1. Nếu có tranh chấp thì dùng luật nào để giải quyết ?

Xin Luật sư tư vấn giúp tôi về tình huống sau: anh A thực hiện 2 hành vi liên quan đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình: Một hành vi vào năm 2013, một hành vi vào tháng 7/2014.
Nếu có tranh chấp phát sinh sẽ được áp dụng luật nào để giải quyết ?
Tôi xin cám ơn.
Người gửi: L.Q

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015:

"Điều 156. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.

4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

5. Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp."

"Điều 153. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:

1. Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản.

2. Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó.

3. Bị bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực."

Bởi trong thắc mắc của bạn không nêu cụ thể đó là hành vi nào và xảy ra tại thời điểm nào nên chúng tôi không thể giải đáp cụ thể được. Hy vọng những thông tin chúng tôi cung cấp có thể giúp ích cho bạn!

Trân trọng./.

2. Tư vấn về tranh chấp quyền sử dụng đất khi chỉ có giấy viết tay ?

Chào luật sư công ty Luật Minh Khuê, tôi đang gặp vướng mắc mong được tư vấn: Năm 1997 ông A mua của ông B một mảnh đất 200 m2. Hai bên đã ký hợp đồng chuyển nhượng và giao tiền đầy đủ nhưng ông A chưa làm thủ tục xin cấp GCN.
Ông A đã xây dựng nhà trên đất với diện tích 150 m2. Tuy nhiên, đến năm 2014 ông B đòi lại mảnh đất trên. Nhưng ông A không đồng ý nhưng ông B cho rằng hợp đồng viết tay không có hiệu lực bên ông B có quyền bán cho người khác. Vậy giải quyết tình huống trên như thế nào ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến:1900.6162

Trả lời :

Vì hợp đồng chuyển nhượng được giao kết từ năm 1997, trường hợp này, khoản 2.3 Mục II Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP có hướng dẫn như sau:

“2.3. Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau này 15/10/1993

a. Điều kiện để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Theo qui định tại Điều 131, các điều từ Điều 705 đến Điều 707 và Điều 711 của Bộ luật Dân sự,khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 của Luật Đất đai khoản 1 Điều 106, điểm b khoản 1 Điều 127, khoản 1 Điều 146 của Luật Đất đai, thì Toà án chỉ công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi hợp đồng đó có đầy đủ các điều kiện sau đây:

a.1. Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có năng lực hành vi dân sự;

a.2. Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn tự nguyện;

a.3. Mục đích và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không trái pháp luật, đạo đức xã hội;

a.4. Đất chuyển nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013

a.5. Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện về nhận chuyển nhượng theo qui định của pháp luật;

a.6. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền.

b. Xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có đầy đủ các điều kiện được hướng dẫn tại điểm a gia tiểu mục 2.3 mục 2 này.

b.3. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng. Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ làm nhà trên một phần đất, thì Toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có nhà ở và huỷ phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại, buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch.”

Như vậy, trong trường hợp này ông A đã làm nhà trên mảnh đất đó và ông B không phản đối nên hợp đồng chuyển nhượng quyến sử dụng đất của ông A và ông B được công nhận và có hiệu lực pháp luật, ông A phải tiến hành thủ tục đăng ký đất đai (vì đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) để xác lập quyền sử dụng của ông A đối với diện tích đất là 150m2 (Nếu 50m2 còn lại được ông A trồng cây lâu năm thì hợp đồng cũng sẽ được công nhận).

Theo như thông tin bạn cung cấp thì ông B đã đòi lại mảnh đất, nếu ông A kiên quyết không trả thì có thể ông B sẽ khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng này vô hiệu. Khi đó, Tòa án sẽ xem xét và tuyên hợp đồng này có hiệu lực đối với 150m2 ông A đã xây nhà, còn 50m2 còn lại không có nhà hoặc không có cây lâu năm thì bị tuyên là vô hiệu.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email hoặc qua tổng đài luật sư tư vấn pháp luật đất đai, gọi: 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

>> Xem thêm: Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai khi chưa có sổ đỏ ? Tranh chấp đất đai xử lý như thế nào ?

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

3. Tranh chấp liên quan đến việc tặng cho đất ?

Xin chào Luật sư! Em có vấn đề thắc mắc rất mong nhận được sự giải đáp như sau: Nhà tôi có hiến đất cho UBND xã Phước Nam xây dựng trường TH Phước Lập. Vì công việc nên gia đình không có giám sát nên trong quá trình xây dựng họ đã lấn chiếm thêm để xây dựng nhà vệ sinh.

Sau khi phát hiện vụ việc gia đình tôi đã gửi đơn khiếu nại và UBND xã đề nghị gia đình tôi cho đất đó cho họ đổi lại họ giải quyết việc hộ gia đình ở thôn Phước Lập xây dựng bịt kín đường vào rẫy của gia đình vì lúc đó có hộ dân xây dựng trên đất của gia đình cũng là lối vào rẫy của gia đình. Nhưng ngôi nhà gia đình kia vẫn được xây dựng bình thường vì chính UBND xã là người đã đứng ra bán đất cho gia đình đó. Tôi không đồng ý với thương lượng trên nên UBND nói để họ sẽ từ từ giải quyết việc hồ dân xây dựng trái phép.

Khi gia đình tôi gửi đơn lên UBND huyện giải quyết vụ việc thì nhận được giấy quyết định cưỡng chế và đập tường để trả lại hiện trạng đất vào rẫy gia đình tôi họ nói nhà cửa thì không thể phá bỏ được. Và gia đình tôi đồng ý chỉ cần có đường vào rẫy cũng được và cho nhà trường được sử dụng nhà vệ sinh. Nhưng đã qua nhiều tháng vẫn không có động tĩnh gia đình tôi lại không cho sử dụng nhà vệ sinh nữa thì họ đã nhờ UBND huyện giải quyết và UBND huyện đã cho cưỡng chế gia đình tôi với lý do qua xác mình của Phòng Tài Nguyên và Môi Trường thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình tôi và nhà trường không có sự chồng lấn. Hỏi:

1: Gia đình tôi lấy lại diện tích 11m2 đất xây nhà vệ sinh có đúng pháp luật hay không?

2: Việc UBND xã đứng ra bán đất cho gia đình ông A xây dựng trên đất và đường đi vào rẫy của gia đình tôi là đúng hay là sai?

3: Việc UBND huyện ra quyết định cưỡng chế là đúng hay là sai khi mà họ không chịu ra xác thực đất mà gia đình tôi đã hiến từ đó mới biết là trường lấn chiếm hay gia đình tôi lấn chiếm.

Tôi xin cảm ơn !

Người gửi: I.U

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900.6162

Trả lời:

1: Gia đình tôi lấy lại diện tích 11m2 đất xây nhà vệ sinh có đúng pháp luật hay không?

Việc hiến tặng quyền sử dụng đất phải thực hiện theo hình thức, nội dung hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất quy định của Bộ luật dân sự 2015Luật đất đai 2013. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất trong trường hợp hiến tặng đất này là sự thoả thuận giữa chủ sử dụng đất với đại diện cộng đồng dân cư (có thể là Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể ở địa phương đại diện), theo đó bên hiến tặng cho giao quyền sử dụng đất cho bên được hiến tặng để xây dựng công trình phục vụ lợi ích cộng đồng dân cư mà không yêu cầu đền bù, còn bên được hiến tặng cho đồng ý nhận đất để sử dụng đúng mục đích hiến tặng. Theo quy định tại Điều 462 Bộ Luật Dân sự thì "bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được trái pháp luật, đạo đức xã hội"

Trong trường hợp của bạn thì việc bạn hiến tặng diện tích để xây trường là không có điều kiện với bên nhận tặng cho đất. Nhưng với diện tích xây nhà vệ sinh mà UBND tự ý sử dụng thì hai bên có thỏa thuận nếu UBND giải quyết cho bạn việc gia đình ông A lấn đất đường vào rãy nhà bạn thì gia đình bạn sẽ đồng ý hiến diện tích 11m2 đất đó để xây nhà vệ sinh. Vì UBND không đáp ứng điều kiện đó cho gia đình bạn nên bạn có quyền đòi lại 11m2 đất đó. Vì việc hiến tặng đất phải thực hiện trên cơ sở tự nguyện, không cơ quan, tổ chức nào có thể ép buộc dưới bất kì hình thức nào.

2: Việc UBND xã đứng ra bán đất cho gia đình ông A xây dựng trên đất và đường đi vào rẫy của gia đình tôi là đúng hay là sai?

Việc UBND xã bán đất cho gia đình ông A là trái với quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 3 Điều 59 Luật đất đai 2013 thì UBND chỉ có thẩm quyền trong việc "Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn." Mặt khác diện tích đất mà gia đình ông A xây nhà là phần đất thuộc lỗi đi lên rẫy nên việc gia đình ông A không được xây nhà trên diện tích đất lần chiếm đó.

3: Việc UBND huyện ra quyết định cưỡng chế là đúng hay là sai khi mà họ không chịu ra xác thực đất mà gia đình tôi đã hiến từ đó mới biết là trường lấn chiếm hay gia đình tôi lấn chiếm.

UBND huyện ra quyết định cưỡng chế trên cơ sở cho rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bạn và nhà trường không có sự chồng lấn, bạn không đồng ý với quyết định này và có yêu cầu đo đạc lại nhưng UBND huyện không tiến hành. Vì vậy, bạn có quyền khiếu nại về quyết định cưỡng chế thi hành theo quy định của Luật Khiếu nại 2011 để xác minh lại diện tích đất còn lại của nhà bạn sau khi trừ đi diện tích đất hiến tặng dể xây dựng lại trường còn đúng hay không. Nếu số liệu đo đạc lại cho thấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà trường và gia đình bạn không có sự chồng chéo thì bạn phải thi hành quyết định cưỡng chế trên còn nếu có sự chồng chéo thì quyết định cưỡng chế trên là trái quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ? Thủ tục mua bán, tách sổ của lô đất ?

4. Tranh chấp về quyền sử dụng giếng nước trên đất ở ?

Kính chào Luật Minh Khuê! Vào ngày 07/11/2012 tôi có mua của bà: Nguyễn Thị Nghiêm- Sinh ngày 02/9/1963 và ông: Trần Văn Tiên Hoàng - Sinh ngày 09/4/1965 một thửa đất và nhà ở.Thửa đất có diện tích 994,4 mét vuông; Trong đó đất ở là: 200 mét vuông, đất vườn là: 794,4 mét vuông.
Tài sản gắn liền với đất là: 01 nhà ở cấp 4, một số cây ít cây ăn quả và trong đó có một cái Giếng nước. Về giới cận: phía Bắc giáp ONT, Nam ONT, Tây giáp ONT, Đông giáp đường đi. Khi tôi mua đất thì chị Nghiêm có nói "cái giếng đó tôi được sử dụng vì lúc trước chị ấy ở chị ấy cũng sử dụng như thế (Chị nghiêm gọi ông Ngọc là chú họ). Tôi chỉ đăng ký tạm trú tại nơi tôi mua nhà, còn hộ khẩu thường trú của tôi vẫn ở thành phố Quy Nhơn, Bình Định.

Đến tháng 7/2013 tôi tiến hành xây tường rào ở phía Tây và phía Nam thuộc phần đất của tôi, phía Tây và Nam giáp vườn nhà ông Nguyễn Văn Ngọc và vườn nhà bà Nguyễn Thị Tuyết. Khi tôi đến mua chủ cũ của tôi là chị Nghiêm có chỉ ranh giới đất cho tôi nhưng ranh giới đó không chính xác, tôi cũng biết điều đó nhưng tôi nghĩ nó không bao nhiêu nên tôi không mời địa chính đo đạt lại đất làm gì. Nhưng từ khi tôi xây tường rào lên thì bên gia đình ông Ngọc không hài lòng, thường hay đến nhà tôi để gây chuyện gây phiền phức cho tôi (cho rằng tôi xây lấn đất của họ), tiếp đó là đến sáng ngày 26/6/2014 ông Ngọc đến nhà của tôi chửi là và cho rằng: “cái giếng đó là do Ông, Bà của ông để lại” và ông đã dỡ bỏ ống bơm nước của tôi vứt đi. Qua sự việc trên tôi đã báo cáo đến Ban thôn để xem xét giải quyết vì thế nên vào tối ngày 11/7/2014 Ban thôn có mời tôi đến nhà của ông Ngọc để đưa sự việc ra giải quyết, nhưng kết quả giải quyết tôi thấy không thỏa đáng với lý do: ông Ngọc và gia đình ông Ngọc vẫn cho rằng: “Cái Giếng đó là do ông bà ông để lại nên thuộc về của gia đình ông nên ông muốn cho sử dụng thì sử dụng hoặc không cho thì thôi và bảo lúc trước chị Nghiêm ở là do chị Nghiêm là cháu ông nên ông cho uống còn tôi là người dưng nên ông không cho uống làm gì được ông”,trong khi tôi biết cái giếng nước đó nằm hoàn toàn trong phần đất của tôi nhưng khi xây hàng rào tôi tránh cái giếng ra mà tôi xây vòng qua phần đât của tôi, chừa cái giếng lại cho nhà ông Ngọc bên cạnh. Vậy tôi xin hỏi tôi có thể lấy lại phần đất còn thiếu của tôi theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không?

Ông Ngọc nói" Đất của ông của bà ông để lại, lúc trước chị nghiêm chỉ đến đâu và tôi thỏa thuận mua thì bây giờ đất của tôi đến đó”( diện tích thực của tôi giờ chỉ có gần 700m2). Địa chính họ căn cứ theo giấy CNQSĐ hay theo lời nói của chủ cũ? Lúc tôi hỏi chị Nghiêm thì chị có nói" sổ đỏ bao nhiêu thì tôi lấy bấy nhiêu vì giờ chị đã chuyển cho tôi rồi nên chị ko còn trách nhiệm nữa". Hiện giờ tôi đã gửi đơn lên xã, sau khi thôn không chịu giải quyết cho tôi. Bước tiếp theo tôi phải làm gì?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời

1.Thứ nhất về vấn tôi xin hỏi tôi có thể lấy lại phần đất còn thiếu của tôi theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không ?

Căn cứ khoản 5 Điều 98 Luật Đất đai của Quốc hội, số 45/2013/QH13:

“5. Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này hoặc Giấy chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có.

Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn (nếu có) được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 99 của Luật này.”

Như vậy theo quy định của pháp luật thì bạn được xác nhận lại diện tích theo diện tích đất thực tế nêu trong trường hợp không có thay đổi so với ranh giới thửa đất. Còn nếu có sự thay đổi ranh giới thửa đấy tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì sẽ được cấp theo quy định của pháp luật. Cụ thể:

Căn cứ khoản 1 Điều 99 Luật đất đai năm 2013:

“Điều 99. Trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này;

b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;

c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;

d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;

đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;

e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;

h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;

k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.”

2. Thứ hai về vấn đề Địa chính họ căn cứ theo giấy CNQSĐ hay theo lời nói của chủ cũ?

Căn cứ Điều 25 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính:

“Điều 25. Tài liệu hồ sơ địa chính phải cập nhật, chỉnh lý biến động và căn cứ cập nhật, chỉnh lý

Các tài liệu hồ sơ địa chính phải cập nhật, chỉnh lý biến động và căn cứ cập nhật, chỉnh lý trong các trường hợp biến động được thực hiện theo quy định như sau:

STT

Trường hợp cập nhật, chỉnh lý

Tài liệu phải cập nhật, chỉnh lý

Căn cứ để cập nhật, chỉnh lý

10

Đính chính nội dung Giấy chứng nhận

- Sổ địa chính

- Giấy chứng nhận đã được đính chính;

- Biên bản kiểm tra xác định nội dung sai sót trên Giấy chứng nhận đã cấp

Như vậy khi đo đạc thì cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào giấy chứng nhận đã được đính chính và biên bản kiểm tra xác định nội dung sai sót trên giấy chứng nhận đã cấp.

3. Thứ ba về vấ đề Hiện giờ tôi đã gửi đơn lên xã, sau khi thôn không chịu giải quyết cho tôi. Bước tiếp theo tôi phải làm gì?

Căn cứ khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2014:

“Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;”

Như vậy bạn có thể khởi kiện ra tòa để giải quyết tranh chấp này.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất ? Xử lý tranh chấp quyền sở hữu nhà ở ?

5. Tranh chấp quyền sử dụng đất xử lý như thế nào ?

Xin chào Công ty Luật Minh khuê, sở hữu của tổ chức có phải là sở hữu chung hay không? Đối tượng và phương tiện trong tranh chấp quyền sử dụng đất? Trách nhiệm thuộc về ai?
Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, Gọi:1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất: sở hữu của tổ chức có phải là sở hữu của chung hay không ?

Điều 207 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về sở chung như sau:

1. Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản.

2. Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.

Tổ chức xã hội gồm: các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức tự quản, các hội tự quản. Mục đích thành lập không phải vì lợi nhuận mà vì lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng. Sở hữu của tổ chức là sở hữu của một pháp nhân.

Chính vì vậy mà sở hữu của tổ chức không phải sở hữu của tập thể.

Thứ hai: Đối tượng và phương tiện trong tranh chấp quyền sử dụng đất? Trách nhiệm thuộc về ai?

Tranh chấp quyền sử dụng đất là tranh chấp nhằm xác định ai là người có quyền sử dụng đất hợp pháp. Cho nên đối tượng của tranh chấp quyền sử dụng đất chính là quyền sử dụng đất hợp pháp.

Căn cứ Điều 203 Luật đất đai năm 2013Nghị định 43/2014/NĐ-CP nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

"1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Như vậy, nếu các bên tranh chấp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì trách nhiệm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đât thuộc về tòa án nhân dân, nếu các bên tranh chấp không có giấy chứng nhaanjq uyền sử dụng đất thì trách nhiệm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc về chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc tòa án nhân dân.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật đất đai - Luật MInh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại