1. Mức phạt tù cho tội vu khống là bao nhiêu năm ?

Dạ kính thưa luật sư. Con có số thắc mắc xin nhòe công ty luật mình khuê giải đáp thắc mắc dùm con con năm nay sn 2001. Cậu 5 của con có đi nói với 1 số người là con mua bán ma túy. Con k có nên k để tâm, nhưng hôm nay mùng 2 tết thì mọi người đồn ầm lên con mua bán ma túy.
Vậy con nên làm như thế nào ạ ?
Cảm ơn!

Luật sư trả lời:

Theo như bạn trình bày, diễn dịch lại thì cậu 5 của bạn đã phạm vào tội vu khống.

Tội vu khống được quy định tại Điều 156, Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi và bổ sung năm 2017 như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Mặt khách quan: Mặt khách quan của Tội vu khống có các dấu hiệu sau:

– Về hành vi, người phạm tội vu khống có một trong ba dạng hành vi sau đây:

+ Bịa đặt: Hành vi này được thể hiện thông qua việc người phạm tội đưa ra những thông tin không đúng sự thật, tự nghĩ ra một điều gì đó mà không có với người khác. Hình thức đưa ra thông tin có thể ở các dạng khác nhau như truyền miệng, viết đơn, qua các phương tiện thông tin đại chúng,…

+ Loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật: Người phạm tội dù không bịa đặt nhưng lại loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt. Việc loan truyền thông tin cũng có thể thể hiện đa dạng qua nhiều hình thức như: kể lại cho người khác nghe, đăng bài, chia sẻ bài viết trên các phương tiện thông tin đại chúng,…

+ Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền. Người phạm tội dù biết rõ người mình tố giác không có hành vi phạm tội nhưng vẫn tố cáo họ trước Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ( Công an, Viện Kiểm sát,…)

– Về hậu quả: Tội phạm không bắt buộc phải gây ra hậu quả trên thực tế.

Như vậy, thì bạn có thể gửi đơn tố cáo hành vi của cậu 5 bạn đến cơ quan cảnh sát hình sự đề nghị khởi tố vụ án hình sự, buộc công khai xin lỗi, đính chính sự thật... để được thụ lý, giải quyết. Bạn nộp kèm theo đơn là các chứng cứ, tài liệu nếu có.

Ngoài ra, về mặt pháp luật dân sự:

Cậu 5 phải bồi thường thiệt hại cho bạn 1 khoản tiền nhằm khắc phục hậu quả về mặt thể chất và tinh thần cho bạn.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định cụ thể tại Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015, nội dung chi tiết như sau:

Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tội vu khống trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Đơn khiếu nại, tố cáo là gì ? Khái niệm, cách hiểu về đơn khiếu nại, tố cáo

2. Tội vu khống có thể bị ở tù đến bảy năm ?

Thưa Luật sư, anh A là hàng xóm của tôi. Vừa rồi, anh A có tố cáo tôi trước cơ quan công an về tội trộm cắp tài sản, cơ quan công an điều tra có điều tra, khi hết thời hạn điều tra thì cơ quan công an điều tra có ra một văn bản thông báo gửi cho viện kiểm sát và cho anh A là không có đủ điều kiện để khởi tố, có nghĩa là tôi không phải là người trộm cắp tài sản.
Vậy về vấn đề này, Luật sư cho tôi hỏi tôi có thể tố cáo lại anh A về tội vu khống cho tôi hay không? Mong Luật sư tư vấn cho tôi?
Cám ơn Luật sư.

Mức phạt tù cho Tội vu khống là bao nhiêu năm ? Hướng dẫn đề nghị cảnh sát khởi tố ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về tội vu khống, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Như bạn có trình bày ở trên thì anh A có tố cáo bạn trước cơ quan công an về tội trộm cắp tài sản, và sau khi kết thúc quá trình điều tra thì cơ quan công an điều tra đã ra thông báo gửi cho viện kiểm sát và gửi về cho gia đình nhà anh A là không có cơ sở để khởi tố vụ án hình sự do kết quả điều tra ra kết luận bạn không phải là người trộm cắp chiếc xe đó. Về vấn đề này bạn đang muốn tố cáo lại họ về tội vu khống. Về tội này được quy định cụ thể tại Điểm b Khoản 1 Điều 156 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017. Cụ thể như sau:

"Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

....."

Đồng thời tại Điều 155 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 có quy định cụ thể về những trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Cụ thể như sau:

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Như vậy có nghĩa là trường hợp này của bạn là một trong những tội chỉ khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, như vậy có nghĩa là để bảo vệ quyền lợi của bạn, bạn có thể làm đơn nên cơ quan có thẩm quyền.

>> Xem thêm:  Nhân phẩm, danh dự là gì ? Mối quan hệ của danh dự và nhân phẩm

3. Hỏi về tội vu khống người khác ?

Xin chào Luật Minh Khuê! Mong Luật sư tư vấn giúp em vụ việc sau: Mẹ em hiện tại đang công tác tại Công ty Bảo Việt Nhân Thọ X. Trong năm 2012, mẹ em có tư vấn cho một phụ nữ A mua bảo hiểm nhân thọ. Sau một thời gian tham gia bảo hiểm ( 3 tháng) bà Liên đã không tham gia đóng tiền bảo hiểm nữa.
Mẹ em khuyên bà này nên bảo lưu 3 tháng đóng bảo hiểm khi nào có điều kiện kinh tế thì đóng tiếp ( theo đúng hợp đồng đã được kí). Mẹ em có bán cho bà A 5 bộ bát và bộ cốc với giá trị là 900.000 vnd năm 2012. Trong khoảng thời gian 2012 tới 2016 mẹ em vẫn thường qua nhà bà A, một phần là để đòi tiền nợ và một phần động viên bà tham gia bảo hiểm lại. Đến đầu năm tháng 1/2016 bà A có gọi mẹ em ra nhà và trả 900.000 vnd và yêu cầu mẹ em kí vào 1 quyển số để làm tin là bà đã trả tiền bát đĩa, mẹ em có kí nhận số tiền đó với nội dung là lấy tiền bát, cốc với số tiền là 900.000 vnd. Tới tháng 3 năm 2016 bà A đưa 1 số người nhà xuống nhà em để hỏi mẹ em về việc trả nợ cho bà A. Trên thực tế mẹ em chưa hiểu là nợ bà Liên tiền gì và không có nợ bà A gì hết. Bà A có đưa ra chữ kí và hỏi mẹ em là có phải chữ kí này của mẹ em không (khi đưa tờ giấy photo thì che nội dung bên trên). Mẹ em phủ nhận hoàn toàn chữ kí trong tờ giấy photo trên. Ngày hôm sau đó, bà A và con cháu có đưa thêm 1 số thành phần xã hội xuống nhà em 1 lần nữa và lập lại câu hỏi và giơ tờ giấy photo ( nội dung lúc này mẹ em chưa rõ) có hỏi về chữ kí, mẹ e một lần nữa chối từ thông tin trên tờ giấy photo và đưa ra công an xã để bảo đảm an toàn và trình báo địa phương về việc người khác vào nhà quấy rối và uy hiếp. Sáng hôm sau, cán bộ xã tại địa phương có triệu tập bà A và mẹ em ra và hỏi chuyện gây rối mất trật tự.
Bà A có khai mẹ em nợ bà A tổng số tiền là 2,5 tỷ đồng và đã đưa cho mẹ em nhiều lần từ năm 2012-2015 mà không cho ai biết. Trong lời khai bà A không đưa ra được bất cứ bằng chứng cho vay bao nhiêu lần, mỗi lần bao nhiêu tiền, chứng cứ từng lần cho vay... được cán bộ xã đưa vào biên bản. Bà A chỉ đưa ra được 1 tờ giấy photo và quyển số nơi mẹ em kí vào với nội dung: Bà X (mẹ em) có nợ tôi số tiền là 2,5 tỷ đồng, và quyển số gốc do mẹ em cầm có chữ kí của mẹ em ở bên dưới, cả chữ của mẹ em kí nhận tiền bát đĩa. Sau ngày hôm đó đã được cơ quan công an địa phương nhận giải quyết dân sự giữa bà A tố mẹ em quỵt tiền. Do quá bức xúc và bị vu khống giảm danh dự và niềm tin của mẹ em với địa phương cũng như trong những người làm bảo hiểm. Làm tư vấn viên cần niềm tin từ người khác và tư vấn hợp đồng cho người khác. Mẹ em đã chủ đông làm đơn lên Huyện để tố cáo bà Liên có hành vi vu khống, giảm uy tín, đặt điều không có thật và gây rối trật tự tại nhà em, ảnh hưởng tới công việc và uy tín. Sau nhiều ngày (2 tuần) mất ngủ và stress mẹ em đã bị mắc bệnh hoang tưởng và tâm thần (trước đây 15 năm mẹ em cũng đã bị bệnh này do sức khỏe yếu). Hiện tại mẹ em vẫn đang nằm trong bệnh viện tâm thần, và chưa hổi phục được sức khỏe cũng như tâm lý.
Xin luật sư cho em hỏi: Hành vi của bà A có bị truy tố về mặt hình sự không? Nếu đơn của mẹ em được điều tra và khởi tố hình sự về mặt sức khỏe hiện tại mẹ em không đủ điều kiện tham gia tại toàn án có được xét xử sau khi mẹ em khỏi và bình phục không? Nếu thắng kiện gia đình em có được bồi thường toàn bộ chi phí của bệnh viện Tâm Thần, do hành vi vu khống bà A gây ra không? Việc ảnh hưởng lớn tới uy tín và tinh thần khiến mẹ em không thể tham gia tiếp tục công việc làm tư vấn viên Bảo Hiểm có được bổi thường không?
Trân trọng!

Hỏi về tội vu khống người khác ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:1900.6162

Trả lời:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp không chỉ dừng lại ở việc bịa đặt việc mẹ bạn nợ tiền của mình, bà A còn đưa cả những người khác đến nhà bạn để gây rối và khai báo thông tin không đúng sự thật này với địa phương nơi mẹ bạn cư trú. Do vậy, hành vi của bà A là bịa đặt nhằm gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mẹ bạn (cụ thể là đòi một số tiền mẹ bạn thực tế không nợ), tố cáo mẹ bạn trước cơ quan có thẩm quyền đủ yếu tố cấu thành tội vu khống. Theo quy định của Bộ Luật Hình sự 2015sửa đổi bổ sung 2017:

"Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng..."

Theo quy định tại Điều 166 Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2003:

"Điều 351. Sự có mặt của người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị

1. Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị được triệu tập đến phiên tòa thì phải có mặt tại phiên tòa. Nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử giải quyết:

a) Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Trường hợp người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

Trường hợp phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này mà người bào chữa vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa;

b) Trường hợp người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị là bị hại, đương sự và người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử. Trường hợp những người này vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử có thể tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho bị hại, đương sự;

c) Bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, bị kháng nghị nếu vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử có thể vẫn tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án, quyết định không có lợi cho bị cáo. Nếu sự vắng mặt của bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan và sự vắng mặt đó không gây trở ngại cho việc xét xử thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

2. Khi xét thấy cần thiết, Tòa án cấp phúc thẩm quyết định triệu tập những người khác tham gia phiên tòa."

Căn cứ vào quy định trên, nếu bạn muốn mẹ mình tham gia vào việc xét xử thì có thể yêu câu hoãn phiên tòa với tòa án cho đến khi mẹ bạn bình phục

>> Xem thêm:  Làm nhục người khác là gì ? Tội làm nhục và tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm ?

4. Hành vi làm nhục người khác sẽ bị xử lý như thế nào ?

Chào Luật sư, em xin được tư vấn một vấn đề như sau: Em và bạn gái em sắp tổ chức đám cưới nhưng co một số điện thoại lạ nhắn tin tới uy hiếp và khủng bố tin thần bạn gái em làm cô ấy cảm thấy lo sợ về chuyện quá khứ. Mọi chuyện bắt đầu từ năm học lớp 10- 11, cô ấy có đi học thêm tin học và có quen với thầy giáo.
Ông thầy đó chủ động nói bạn em hiền và học giỏi muốn kết nghĩa anh em, mặc dù lúc đó thầy giáo đó có đã vợ nhưng vẫn dùng những lời nói ngọt ngào dụ dỗ bạn em đi nhà nghỉ rồi sau đó chụp hình và nói là để làm kỷ niệm tình anh em và để ngày càng thân thêm...Dù chuyện đó đã xảy ra cách đây 4 năm rồi, giờ thì người đó khi biết bạn gái em đã quen em lại nhắn tin đe dọa là nói sẽ gủi hình tới gia đình em và bạn gái e cùng bạn bè đồng nghiệp cơ quan, người đó còn nói sẽ trả hình và thẻ gốc với điều kiện là hiện bạn gái em lại nhà trọ lần cuối để nó trả và nói chuyện lần cuối, giờ thì cứ mỗi đêm là nhắn tin kêu bạn em phải chia tay với em và phải tiếp tục liên lạc với người đó...
Mong các Luật sư tư vấn giúp em, em xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Theo những nội dung bạn đề cập ở trên, hành vi mà người thầy đó đang thực hiện có thể bị xử phạt theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017:

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

...”.

Căn cứ Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 03/ 11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi pham hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện:

“2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Tiết lộ bí mật đời tư hoặc bí mật khác khi chưa được sự đồng ý của cá nhân, tổ chức có liên quan trừ trường hợp pháp luật quy định;

d) Miêu tả tỉ mỉ hành động dâm ô, chém, giết, tai nạn rùng rợn trong các tin, bài, phim, ảnh”;

>> Xem thêm:  Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định của pháp luật hình sự ?

5. Làm nhục người khác trên facebook có bị phạt ?

Chào luật sư, Mong luật sư có thể tư vấn giúp,chuyện là ông chú tôi có quan hệ cùng 1 người đàn bà khác và rì tôi cũng đã có chứng cứ qua những cuộc nói chuyện của họ trên điện thoại. Chứng cứ đã rõ ràng và vi không kìm chế được rì tôi đã có 1 số hành vị lăng mạ,làm nhục người đàn bà đó trên trạng mạng xã hội facebook.

Bây giờ, gia đình đó đâm đơn kiện,vậy luật sự cho e hỏi họ đâm đơn kiện thì rì tôi có bị vi phạm luật gì không,và nếu vi phạm thì bị sử lí như thế nào ?

Luật sư trả lời:

Sự phát triển của công nghệ thông tin, trong đó có mạng xã hội là một tiến bộ của nhân loại. Mạng xã hội giúp con người xóa đi khoảng cách về địa lý, tự do chia sẻ thông tin, suy nghĩ cảm xúc của mình… nhưng đây cũng là môi trường thuận lợi để kẻ xấu thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có việc bôi nhọ danh dự nhân phẩm của cá nhân, tổ chức…

Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được quy định rất cụ thể tại Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ"; "Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình…”

Điểm d, e khoản 1 Điều 5 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng: nghiêm cấm các hành vi: “Đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân”; “Giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Hành vi thóa mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác trên mạng xã hội là vi phạm pháp luật; tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, trên thực tế việc quản lý không gian mạng là rất khó khăn, và để có thể xử lý được hành vi vi vi phạm thì trước hết phải xác định được chủ nhân của tài khoản có hành vi vi phạm đó.

Về xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm g, khoản 3, Điều 66 Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 03/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi pham hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện thì hành vi “Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;” sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng

- Những hành vi bôi nhọ danh dự nhân phẩm của người khác một cách nghiêm trọng nói trên có thể cấu thành “tội làm nhục người khác” ” và “tội vu khống” theo quy định tại Điều 155, Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015​:

Cụ thể, các điều luật này quy định như sau:

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Điều 156. Tội vu khống có nội dung:

Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

- Có tổ chức;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

- Đối với nhiều người;

- Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

- Đối với người thi hành công vụ;

- Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo chúng tôi, đổi với hành vi bị coi là xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự người khác trên mạng xã hội mà bị truy cứu về tội làm nhục người khác thì người phạm tội phải là người có hành vi: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ có tính chất nhiều lần, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của người bị xúc phạm đó. Ý thức chủ quan của người phạm tội là mong muốn cho người bị hại bị nhục với nhiều động cơ khác nhau, có thể trả thù chính người bị hại hoặc cũng có thể trả thù người thân của người bị hại.

Người bị hại phải là người bị xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự nhưng thế nào là nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm nghiêm trọng là một vấn đề khá phức tạp. Cùng một câu nói, đối với người này câu nói đó bị coi là xâm phạm nghiêm trọng đến danh dự, có người lại coi đó là bình thường…

Nhiều khái niệm “nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” trong một số điều luật chưa được giải thích, hướng dẫn nên không tránh khỏi cách vận dụng khác nhau khi xét xử - Đó là một thực tiễn. Tuy nhiên từ niềm tin nội tâm, trên cơ sở quy định của pháp luật, phong tục tập quán, dư luận xã hội…thẩm phán sẽ cân nhắc để đánh giá được rằng ở mức độ nào thì bị coi là xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự.

Tóm lại, tùy theo tính chất, mức độ của hình vi gì bạn đã thực hiện mà nhẹ thì bị xử phạt vi phạm hành chính, nặng thì có thể bị khởi tố vụ án hình sự.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.0159. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.!.

>> Xem thêm:  Quy định về tố cáo hành vi tham nhũng và hướng dẫn viết đơn tố cáo tham nhũng ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Cấu thành tội vu khống gồm những gì?

Trả lời:

hứ nhất, cấu thành của Tội vu khống:

Trên phương diện lý luận chung, cấu thành tội phạm được xác định là tổng hợp tất cả những nội dung, những phương diện cấu tạo, tạo thành một tội phạm nói chung, là tính riêng của từng tội phạm để xác định và phân biệt tội phạm này với tội phạm khác, là cơ sở để xác định một hành vi nào đó có bị xác định là tội phạm, bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong quy định của Bộ luật hình sự hay không. Một tội phạm thường được cấu thành từ 04 yếu tố cơ bản: Mặc khách quan, mặt chủ quan, chủ thể, khách thể. 

Cụ thể: Căn cứ theo quy định tại Điều 156 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, thay thế một số nội dung bởi điểm e, khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật hình sự 2015 thì có thể xác định cấu thành của Tội vu khống như sau:

Về mặt khách quan:

Mặt khách quan được xác định là một trong những yếu tố, những phương diện quan trọng trong cấu thành tội phạm, là những biểu hiện rõ ràng nhất mà tội phạm thể hiện ra bên ngoài, là cơ sở ban đầu và rõ ràng nhất để nhận biết một tội phạm trong mối liên hệ với thế giới khách quan. Mặt khách quan của một tội phạm được thể hiện thông qua hành vi phạm tội, hậu quả của hành vi phạm tội và những yếu tố hỗ trợ việc thực hiện hành vi phạm tội như công cụ, phương tiện, thời điểm phạm tội, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội. Trong Tội vu khống, mặt khách quan của tội phạm được biểu hiện như sau:

 – Về hành vi: Trong cấu thành tội phạm của Tội vu khống, mặt khách quan của tội này thường được thể hiện thông qua hành vi “vu khống”. “Vu khống” nghĩa là bịa đặt về mặt thông tin, nhưng mục đích của việc bịa đặt là nhằm hạ thấp phẩm giá của người khác, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của họ. Trong tội vu khống, hành vi này thường được thể hiện thông qua việc:

+ Bịa đặt, loan truyền, phát tán những thông tin mà không có cơ sở, những thông tin sai sự thật, tự dựng chuyện để nhiều người cùng biết đến với mục đích “nói xấu”, xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác, hoặc nhằm xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

+ Bịa đặt, đưa ra thông tin vô căn cứ, vu cáo người khác phạm tội và tố cáo họ trước những cơ quan có thẩm quyền, nhằm mục đích làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm hay quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Có thể thấy, cho dù thực hiện hành vi vu khống dưới dạng nào thì những thông tin mà người phạm tội vu khống đưa ra đều mang tính chất gian dối, trái với thực tế và đều nhằm mục đích ảnh hưởng nghiêm trọng đến phẩm giá, quyền lợi của người khác. Khi một người thực hiện một trong các hành vi nêu trên thì họ có thể bị truy cứu về Tội vu khống theo quy định của Bộ luật hình sự.

 – Về hậu quả: Hành vi của người phạm tội nêu trên đã làm hạ thấp phẩm giá, giá trị của người khác, làm cho họ nhục nhã, xấu hổ trước nhiều người hoặc trở thành người bị tình nghi phạm tội, làm cho uy tín hay danh dự mà họ bị ảnh hưởng, từ đó, ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của họ. Đồng thời, những thông tin mà người phạm tội đưa ra và loan truyền nhằm xúc phạm người khác là không có căn cứ, là trái với sự thật nhưng không phải ai tiếp nhận nguồn thông tin này cũng hiểu được điều đó, mà họ sẽ lầm tưởng thông tin đó là thật và tin tưởng vào nó. Xuất phát từ tâm lý hoài nghi, như câu châm ngôn “không có lửa làm sao có khói” nên nhiều người khi tiếp nhận thông tin sai sự thật từ người đang có hành vi vu khống sẽ có nhận định không tốt về phẩm giá, danh dự, uy tín của người bị vu khống. Và như ông bà ta đã nói “tiếng lành đồn gần, tiếng xấu đồn xa”, áp lực dư luận sẽ làm cho người bị vu khống bị tủi hổ, cảm thấy oan ức, nhục nhã, tự ti, ảnh hưởng đến cuộc sống và bản thân của người bị vu khống.

– Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra:

Để xác định một hành vi có được xác định là vu khống hay không, có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không thì phải xác định được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả của hành vi. Bởi khi muốn vu khống một người, thì việc bịa đặt, hay lan truyền thông tin sai sự thật, hay vu cáo người khác, ít nhiều đều nhằm mục đích xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người khác.

Nếu một người có hành vi bịa đặt, hay loan truyền thông tin gian dối nhưng nội dung thông tin không nhằm mục đích xúc phạm nghiêm trọng hay gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác thì cũng không cấu thành nên tội vu khống. Hay một người bị tố cáo lên cơ quan công an về hành vi trộm cắp tài sản. Mặc dù việc tố cáo này đã ảnh hưởng uy tín, danh dự và cuộc sống của người bị phạm tội nhưng thông tin tố cáo không phải là thông tin bịa đặt mà là những thông tin đã có đầy đủ bằng chứng, chứng cứ xác nhận có sự việc người này thực hiện hành vi trộm cắp thì trường hợp này, người đã thực hiện hành vi tố cáo cũng không bị truy cứu trách nhiệm về Tội vu khống.

Về mặt chủ quan:

Nếu mặt khách quan là những yếu tố, phương diện thể hiện ra bên ngoài thì mặt chủ quan được biết đến là những phương diện nội tại bên trong cấu thành tạo nên một tội phạm. Nội dung mặt chủ quan thường được xác định thông qua các yếu tố lỗi, động cơ phạm tội, mục đích phạm tội và diễn biến tâm lý của người phạm tội, và đây được xác định là những yếu tố không dễ xác định, khó nhận biết khi xác định một tội phạm. 

Trong Tội vu khống, mặt chủ quan được xác định như sau:

 – Người thực hiện hành vi vu khống người khác phải thực hiện với lỗi cố ý, tức là bản thân người này phải nhận biết và hiểu được việc bịa đặt hay loan truyền những thông tin gian dối hay bịa đặt và tố cáo người khác phạm tội lên cơ quan có thẩm quyền sẽ xúc phạm nghiêm trọng như thế nào đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, và quyền lợi của người mà mình vu khống. Trường hợp này, bản thân người phạm tội không chỉ nhận thức được mà còn mong muốn hậu quả này sẽ xảy ra. 

– Mục đích của người phạm tội khi thực hiện hành vi vu khống người khác là đều nhằm mục đích xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của đối tượng mà mình vu khống.

– Động cơ của người phạm tội: Người thực hiện hành vi vu khống người khác thường xuất phát từ động cơ là sự thù hằn, ganh ghét hay những mâu thuẫn giữa người này với người bị vu khống, hoặc xuất phát từ những tổn thương mà người bị vu khống đã gây ra cho người thực hiện hành vi vu khống. 

Một ví dụ để chứng minh cho điều này: Trong trường hợp hành vi vu khống của chị A đối với chị K, không phải là vô ý mà là hành vi hoàn toàn có chủ đích từ trước, với mục đích là xúc phạm nghiêm trọng đến phẩm giá của chị K. Hành vi này xuất phát từ nghi ngờ về việc ngoại tình của chồng chị A với chị K này và sự tổn thương của người vợ khi bị phản bội, với tâm lý không ổn định nên chị A đã vu khống chị K để “trút giận”, làm cho chị K bị nhục nhã, tủi hổ mà rời xa chồng của chị A. Dù có thể cảm thông với tâm trạng và nỗi lòng người vợ của chị A nhưng rõ ràng những thông tin mà chị A đưa ra đều là bịa đặt, không có cơ sở và hành vi của chị A đã làm tổn thương nghiêm trọng đến chị K. Do vậy, trường hợp này, chị A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vu khống.

Về mặt khách thể:

Mặt khách thể, hiểu đơn giản đó là đối tượng, là các quan hệ xã hội mà hành vi phạm tội đã hướng đến và xâm phạm. Trong cấu thành của Tội vu khống, mặt khách thể của tội này được xác định là “danh dự, nhân phẩm, uy tín” hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Trong đó:

Danh dự, nhân phẩm, uy tín là những giá trị cốt lõi làm nên mỗi con người mà hiểu đơn giản là cách nhìn nhận, đánh giá khách quan của xã hội về một con người và những phẩm chất tạo nên con người. “Danh dự, nhân phẩm, uy tín” của mỗi người là tài sản vô giá mà mỗi người đều trân trọng và được pháp luật bảo vệ. Tại Điều 20 Hiếp pháp năm 2013, Điều 34 Bộ luật dân sự năm 2015 đều khẳng định danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là những giá trị bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. 

Về mặt chủ thể:

Chủ thể của Tội vu khống theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2015 được xác định là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Câu hỏi: Phạm tội vu khống có phải đi tù không?

Trả lời:

mức hình phạt của Tội vu khống:

Căn cứ theo quy định tại Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015, được thay thế , sửa đổi bởi điểm e khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2015 thì tùy vào mức độ hành vi vi phạm mà người phạm tội vu khống có thể bị xử phạt với các mức hình phạt như sau:

– Mức 1: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 năm đến 01 năm:

Mức hình phạt này được áp dụng chung đối với những người đã có hành vi vu khống, thể hiện ở việc bịa đặt, loan truyền những thông tin sai sự thật, không có cơ sở về người khác nhằm mục đích để xúc phạm đến danh sự, nhân phẩm của họ một cách nghiêm trọng hoặc nhằm mục đích gây thiệt hại đến quyền lợi của họ. Hoặc áp dụng trong trường hợp họ bịa đặt, vu cáo người khác lên cơ quan thẩm quyền rằng một người phạm tội mà không có bất kỳ cơ sở nào.

– Mức 2: Phạt tù 01 năm đến 03 năm

Cũng thực hiện hành vi “vu khống” như trên nhưng nếu người thực hiện hành vi phạm tội có các tình tiết như: có tổ chức, vu khống những người thân thích có công nuôi dưỡng mình (như ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, chữa bệnh cho mình), vu khống từ hai người trở lên hoặc vu khống người đang thi hành công vụ; hoặc có tình tiết lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để thực hiện hành vi vu khống hoặc sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội; vu khống từ 02 người trở lên; hoặc vu khống người khác về tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; hoặc có tình tiết gây rối loạn về tâm lý cho nạn nhân từ 31% đến 60% thì trường hợp này, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

– Mức 3: Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm

Cũng thực hiện hành vi vu khống để xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác nhưng mục đích phạm tội xuất phát từ động cơ đê hèn hoặc dẫn đến hậu quả làm cho người bị vu khống tự sát hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên thì sẽ bị phạt từ từ 03 năm đến 07 năm.

Ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt nêu trên thì người phạm tội vu khống còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc thực hiện công việc theo quy định từ 01 đến 05 năm.

Như vậy, danh dự, nhân phẩm, uy tín là những giá trị cốt lõi làm nên giá trị của một con người. Do vậy, hành vi vu khống nhằm xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người  khác đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng đủ các yếu tố cấu thành của Tội vu khống theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Mức hình phạt đối với người phạm tội vu khống sẽ được xác định dựa trên mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả mà hành vi đó gây ra và các tình tiết của hành vi phạm tội đó.

Như vậy, tùy vào mức độ, tính chất, nội dung và hậu quả gây ra thì hình phạt khác nhau.

Câu hỏi: Vu khống, nói oan cho người khác bị nhiễm HIV có bị phạt tù không?

Trả lời:

Khoản 6 Điều 8 của Luật phòng, chống HIV/AIDS quy định nghiêm cấm hành vi "đưa tin bịa đặt về nhiễm HIV đối với người không nhiễm HIV". Trường hợp vi phạm quy định này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý hành chính theo quy định của Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế hoặc xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Cụ thể như sau:

Nếu hành vi vi phạm chưa đến mức xử lý hình sự thì theo quy định tại Điểm a Khoản 4 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP, người có hành vi vi phạm sẽ bị phạt tiền 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng và bị buộc xin lỗi trực tiếp người bị bịa đặt là nhiễm HIV và cải chính công khai trên phương tiện thông tin đại chúng nơi người bị bịa đặt nhiễm HIV sinh sống liên tục trong 03 ngày.