mục đích phạm tội. Do vậy, tính chất nguy hiểm cho xã hội cũng khác nhau và cấu thành hai tội khác nhau: Tội ttốn đi nước ngoài... nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 121 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội vi phạm quy định về xuất cảnh,... (Điều 347 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017). Để phân biệt hai tội phạm này, nhà làm luật phải quy định ưong cấu thành tội phạm của tội ttốn đi nước ngoài... nhằm chống chính quyền nhân dân dấu hiệu mục đích phạm tội “chống lại chính quyền nhân dân”.

Trong những trường hợp mục đích phạm tội được mô tả trong cấu thành tội phạm như vậy, mục đích phạm tội trở thành dấu hiệu của cấu thành tội phạm.

3. Phân tích ý nghĩa của khái niệm tội phạm

Khái niệm tội phạm được coi là khái niệm cơ bản nhất trong luật hình sự Việt Nam. Khái niệm này một mặt là cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Mặt khác cũng trực tiếp thể hiện nhiều nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam. Nội dung của khái niệm tội phạm là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để giới hạn giữa tội phạm và không phải là tội phạm, giữa TNHS và những trách nhiệm pháp lí khác. Khái niệm tội phạm là cơ sở để xây dựng phần quy định của những điều luật thuộc Phần các tội phạm và đồng thời qua đó cũng là cơ sở để quy định các khung hình phạt tương ứng cho từng tội phạm. Trong áp dụng luật hình sự, các cơ quan có thẩm quyền tuy dựa vào các điều luật thuộc Phần các tội phạm để xác định tội phạm cụ thể nhưng việc nhận thức các điều luật này cũng đòi hỏi phải dựa trên sự nhận thức đúng và đầy đủ về bản chất cũng như những đặc điểm của tội phạm nói chung. Có quan niệm đúng về tội phạm mới xây dựng và áp dụng đúng pháp luật hình sự.

Khái niệm tội phạm được coi là khái niệm cơ bản nhất còn bởi lí do những khái niệm khác tuy là những khái niệm độc lập nhưng cũng chỉ là những khái niệm có tính chất cụ thể hoá khái niệm tội phạm và hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung của khái niệm tội phạm.

4. Lỗi của người phạm tội theo pháp luật Hình sự hiện hành

Lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Lỗi thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.
Một hành vi được coi là có lỗi khi có đủ hai điều kiện sau:
- Hành vi trái pháp luật hình sự: là những hành vi thực hiện không đúng quy định của pháp luật, xâ phạm tới khách thể mà luật hình sự bảo vệ.
- Hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực hiện hành vi khi có khả năng và điều kiện để lựa chọn và quyết định xử sự khác không trái pháp luật hình sự.
Để xác định được người thực hiện hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại cho xã hội có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó hay không, ta cần xác định tính có lỗi của tội phạm. Lỗi là một yếu tố quan trọng để nhận biết tội phạm, nó là yếu tố bên trong và là nguyên nhân chủ quan của tội phạm.Ví dụ: Xuất phát từ mâu thuẫn nhà đất, A ra tay đánh B gây thương tích với tỷ lệ thương tật là trên 20%. Trong trường hợp này, hành vi ra tay đánh B của A là hành vi có lỗi, nó xuất phát từ yếu tố tâm lý bên trong của A làm A mất kiểm soát và đã dẫn tới việc A thực hiện hành vi mang tính nguy hiểm cho xã hội mà đối tượng trực tiếp ở đây là quyền con người được Nhà nước thông qua pháp luật Hình sự bảo vệ. Đây là kết quả của sự tự lựa chọn đưa ra quyết định của A trong khi A có thể đưa ra sự lựa chọn khác không trái với quy định của pháp luật.
Chủ thể của một hành vi được coi là có lỗi khi thỏa mãn 2 điều kiện: Đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không bị mất năng lực hành vi theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tội phạm thực hiện hành vi phạm tội dưới 4 hình thức lỗi:
- Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra(Khoản 1 Điều 10 Bộ luật Hình sự năm 2015).
- Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. (Khoản 2 Điều 10 Bộ luật Hình sự năm 2015).
- Lỗi vô ý vì quá tự tin: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. (Khoản 1 Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015).
- Lỗi vô ý do cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó. (Khoản 2 Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015).

5. Các khung hình phạt người phạm tội theo quy định pháp luật như thế nào?

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.

Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Hình phạt đối với cá nhân thực hiện hành vi phạm tội

Thứ nhất, Hình phạt chính bao gồm:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền;

c) Cải tạo không giam giữ;

d) Trục xuất;

đ) Tù có thời hạn;

e) Tù chung thân;

g) Tử hình.

thứ hai, Hình phạt bổ sung bao gồm:

a) Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;

b) Cấm cư trú;

c) Quản chế;

d) Tước một số quyền công dân;

đ) Tịch thu tài sản;

e) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính;

g) Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

LƯU Ý: Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Hình phạt đối với pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội

Thứ nhất, Hình phạt chính bao gồm:

a) Phạt tiền;

b) Đình chỉ hoạt động có thời hạn;

c) Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

Thứ hai, hình phạt bổ sung bao gồm:

a) Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;

b) Cấm huy động vốn;

c) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

LƯU Ý: Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

 

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến các quy định của luật hình sự về tội phạm, hình phạt Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê